Ai, ba mươi năm trước đây, nếu từng đi vào con đường nhỏ từ
Girkalnis đến Simkaiciai, chắc hẳn sẽ còn nhớ một cây thánh giá gần rìa làng
Pakalniskiai, chỗ triền dốc của ngọn đồi có một cái lâu đài, nơi mà con đường
quẹo vào một cánh đồng cỏ ướt. Cây thánh giá nầy đặc biệt, khác với tất cả những
cây thánh giá khác rải rác khắp các nẻo đường vùng này. Thánh giá làm bằng hai
khúc cây sồi dầy, chắc chắn, đen bóng theo thời gian, nắng mưa gió bão để lại
chi chít vết rạn nứt cùng những đám rêu móc xám đậm đóng trên nhiều chỗ. Đầu và
hai tay thánh giá tận cùng bằng những nắm tròn thật to, đã bị thời gian bào
mòn. Đây là những thứ có lẽ mới được thêm vô sau này vì làm bằng loại cây tạp.
Chắc một nghệ nhân nào đó muốn thánh giá đẹp hơn nên đã dùng tài nghệ mình đẽo
gắn thêm vào.
Ta có thể đi qua ngang qua chính thánh giá này mà không chú
ý vì thánh giá tương tợ quá nhiều, rải rác trên khắp ngả đường của Lithuania.
Nhưng chính nét mặt của Đức Chúa mới gợi sự chú ý của chúng ta. Khó ai có thể
đi qua đó mà không ngừng lại hay không quay đầu ngoái lại nhìn nhiều lần. Tượng
Chúa rất đặc biệt, cho đến bây giờ tôi vẫn không hiểu nỗi tại sao tượng nầy lại
không nổi tiếng trên hoàn vũ, trừ phi thượng đế, bằng chính sự khiêm cung của
mình, muốn như vậy. Thân hình tượng bằng cỡ với người bình thường, được khắc từ
một khúc cây nguyên khối. Ngay cả hai cánh tay nữa, cũng không phải được khắc rời
rồi thêm vào. Tứ chi đã bị gió bào mòn, run rẩy trong sự mệt lã. Cái đầu hơi chồm
tới phía trước và nghẻo về một bên, chìm đắm trong những ý nghĩ lo âu và đau đớn…
và có thể luôn cả những lo âu của ngày mai ngày mốt nữa. Cái vương miện bằng
cây gai thường thấy trên đầu chúa đã mất. Cái mái che thường thường bảo vệ ngài
khỏi bị mưa, tuyết cũng không còn. Chỉ có, do ai đó đặt trên cái đầu bi thảm
này một vòng hoa tập tàng như hoa bắp, hoa chuông xanh, hoa vàng mao lương,
cùng những thứ hoa dại khác. Chuyện này một đứa trẻ cao cao cũng có thể làm được
vì thánh giá rất thấp, những ngón chân của bức tượng gần chạm mặt đất. Hình như
chân thánh giá đã bị hư hoại nhiều phen, mỗi khi được thay, lại ngắn hơn lần
trước. Nếu vậy thì nó phải cũ lắm bởi vì loại cây sồi rất lâu mục. Nhưng tại
sao thời gian lại không bào mòn nét sinh khí trên mặt bức tượng? Người ta thường
đứng chờ đôi mí bức tượng bi thảm nầy thình lình mở ra, mắt sẽ nhìn thẳng vào
anh, đôi môi sẽ hé mở, anh sẽ nghe tiếng nói mà cả thế giới từ lâu đợi chờ, những
tiếng nói mà các nhà thần học và thi sĩ hằng tìm tòi bằng muôn ngàn sách vở.
Nhưng những lời ấy đến với anh, tự nhiên như bông hoa nở mỗi mùa.
