14 May 2018

NGÀY 30 THÁNG TƯ TỪ ‘MỘT GÓC NHÌN KHÁC’ - Xuân Thọ


Chàng Việt cộng gốc Đức
Tôi tuổi Mão, nên chiều mồng hai tết Ất Mão đầu năm 1975, một bất ngờ lớn đã đến với tôi. Ông Huỳnh Văn Tiểng, phụ trách Truyền hình Việt Nam giao cho tôi đi Hải Phòng đón hai “đồng chí Tây Đức” và đoàn xe truyền hình lưu động.
Tổ chức cánh tả Tây Đức “Ủy ban sáng kiến ủng hộ ngành điện ảnh và truyền hình Việt Nam” (Initiativkommittee zur Unterstützung des Film-und Fernsehwesens der DR Vietnam) viết tắt là IK, cử hai sinh viên năm cuối ngành khoa học sân khấu điện ảnh, đại học Cologne, lênh đênh trên biển 6 tuần, áp tải 3 chiếc xe truyền hình lưu động sang tặng Truyền hình Việt Nam. Từ đó tôi kết bạn với họ và với nhiều thành viên IK khác.

Ở một xứ sở mà kết bạn với đồng chí Liên Xô còn gặp khó khăn thì chơi với bạn Tây Đức vô cùng nguy hiểm. Tôi đã khốn khổ một thời vì tình bạn này. Nhưng tôi không bao giờ bỏ bạn bè, và họ cũng chẳng bao giờ quên tôi.
Những gì xảy ra sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc đã làm thất vọng, thậm chí tạo lên những chấn thương tâm lý cho hầu hết các thành viên IK khiến không ai muốn nhắc đến quá khứ, đến các tư tưởng họ đã đi theo. Vì vậy tôi đã không viết về họ.

Đầu tháng Tư năm nay, Stephan Köster, một bạn cũ của IK đến thăm tôi ở Cologne. Vợ tôi đãi các món mà Stephan đã được thưởng thức cùng Xuân, vợ chưa cưới của anh tại Sài Gòn mùa hè 1975.
Rồi Stephan nói về những ngày cuối của cuộc chiến ở đó. Nhận định của anh ta nghe rất lạ tai, rất khác với những gì người Việt hay nói về ngày 30 tháng Tư.
Tại sao Stephan lại có mặt Sài Gòn vào thời điểm lịch sử này?
Sau khi nhận ba chiếc xe truyền hình lưu động do IK tặng, tôi được phân công giúp đoàn IK làm phim ở Việt Nam. Hôm 30/3/1975, một ngày sau khi Quân Giải phóng chiếm Đà Nẵng, tôi đưa phái đoàn IK đến phỏng vấn Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông Phạm Văn Đồng.
Sau màn chào hỏi xã giao và phỏng vấn, Chủ tịch IK xin gặp riêng ngài Thủ tướng. Hai người sang phòng bên cạnh nói với nhau bằng tiếng Pháp. Về sau anh bạn Chủ tịch IK kể cho tôi qua thư là trong khi bàn bạc, anh có hỏi ông Đồng: “Bao giờ các đồng chí sẽ lấy Sài Gòn?” Câu trả lời là ‘Cuối tháng 4/1975’, như anh nhớ lại.
Bên IK nói sẽ gửi một phóng viên vào Sài Gòn để làm phim về sự kiện này. Thủ tướng Phạm Văn Đồng cảm ơn và hứa sẽ báo cho các cơ quan hữu quan.
Ngày 31/3/1975, đoàn IK bay về Đức với rất nhiều tư liệu về Việt Nam mà lúc đó UPI, AFP, AP hay Reuters nằm mơ cũng không thể có.
Rồi IK tìm người đi Việt Nam và họ chọn Stephan Köster, chàng quay phim 27 tuổi. Lý do chính là Stephan sinh ra trong một gia đình ngoại giao lâu đời ở Đức, đã theo bố mẹ rong ruổi khắp thế giới. Anh thông thạo 6 ngoại ngữ và đã từng có những tiếp xúc với du kích Nam Mỹ khi còn ở Bolivia.
Ngày 26/4/1975, Stephan nói bố mẹ là đi Tây Ban Nha, nhưng đáp máy bay đi Bangkok.
Ngày 27/4, khi những chiếc máy bay đầy ắp người di tản khỏi Việt Nam đến Bangkok thì chỉ mình Stephan bay ngược về Sài Gòn. 