“Tôi biết, cậu đang cầu nguyện. Hay là…. chỉ ngắm nhìn mà
thôi?” tiếng một bà lão kéo tôi ra khỏi giấc trầm tưởng. Tôi nhìn lại. Nãy giờ
bị cuốn hút vào bức tượng, tôi không để ý bà ta lụm cụm đến đây lúc nào. Đó là
một bà lão quá già, lưng còng theo năm tháng, gương mặt chằng chịt nét nhăn
nheo nhưng đôi mắt thì sinh động và trẻ trung. Thời gian với những ngón tay thần
sầu đã không chạm được đôi mắt đó, giống như là đã không thể chạm được gương mặt
của Đức Chúa trên cây thánh giá kia. Một tay bà ôm rổ đầy lá củ cải đường, tay
kia cầm vài củ cà rốt mới nhổ.
“Đẹp quá,” tôi nói, mắt hướng về Đức Chúa.
“Vâng, đẹp thật — và rất quý giá. Nhưng sẽ không ở đây lâu
đâu.” người đàn bà thở dài, dùng bàn tay quẹt ngang mày.
“Tại sao vậy? Coi còn có thể đứng đây lâu lắm mà.”
“Có thể đứng, nhưng không đứng. Chỉ trong vòng một hai năm
thôi. Ông coi, chân bức tượng gần chạm mặt đất rồi kìa. Khi chân đã chạm rồi
thì Đức Chúa sẽ vác thánh giá đi chỗ khác. Một sáng nào đó chúng ta thức giấc sẽ
không thấy người ở đây nữa.”
Tôi muốn cãi lại, nhưng biết rằng không nên trực tiếp nói
ngược lại những niềm tin ở địa phương. Tôi làm thinh một chập, mắt vẫn ngắm
nhìn gương mặt Chúa và đặc biệt là đôi môi của người, lúc này đây hình như đang
mấp máy muốn nói. Tôi phát biểu: “Một công trình tuyệt mỹ, vô cùng tuyệt mỹ. Ai
khắc vậy? Nếu ông ta còn sống, tôi rất hân hạnh được gặp một điêu khắc gia kỳ
tài như vậy.”
“Thưa ông, không ai khắc được thánh giá này. Tôi sống từ nhỏ
tới giờ ở đây, thấy thánh giá không thay đổi chút nào. Không khác một chút xíu
nào. Khi tôi chỉ cao bằng này,” bà ra dấu bằng tay một khoảng cách với mặt đất,
“tôi đã kết những vòng hoa cho Ngài. Chỉ có điều là lúc đó tôi không thể choàng
lên được. Vói không tới. Ngay cả người lớn cũng vói không tới. Họ phải tìm cái
gì đó để đứng lên. Và khi muốn hôn chân Ngài, tôi phải nhờ ai đó ẳm lên, nhưng
bây giờ thì ngay cả một đứa trẻ nhỏ nhất cũng có thể vói tới dễ dàng. Mắt tội lỗi
của người đời không thể nhận ra… nhưng thánh giá càng ngày càng lún sâu xuống….”
“Có thể có luồng nước ngầm ở dưới đó,” tôi bắt đầu giải
thích, “thanh niên, đàn ông ở đây phải phụ nhau dời đi chỗ khác mới phải.”
Trong thâm tâm tôi nghĩ vật quý giá như vậy phải được đặt trong lồng kính ở bảo
tàng viện, nhưng tôi không nói như thế, sợ rằng chống lại bà ta, khiến cho bà sẽ
làm thinh không nói thêm. Ngay cả ý kiến dời đi của tôi cũng làm cho bà lắc đầu.
“Ông ơi, đã không ai tạo nên thì cũng không ai di chuyển
đi!” bà phát ngôn một cách chắc nịch.
“Không ai tạo nên!” Tôi ngạc nhiên.
“Dĩ nhiên là không. Ngài tự mình đến đây và chọn nơi này; chỉ
là do chúng ta, cứ chất chồng tất cả các chuyện lộn xộn, lo lắng, và những hành
vi quỷ quái của chúng ta lên đầu Ngài cho nên Ngài mới lún dần lún dần…”
Bà ngừng nói. Tôi cũng thế. Cả hai chúng tôi nhìn thẳng vào
cây thánh giá. Bà chầm chậm ngồi xuống đám cỏ xanh dầy bên vệ đường. Tôi cũng
ngồi xuống, kế bên bà, vẫn miên man nghĩ rằng thánh giá này cần được đem đặt
vào viện bảo tàng. Nhưng tôi vẫn không nói gì. Bà bứt một ngọn cỏ mần-trầu quấn
trong mấy ngón tay làm như mang nhẫn. Trên tay bà không có một cái nhẫn nào
khác. Có thể bà chưa bao giờ lấy chồng hay là có thể bà ta đã cởi nhẫn ra, chùi
bóng lại để vào trong hộp đồ vật sẽ được chôn theo khi bà qua đời.