Vì lý do an toàn, Stephan không mang bất cứ một giấy tờ gì có thể lộ ra rằng anh là người của “Việt Cộng”. Trong va-li chỉ có máy quay phim, máy ảnh và cơ số phim đủ cho hai tháng.
Thế là Stephan bỗng trở thành nhân chứng lịch sử của một sự kiện mà anh tưởng rằng sẽ là ngày tận thế của chủ nghĩa đế quốc, bỗng yêu một người con gái Việt từ ‘phía bên kia của Cách mạng’…
Nhân chứng “ngày tận thế”
Stephan bị Sài Gòn quyến rũ ngay khi vừa đặt chân đến, dù trong buổi hoàng hôn của Việt Nam Cộng Hòa. 
Chiều ngày 27/4, thành phố vẫn yên tĩnh, bất chấp các tin chiến sự, tin thay đổi nội các, các lệnh giới nghiêm được Đài phát thanh liên tục phát đi. Cảnh sát vẫn điều hành các ngã tư, mọi mệnh lệnh từ trên xuống vẫn được thi hành.
Khách sạn Caravelle đề nghị người nước ngoài phải nộp ảnh để làm giấy tạm trú theo lệnh thiết quân luật. Trong tiệm chụp ảnh, Stephan bị thôi miên bởi ánh mắt của một cô gái đang nhìn mình. Xuân, cho đến lúc này vẫn còn là xướng ngôn viên đài truyền hình Sài Gòn của VNCH, đang chờ chụp ảnh để làm visa xuất ngoại. Bố mẹ Xuân đang chờ cô ngoài tàu sân bay. Vì vướng mấy chương trình lên sóng nên giờ cô mới lo đến việc xuất ngoại.
Xuân có cảm tình ngay với chàng trai Đức đang thì thầm với chủ tiệm bằng tiếng Pháp rất êm. Cô nghĩ đến chiếc xe VW của Đức vừa dễ thương vừa rất đáng tin cậy mà cô dùng lâu nay. Tình yêu sét đánh! Chiếc xe VW màu trắng bỗng trở thành phương tiện vận chuyển của Stephan trong hơn hai tháng sau đó, với Xuân trong vai tài xế, phiên dịch và trợ lý đạo diễn. 
Xuân tìm thấy ở Stephan chàng hiệp sỹ của đời mình và cô sao nhãng những cố gắng xuất cảnh, yên tâm phụ giúp chàng trong mọi hoạt động. Lúc đầu, Stephan không biết Xuân là người của đài Truyền hình Sài Gòn, còn Xuân chỉ biết anh là phóng viên Tây Đức chứ đâu ngờ là anh làm việc cho những người cộng sản đang bao vây thành phố.
Trong phim, Stephan nhận mình là người cộng sản, nhưng trong thực tế các thành viên IK không chấp nhận đảng Cộng sản Đức (DKP). Mặc dù cùng chia sẻ với nhau các quan điểm thiên tả: chống chiến tranh Việt Nam, chống lại trật tự kinh tế TBCN… nhưng IK rất ghét mối liên hệ chặt chẽ giữa DKP với nước CHDC Đức. 
Đối với trí thức thiên tả, nhà nước XHCN ở miền Đông là biểu tượng của nền chuyên chế, độc tài. Stephan thấy những chàng trai, cô gái Việt Cộng đội mũ tai bèo, quấn khăn rằn, cầm AK47 mới là đại diện cho cuộc chiến tranh giải phóng, vì tự do, chống lại chuyên chế.
Ngày 28/4, số ít ỏi phóng viên nước ngoài còn ở khách sạn Caravelle quyết định chuyển sang khách sạn Continental, nơi có đông người phương tây hơn, để tạo thành một căn cứ nhỏ bảo vệ lẫn nhau. 
Buổi tối, Xuân và Stephan không dám ngủ trong phòng khách, mà thường chui vào phòng tắm không có cửa sổ để tránh đạn lạc. Khách sạn Continental dùng lưới thép bọc toàn bộ các cửa sổ và chặn cửa ra vào bằng hàng rào thép để tránh bị tấn công.
Tại đây Stephan gặp các phóng viên Đức đang ở lại Sài Gòn, đó là Börries Gallasch, phóng viên tạp chí Tấm gương (Der Spiegel), phóng viên nước ngoài duy nhất chứng kiến việc tướng Dương Văn Minh đọc lệnh ngừng bắn tại Đài phát thanh Sài Gòn trưa 30/4/1975; Dieter Mummende, phóng viên ảnh của nhật báo Thế giới (Die Welt) người cùng đi với Stephan ra xa lộ Biên hòa để quay phim các phòng tuyến chống cự của quân lực VNCH. Nhưng trên đường ra, cả hai chỉ chứng kiến các đoàn xe chở bộ đội Bắc Việt tiến vào thành phố; và Tiziano Terzani, phóng viên thường trú báo Tấm Gương (Spiegel) là người đã quay những thước phim về chiếc xe tăng T54 húc đổ cánh cổng Dinh Độc lập.