“Tôi biết người trẻ và có học vấn khó hiểu được chuyện như vậy”,
bà nói sau một lúc trầm ngâm, “họ phải kiểm chứng tất cả mọi việc, rồi tái-kiểm-chứng
rồi phải được viết xuống trước nữa. Nhất là được viết trong sách vở. Tôi cũng
đã từng đọc sách, và nhờ ơn Chúa, cho tới giờ đây tôi vẫn còn đọc sách được.
Chúa cho tôi đôi mắt tốt. Tôi cũng đọc báo nữa. Càng đọc, càng thấy rằng chuyện
trên đời này không thể nào viết hết tất cả vào trong sách vở! Lấy cái chuyện
cây thánh giá của chúng tôi đây làm thí dụ. Không ai đem vào sách vở cả. Ai có
thể đếm được hết những gì đã chất chồng lên vai và lên tim người!”
Rồi bà ngừng lại nữa. Bà đã cởi mấy cái nhẫn cỏ ra, bây giờ
bà đang nhai nó. Thình lình bà mỉm cười.
“Răng cỏ tôi vẫn còn gần đủ hết. Chúa đã rất thương mến tôi.
Tôi đã có một đời sống đẹp đẽ, thoải mái. Thỉnh thoảng tôi vẫn tự nhủ thầm:
“Mary ơi, đời sống mầy như thế nầy đáng lẽ mầy phải làm cho Người nhiều vương
miện hơn nữa! Chắc là ông đã từng đọc sách về những năm kinh hoàng của bịnh dịch?”
bà ta thình lình chuyển hướng câu chuyện. “Bây giờ thì không ai nói tới chuyện ấy
nữa, nhưng khi tôi còn nhỏ thì đó là câu chuyện trên cửa miệng mọi người. Dầu
không sống trong thời gian bịnh dịch, họ vẫn nhớ qua lời kể của cha mẹ, ông bà.
Người thì nói khi một trận gió thổi qua, tất cả mọi người đều ngã rạp xuống,
ngã luôn không đứng dậy. Kẻ thì bảo có người kỵ mã áo đen cởi ngựa chạy như bay
trong đêm, qua đến vùng nào, sáng hôm sau phân nửa nhân số ở đó không còn thức
dậy được. Sáng hôm sau nữa thì phân nửa số còn lại cũng nằm luôn. Chỉ có người
may mắn đêm đó không ở đó hay những người đang quỳ dưới thánh giá cầu nguyện
lúc người kỵ mã đi qua mới không bị nguy hiểm thôi. Nhưng không chết thì họ phải
lo việc tống táng người chết, săn sóc người bệnh và coi chừng gia súc trong
làng.
Thời đó làng tôi rộng hơn bây giờ nhiều. Họ nói rằng trời
mưa cả ngày không dứt. Khi hơi quang tạnh thì ở phía tây, đằng dưới đồi, một
đàn quạ đen kéo đến đậu phủ kín cây cối và rợp nóc mọi nhà. Chó rên ư ử ở chỗ
ngạch cửa, xin được vào trong. Ngay cả đàn ông cũng rùng mình vì tiếng quạ kêu
đinh tai nhức óc. Trời tối sớm hôm hơn thường nhựt. Sáng sớm hôm sau, đàn quạ
đã đi mất tiêu nhưng con người ở đây thì bắt đầu rơi rụng như lá úa mùa thu. Chỉ
có ông Darvyda Ignaca là không hề gì thôi. Chả là ngày hôm trước ông ta đi ra
vùng kế cận lo chuyện ép hột gai lấy dầu ăn.
Sáng sớm hôm sau, trở về, ông thấy cả gia đình mình bị bịnh
dịch. Cả những người chòm xóm chung quanh nữa. Một vài người còn có thể cựa quậy
được ngày hôm đó. Nhưng tới ngày thứ ba thì chỉ còn lại trơ trụi mình ông. Họ nói
nhờ ông rất mạnh khỏe. Kiểu khỏe mạnh nầy ngày nay không còn nữa bởi vì con người
ta sống dễ dàng quá. Ngày xưa thì không vậy, ai ai cũng phải làm việc cật lực
nên mình mẩy cứng như sắt và khỏe như trâu, gió mưa coi như không. Ignaca cũng
vậy. Ban ngày ông ta đi từ nông trại nầy qua nông trại khác. Săn sóc trâu bò.
Giúp đở người bịnh. Đem chôn người chết. Ông có thấy cái gò đất gần trung tâm
làng đấy chăng? Trong cát chỗ đó, ông Ignaca đào lỗ, xếp người chết vô như là xếp
củi. Xếp ban ngày, chiều lấp chôn không thôi ban đêm chó đào bươi lên.
Một ngày nọ, sau khi chôn tất cả người chết trong ngày, ông
ta lấy làm ngạc nhiên khi thấy từ phía cánh đồng xa tiến đến một người vác trên
vai một cây thánh giá thật to. Ignaca mặc dầu quá mệt mỏi rồi nhưng cũng ra hỏi
người ấy có cần giúp đỡ gì không. Ông tưởng chắc đây là một người muốn trồng
cây thánh giá chỗ mình nằm sau khi chết. Nhưng mặc dầu trông rất là quen thuộc,
người kia lại hoàn toàn xa lạ, không phải dân trong làng. Ignaca đề nghị vác
giùm cây thánh giá để trong sân nhà mình. Ông nói: “Tôi sẽ nặn sữa bò, lấy gì
đó cho bác ăn, rồi thắng ngựa vô xe. Bác không thể vác thánh giá nặng như thế nầy
một mình được. Ignaca để dựa thánh giá vô vách chỗ hông nhà (nơi bà nội ông thường
chỉ chỗ vách tường trầy trụa ở gần cuối nhà), và để người kia ngồi kế bên nhà,
lo chạy đi vắt sữa bò. Lúc sau, khi mời bánh mì và sữa tươi cho người nầy, ông
ta hỏi, “Bác vác thánh giá nầy từ đâu tới vậy?” “Từ rất xa, có thể nói là từ
phía đầu kia của trái đất,” người lạ mỉm cười. “Và bác vác một mình như thế à?
Người ta chết nhiều quá nên không ai giúp bác hết phải không?” “Không phải vậy,
chỉ vì họ còn có quá nhiều chuyện để làm mà thôi.” “Tôi có thể giúp bác,
“Ignaca thành thật đề nghị, “nhưng mà không biết ai lo cho người bệnh và chôn cất
người chết đây? Và cả gia súc cũng cần phải được chăm lo nữa. Tôi muốn nói là
không thể cứ thả chúng chạy rong ra đồng được. Nếu đường không xa thì tôi có thể
vác cho đến chập tối. Nếu đường xa thì tôi sẽ bắt kế ngựa. Bác sẽ trả xe lại
sau. Bác không thể vác nặng như thế một mình được.” Người kia mỉm cười lần nữa.
“Bây giờ thì không xa nữa,” ông vừa nói vừa rời ghế đứng dậy định vác thánh
giá. Ông vừa yếu đuối vừa mệt mỏi đến nỗi Ignaca nhỏm dậy kêu lên: “Chờ đã, tôi
không thể để bác vác một mình được. Bác khiêng đằng chân đi, tôi sẽ khiêng hai
tay thánh giá!”
Ignaca nắm vô tay thánh giá, đặt lên lưng mình, cảm thấy
chân mình như lún xuống cát, vai mình quằn xuống như mang vật nặng ngàn cân.