Tất cả họ, không ai biết Stephan đang làm việc cho “Việt Cộng”, kể cả “Việt Cộng”. Có lẽ vì mê cuộc chiến tranh giải phóng của “Việt Cộng”, vì yêu một người con gái của phía bên kia và luôn có nàng bên mình như một tấm bùa hộ mệnh mà Stephan cảm thấy vững tin trong tác nghiệp, không hề cảm thấy sợ hãi khi tiếp xúc với binh lính từ cả hai bên.
Hoàng hôn của chiến tranh
Người phương Tây còn kẹt lại tại Sài Gòn biết dân chúng rất ghét người Mỹ, đã bỏ rơi họ, đẩy họ vào tình thế này. Ai cũng lo một vụ tàn sát người Mỹ có thể xảy ra. Quảng trường trước mặt khách sạn Continental luôn xuất hiện các toán binh sỹ VNCH mệt mỏi rã rời, nét mặt vô vọng, nhưng trang bị đến tận răng, tiểu liên cầm tay, lựu đạn quanh hông.
Đám phóng viên ngoại quốc nấp ở bên trong hàng rào thép nhìn ra sợ hãi, chỉ sợ đám lính vô kỷ luật, không còn gì để mất kia dùng súng chống tăng phá hàng rào thép để vào khách sạn trả thù. 
Ngày 29/4, khi trực thăng còn quần đảo trên bầu trời, có một thanh niên Mỹ không biết say rượu hay hoảng loạn, cứ cởi áo, đứng múa may quay cuồng trước nhà thờ Đức Bà. Stephan sợ cậu ta sẽ bị người Việt xúm lại tùng xẻo. Tất cả những nỗi hãi hùng đó đều không xảy ra.
Từ tối 29/4 và sáng 30/4, trước khi xe tăng của Bộ đội chủ lực tràn vào Sài Gòn, Stephan đã nhìn thấy Biệt động nội thành của Việt Cộng xuất hiện vài nơi. Trên trời trực thăng vẫn tiếp tục di tản người ra khỏi thành phố, nhưng các “Việt cộng” này chỉ ngước nhìn lên, không hề nghĩ đến chuyện bắn hạ, dù việc đó dễ như trở bàn tay. 
Binh lính Cộng hòa rất oán ghét các tướng lĩnh vô trách nhiệm, bỏ mặc họ cho số phận để leo lên trực thăng tháo chạy. Súng trong tay nhưng họ chỉ nhìn theo máy bay chửi đổng. Không ai còn thích đổ máu nữa!
Kể đến đây, Stephan trầm ngâm:
“Từ khi bước chân đến Việt nam, tớ đã cảm thấy một dân tộc khao khát hòa bình. Cuộc chiến tranh tàn bạo nhất thế kỷ 20 kết thúc êm như một điều thần kỳ chính vì ý nguyện của tất cả những người trong cuộc. Cả một dân tộc đã nhận ra rằng đến lúc phải thôi bắn giết!
“Điều thần kỳ này không phải do đám chính trị làm nên, không hề vì thắng lợi của cách mạng, chẳng phải vì bọn cường quốc đánh cờ trên lưng Việt Nam, chẳng phải vì ai bán đứng ai cả. Hãy nhìn về nước Đức. Chiến tranh được kết thúc bởi sự đầu hàng của một bên, bằng sự căm thù của bên kia, bằng hiệp định của tứ cường đã bi thảm ra sao? Chắc cậu còn nhớ đến nạn hãm hiếp hàng trăm ngàn phụ nữ Đức, đến những cuộc hành quyết lính Đức đào ngũ do SS thực hiện sau ngày 8/5 chứ?”
Đây quả là một cách nhìn mới về ngày 30 tháng Tư mà tôi chưa được nghe từ người Việt Nam nào. Tôi hỏi:
“Cậu nghĩ sao về ý nguyện của dân tộc này, khi chính cậu, chỉ vài tháng sau đó đã bất hạnh về những đau khổ mà người Việt phải chịu đựng, về những cơ hội bị bỏ lỡ?”
“Đó chính là bi kịch của mỗi dân tộc. Người ta có thể tạo ra cái kết đẹp của một cuộc chiến để rồi lao vào một khởi đầu xấu cho nền hòa bình. Cũng như trong đời người, hai chúng tớ đã vượt qua tất cả mọi rào cản để có một mối tình đẹp như mơ, nhưng lại không biết giữ nó, để tuột khỏi tay!”
Mối tình buổi bình minh
Stephan coi Xuân là tình yêu buổi bình minh của anh. Hai người thuê một căn hộ trong phố để ấp ủ tương lai. Xuân luôn ở bên anh trong mọi hoạt động và họ chẳng còn giấu nhau điều gì nữa. Stephan biết Xuân từng là gương mặt của cỗ máy tuyên truyền bên kia, có họ với hoàng đế Bảo Đại, sống trong nhung lụa. 
Stephan gọi Xuân là “cô bé mơ mộng” và lúc nào cũng nâng niu cô như một bông hồng, chỉ sợ nó rụng cánh. Trả lời câu hỏi của Xuân: “Anh là cộng sản à?”, Stephan nói: “Đúng vậy, nhưng chỉ khi nào cách mạng Việt Nam thành công trọn vẹn!”
Sau khi tình hình tạm ổn định, Stephan đến thăm đài “Truyền hình Sài Gòn giải phóng” ở đường Hồng Thập Tự. Giám đốc đài là thủ trưởng cũ của tôi, ông Huỳnh Văn Tiểng từ Hà Nội vào. Ông được thông báo về ý đồ của IK nên biết là sẽ có phóng viên Đức vào Sài Gòn trước 30.4, nhưng chưa rõ là ai. Nay nghe Stephan tự giới thiệu “Tôi là người của IK cử sang để sát cánh cùng các bạn”, ông mừng lắm. Stephan nộp cho ông các vũ khí mà anh nhặt được để tự phòng thân trong mấy ngày qua và khuyên ông cử người đến khách sạn thu gom những thiết bị điện ảnh bị các phóng viên phương Tây bỏ lại.
Từ giờ phút này, chính quyền biết Stephan là ai. Ông “Tây phe ta” được tiếp xúc với đại diện của “Lực lượng thứ ba”: Luật sư Ngô Bá Thành, Bác sỹ Dương Quỳnh Hoa, Ni sư Huỳnh Liên và các thủ lĩnh sinh viên nội thành khác. Đối với anh, đó là những “Việt Cộng”, ai cũng trí thức, cũng đáng yêu, rất con người. Xuân cảm thấy gần gũi họ hơn, đem chuyện cưới xin ra hỏi bà Ngô Bá Thành. Stephan hạnh phúc ngây ngất và cả hai quyết định cưới.
Chính quyền quân quản không ngăn cản, cũng không đồng ý, chỉ nói chờ đã. Xuân rất khó chịu. Nhưng Stephan nói là cách mạng mới thành công, còn trăm công nghìn việc hãy thong thả chờ. Xuân biết ngày về Đức của Stephan không xa nữa, chỉ có giấy kết hôn mới đưa cô ra khỏi xứ này… Họ hờn rỗi nhau, rồi làm lành, lại cưng nhau.
Giấc mơ của Stephan về một nước Việt Nam hòa bình, tự do, bác ái bắt đầu rạn nứt: Chỉ qua đêm hàng loạt loa phóng thanh được lắp ngoài đường chĩa vào nhà làm anh khó chịu. Các em bé ăn mặc chỉnh tề thắt khăn quàng đỏ diễu hành ngoài đường làm anh nhớ đến chế độ Đông Đức. Rừng cờ đỏ ngợp trời ngày đầu làm anh hứng khởi, nay được thay thế bằng các khẩu hiệu đủ kiểu khiến anh liên tưởng đến chủ nghĩa Mao… Anh tự bào chữa: đó chỉ là sự ấu trĩ của những cán bộ ít học. Các trí thức mà anh quen biết rồi sẽ giúp cho họ hiểu, thế nào là văn hóa, là cách mạng.
Nhưng rồi anh thấy những “Việt Cộng” dễ thương cứ vắng dần đi, thay vào đó là các cán bộ lạnh lùng ngoài Bắc vào, nói chuyện gì cũng phải qua Xuân phiên dịch… Phim của anh gửi về Đức cho IK ngày càng “kém chất lượng”, vì nó không toát lên được khí thế cách mạng mà các đồng chí bên đó mong đợi. Các câu hỏi anh đặt ra trong phim ngày càng khó chịu. IK liên tục gửi điện, giục anh phải về ngay Đức để làm bản “Báo cáo thành tích”.