Nhưng ông nghiến chặt răng, bước đi, dầu run rẩy, dầu chập choạng. “Xin Thượng
Đế giúp con, “ông thều thào trong miệng. “Cố gắng đừng ngã, cố đừng chết. Chết
thì ai lo việc ngày mai đây?” Họ hì hục đi ra đường rồi đi ra khỏi làng. Người
lạ kia nói, “Được rồi, để tôi ở đây.” “Bộ bác muốn mang một mình à?” Ignaca hỏi
qua bả vai mình. “Ta cứ đặt xuống đây đi. Tôi không muốn mang đi xa hơn. Đây là
một chỗ tốt,” người lạ mặt lại cười lần nữa. “Nếu bác muốn đặt thánh giá ở đây
phải chi bác nói trước để tôi mang theo một cái xuổng. Mình không thể dựng lên
bằng tay không được.” “Đừng lo. Về đi. Anh cần nghỉ ngơi nữa mà.” “Mình sẽ đi về
cùng. Nếu bác không thích nằm giường thì cũng có rơm trong trại. Tôi sẽ đưa cho
bác thật nhiều mền,” ông ta nói. Nhưng người kia đã ngồi lên trên cây thánh
giá. Đưa tay chống cằm, ngước mắt về phía Ignaca. “Cám ơn lòng từ tâm của anh,”
ông nói, “nhưng tôi sẽ nghỉ ở đây. Người của Thượng Đế đặt đầu thì nơi đâu lại
chẳng được? Và cũng cám ơn anh đã đỡ vớt gánh nặng cho tôi. Về đi. Ở nhà, người
bệnh, người chết, và gia súc đang đợi chờ anh đó. Tôi muốn ngồi đây một chút,
yên lặng suy nghĩ.” Ignaca quay lưng dợm đi, rồi ngó ngoái lại nhìn người kia đắm
chìm trong mộng mơ. Sau cùng ông ta nói “Bác phải là người quanh quất đâu đây.
Tôi chắc chắn rằng tôi đã từng gặp bác ở đâu đó rồi.” Người kia ngước mắt lên lần
nữa, nhìn Ignaca rồi lại cười. “Có thể tôi không đến từ xa, có thể đến từ gần
hơn nữa. Nhưng mà bây giờ trời tối quá rồi. Mai đến đây, mình sẽ nói chuyện
thêm. Tôi sẽ đợi ở đây.”
Ignaca muốn nói điều gì hơn nữa nhưng không thể tìm ra lời
nên chỉ nhún nhẹ vai, đi về. Rồi thì ông bắt đầu cảm thấy mệt mỏi ghê gớm. Như
mỗi bước chân là mỗi bước sau cùng của đời mình. “Có thể là cái bệnh dịch đó thấm
vô mình mình rồi,” ông ta nghĩ thầm. “Nếu mình ngã xuống, sẽ không còn ai để
đào lỗ chôn mình.” Nghĩ như vậy, ông lê bước đi về nhà, ngã bịch xuống ghế dài,
chỉ thức dậy lúc sáng hôm sau. Ông ta thức dậy, ngạc nhiên quá đỗi: trong nhà,
tất cả mọi người đều đã lành bệnh. Tất cả dân làng nữa, đều đã lành. Người chết
rồi thì thôi, nhưng ai chưa chết thì đứng dậy đi đứng như chưa từng bệnh hoạn.
Họ đi quanh trong nhà, săn sóc súc vật, chôn cất và khóc thương cho người chết.