Chính quyền bắt đầu đưa dần số phóng viên ngoại quốc ra khỏi Việt Nam. Vài ngày một lần, lại có một thông báo ai phải ra đi, dán trước cửa khách sạn.
Stephan nghĩ rằng, mình không nằm trong diện đó. Anh là đồng chí của họ cơ mà? Anh muốn ở lại vĩnh viễn với Xuân. Cơ số phim IK cấp cho, anh đã quay hết, đã gửi về đủ, coi như xong nhiệm vụ.
Đời đâu có đơn giản thế. Cuối cùng Stephan được chính quyền vui vẻ thông báo là anh sẽ phải rời khỏi Việt Nam. Mình không còn có ích cho họ nữa – Stephan nghĩ bụng – “Thế còn vợ tôi?”, anh hỏi.
“Chúng tôi sẽ giải quyết sau một năm!,” họ trả lời. Nghe vậy, Xuân la khóc: “Sao anh có thể tin người cộng sản?”
“Em chẳng đã từng bảo anh cũng là cộng sản sao? Hãy tin anh. Giờ anh đành phải về. Nhưng anh sẽ đưa em ra khỏi đây,” Stephan đáp.
Ngày 01/7/1975, 65 ngày sau khi đến Việt Nam, Stephan cùng một số nhân viên cứu trợ Liên Hiệp Quốc bước lên chuyến máy bay đi Vientian. Họ là những người ngoại quốc cuối cùng đã vào đây bằng thị thực của Việt Nam Cộng Hòa, nay phải rời Việt Nam. Xuân đứng như trời trồng ở sân bay nhìn theo chiếc phi cơ mất hút trên bầu trời.
Về đến nhà, Stephan bỏ mặc những bất đồng với ban lãnh đạo IK, với các bạn anh. Anh cũng chẳng quan tâm đến bản “Báo cáo thành tích” nữa. Anh chỉ lo chạy để đưa Xuân sang. Tòa đại sứ của VNCH khi xưa, nay đã cắm cờ đỏ sao vàng.
“Đồng chí cameraman, đồng chí thông cảm, chúng tôi mới ra khỏi chiến tranh, còn nhiều việc quan trọng hơn phải làm…”, nhân viên sứ quán nhiều lần lễ phép nói vậy.
Những bức điện tín của Xuân từ Sài Gòn gửi sang, càng ngày càng vô vọng… Đùng một cái, đầu tháng 5/1976, qua một người quen, Stephan biết Xuân đã sang đến Paris. Nhưng tại sao Xuân không báo cho Stephan?
Giấc mộng ‘đẹp’ và cái kết
Chuyện riêng tư của bạn tôi, tôi sẽ không bộc bạch! Chỉ biết là người Việt Nam đã giữ lời hứa. Rồi IK trải qua những năm tháng vật vã trong quan hệ với Việt Nam. Những tin xấu: Trại cải tạo, đánh tư sản, đốt sách vở, thuyền nhân chết trên biển… làm cho tất cả họ sụp đổ.
Đầu 1982, sau khi đã hồi phục tinh thần, Stephan sang Paris thăm Xuân. Cuộc gặp gỡ cảm động đó đã bình thường hóa quan hệ của cặp vợ chồng chưa cưới ngày nào về cấp bạn bè.
Trở về Đức, anh làm bộ phim tư liêu 60 phút “Bản báo cáo thành tích” (Erfolgsbericht) để tặng người tình cũ và giãi bày lòng mình. Phim phát trên ZDF và được giải đặc biệt của liên hoan phim Berlinale 1983 về thể loại phim “Sân khấu TV nhỏ”, được coi là tạo bước ngoặt về kịch bản với các yếu tố tự sự, thơ và kể chuyện kết hợp trong mối tình có một không hai.
Năm 2006, Stephan tặng tôi cuốn phim, tôi giữ kín. Nay anh nói tôi hãy dịch ra tiếng Việt và phổ biến cho đồng bào mình xem. 
Stephan buồn bã: “Tình yêu bình minh của chúng tớ cũng ngắn ngủi như giấc mộng đẹp về cuộc cách mạng ở Việt Nam!”
Bài viết trong loạt bài đánh dấu 43 năm sự kiện 30 tháng Tư kết thúc Chiến tranh Việt Nam, bài thể hiện quan điểm riêng của tác giả, một tu nghiệp sinh tại CHDC Đức từ năm 1967 – 1971 và cựu kỹ sư tại Đài truyền hình Việt Nam (VTV), hiện đang sinh sống tại Cologne, CHLB Đức.

Xuân Thọ