Họ vui mừng vì bệnh dịch đã bỏ đi nhanh chóng cũng như khi nó đến làng. Ignaca
chạy đi giúp đỡ dân chúng trong làng, nói cho họ biết chỗ nào người nào đã được
chôn cất. Chỉ cho đến khi nửa trưa Ignaca mới nhớ trực lại người đàn ông lạ
lùng kia. Nếu ông ta đợi như đã nói thì chắc là đói lắm. Ignaca đổ đầy một bình
sữa, lấy ổ bánh mì lớn, trèo lên gác thượng cắt một miếng thịt ba rọi, chạy vội
vàng ra chỗ đó. Trước mặt ông ta sừng sững một thánh giá to lớn. Dựng đứng,
trông nó lớn hơn cái ông ta khiêng hồi hôm nhiều. Hổ thẹn dấy lên ngập lòng
Ignaca. Rõ ràng là người kia đã chờ, chờ mãi, cho đến khi tìm được cái xẻng để
dựng cây thánh giá lên, dựng một mình, rồi bỏ đi bởi vì không một ai chung
quanh. Khi dòm quanh quất trên đồng, hy vọng thấy được người lạ kia, Ignaca tiến
gần đến cây thánh giá, ngước mắt lên nhìn và rợn người: trên cây thánh giá,
chính cái người mà ngày hôm qua ông bỏ đi về vì nghe nói rằng cần được ngồi yên
lặng để suy nghĩ, đang ngó ông. Ignaca buông rơi bình sữa, ổ bánh mì rời khỏi
tay; ông giở mũ ra, không để ý rằng hai đầu gối mình cong xuống. “Thượng Đế ôi,
chính đó là đức Chúa Jesus!” ông thì thầm. “Hôm qua Chúa đến với con. Ăn uống.
Chuyện vãn. Con đã không nhận ra Chúa. Xin Chúa tha lỗi cho con.” “Hãy đứng dậy,”
Đức Chúa nói một cách yên lặng và rất tự nhiên. “Bây giờ con nhận ra ta. Rất tốt!
Hãy đi nói với mọi người chuyện gì xảy ra ngày hôm qua. Bảo họ mang tất cả niềm
vui, nỗi buồn, chuyện lo lắng khó khăn, chuyện tội lỗi xấu xa, lòng hối hận ăn
năn …. của mình đặt lên trên thánh giá nầy. Những chuyện xấu sẽ làm cho thánh
giá lún xuống, chuyện tốt sẽ nâng thánh giá lên.” Đức Chúa yên lặng, và trong
tiếng thở dài của Ignaca, người biến thành bức tượng tạc bằng gỗ. Qua bao năm
tháng, thánh giá vẫn đứng đó, cao nghệu, sừng sững, lắm khi hình như nó rục rịch
vươn lên cao. Rồi nó bắt đầu lún dần xuống. Bây giờ đây chính ông thấy đó, còn
có bao nhiêu nữa đâu: và chúng ta thì cứ tiếp tục đặt gánh nặng lên đầu Người
mãi. Không ai nói với tôi, nhưng trong tim tôi cảm thấy rằng…. ngay khi mà chân
của Người chạm phải mặt đất, thì Người sẽ đứng lên, vác thánh giá đến một nơi
khác. Chúng tôi tất cả sẽ mồ côi. Chính đáng thôi, nhưng vẫn là mồ côi.”
Với những lời nầy, bà lão đứng dậy, nhón gót để sửa lại cái
vòng hoa, quỳ xuống hôn bàn chân bị đóng đinh, rồi bỏ đi.
Như bị xuất thần, trong mấy phút dài tôi nhìn khoảng cách nhỏ
giữa chân Chúa và đám cỏ dưới đất, thình lình một ý tưởng lóe trong trí tôi —
điều gì sẽ xảy ra nếu chuyện vừa kể không phải là chuyện thần thoại mà là chuyện
thật? Điều gì xảy ra nếu Chúa đứng dậy, bỏ đi, không phải để tìm một chỗ khác,
mà để rời khỏi trái đất nầy. Và điều gì sẽ xảy ra, nếu trong khi ra đi, người lấy
theo điều răn rằng hãy thương người láng giềng hàng xóm, một điều mà trong hai
ngàn năm nay vẫn còn lạ lẫm đối với chúng ta?
Tôi nhìn chung quanh. Giữa trưa, hơi nóng tràn ngập cánh đồng,
vườn cây, nhà cửa. Không một nét nhỏ nào trên gương mặt của Chúa động đậy — Mắt
của người yên tĩnh, chăm chăm nhìn vào cõi vô cùng. Không ai sửa soạn để đưa ra
một câu trả lời, trừ câu đau thương vừa vang vội trong trái tim tôi.
Jurgis Jankus
Nguyễn Văn Sâm chuyển ngữ
Nguyễn Văn Sâm chuyển ngữ
