02 June 2026

ĐŨA - Song Thao

Đũa tre Việt Nam. Photo: afamily

Ông bạn Thiếu Khanh cùng viết với tôi trên báo Thời Nay từ sáu chục năm trước là một bậc thượng thừa về Anh ngữ. Ông vừa hoàn tất bộ “Từ Điển Phiên Dịch Việt Anh” dày tới 3700 trang. Đây là một công trình dài hơi tôi nghĩ phải mặn mà với chữ nghĩa lắm mới hoàn tất được. Ông rất cẩn thận khi soạn thảo. Ông đưa ra một ví dụ: “vơ đũa cả nắm” dịch sao cho người ngoại quốc rành rẽ được. Ông thử vào Google xem anh chàng ba xí ba tú này dịch ra sao. Ông vào 5 lần tất cả và nhận được 5 câu trả lời khác nhau. Lần cuối Google dịch: “Grab a handful of chopsticks at once”. Có thể hiểu theo nghĩa đen nhưng với người ngoại quốc chẳng bao giờ dùng đũa, thiệt khó cho họ nắm được nghĩa đích thực của thành ngữ này. Ông cho biết: “Ngay từ trước Công nguyên, Marcus Tullius Cicero (106 – 43 BC), một nhà hùng biện vĩ đại, một lý thuyết gia dịch thuật nổi tiếng của La Mã có ảnh hưởng đến nhiều thế hệ dịch giả về sau, đã nhận thấy không nên dịch sát nghĩa đen từng từ (word for word), mà phải chuyển ý của câu hay cụm từ từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác (sense for sense). Cho nên, có lẽ ở đây cách thích hợp nhất là ta phải tìm trong tiếng Anh những thành ngữ hay các expressions, tuy không nói gì đến Đũa nhưng có nghĩa gần với nghĩa gốc của câu thành ngữ tiếng Việt. Tôi tìm thấy vài idioms hay expressions như thế, và chúng được đặt vào các bối cảnh thích hợp để có những ví dụ dưới đây. Và mục từ này, kể cả phần Ghi Chú ở dưới, là một trang trong Từ Điển Phiên Dịch Việt Anh”. Phần ghi chú là một số thành ngữ tiếng Anh tương tự “vơ đũa cả nắm” trong nhiều ngữ cảnh khác nhau.

NỒI CANH KHỔ QUA ĐÊM GIAO THỪA - Biển Cát

Căn bếp của gia đình Nam ở ngoại ô bang California vốn dĩ luôn bóng loáng với những mặt đá marble lạnh lẽo và các thiết bị điện tử hiện đại. Nhưng chiều ba mươi Tết này, không gian ấy bị xâm chiếm bởi một mùi hương lạ lùng: mùi nồng nồng, đăng đắng của khổ qua hầm thịt.

10 KHÚC. NHỚ. NGƯỜI BỘI VONG - Trần Yên Hòa

1

Hề bài đoản ca. ta rống cổ kêu

Gởi kẻ bội vong. quên đi tình nghĩa

Hề bài đoản ca. ta rống cổ gào

Gọi em xanh xao. về đây. trầm ngãi.

30 May 2026

HẠNH PHÚC… - Nguyễn Q.

Cơn bão tuyết đã qua hơn tuần rồi mà hai bên đường và trong các vườn cây tuyết vẫn chưa tan vì còn lạnh quá, ngày nào cũng dưới zero độ. Nhưng nhờ vậy mà những bao rác tiếp tục chồng lên nhau trên các đống tuyết cao ngất ngưởng tới thắt lưng bên đường, chờ xe đến mang đi, không có mùi hôi. Đường sá đã khó đi quanh những công trình xây dựng không ngưng nghỉ nay lại có thêm những rào cản mới, cấm người bộ hành đến gần những toà cao ốc để tránh những mảng tuyết đã bắt đầu đóng thành băng đang rơi xuống.

DÒNG SÔNG CHUỘT - Ngu Yên

1. Đêm cuối.

Chiếc xe thồ dừng lại bên lề đường Nguyễn Hoàng cũ, trước khu chợ, gần góc đường Bạch Đằng.

Tuân đứng nhìn. Chợ về đêm im lặng theo kiểu của những thứ không bao giờ thực sự ngủ. Im lặng từ bề mặt, bên dưới đang bận rộn. Như người nằm yên mà rận rệp tưng bừng tiệc máu. Những mái tôn đen trũi áp xuống hàng ngàn con chuột cống đang hỗn loạn giành ăn dưới những sạp thịt cá. Anh biết chúng ở đó dù không nhìn thấy nhưng biết theo kiểu người quen lâu biết nhau, không cần gặp mặt.

TIẾNG KHÓC TRUNG ĐÔNG - Trần Mộng Tú

Mỗi ngày tôi nhặt những mảnh đạn
Rơi trên khung điện toán vô tình
Mỗi ngày tôi đếm những xác chết
Chôn trong một chiếc hố vô hình

TẤM LÒNG TRUNG TRINH - Hoàng Thị Bích Hà

Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.

KHÚC NGẮN ĐẦU NĂM - Quảng Tánh Trần Cầm

1. 
rõ ràng chữ nghĩa tung tóe
khi nàng hắt hơi
và bài thơ cuống cuồng nhập thất

28 May 2026

CÂU CHUYỆN CON BÒ - Đoàn Xuân Thu

Tháng 11 năm 1915, tại làng nông thôn Asan, nay thuộc Bắc Triều Tiên, một cậu bé tên Chung Ju-yung chào đời trong cảnh nghèo đói cùng cực. Là con trưởng trong tám đứa vừa trai vừa gái, tương lai của cậu dường như đã được định đoạt: nối nghiệp gia đình cày cấy đồng ruộng cho đến khi kiệt sức, rồi truyền lại chuỗi nghèo khó cho thế hệ kế tiếp.

MÙA ĐÔNG XỨ TUYẾT - Trương Hữu Hiền

Mùa đông năm nay không còn thấy Dick xuất hiện sau những trận bão tuyết khiến tôi không khỏi băn khoăn. Trước đây, hễ bão vừa tan là thế nào ông ấy cũng đẩy ngay chiếc xe thổi tuyết (snow blower) ra khỏi nhà. Với dáng dấp vững chắc, tiếng nói sang sảng, ông chỉ huy đám con cháu dọn dẹp lần lượt bãi đậu xe, lối ra vào, rồi đến con đường đi bộ trước nhà. Rảnh tay, cả nhà còn sang phụ những người hàng xóm già yếu neo đơn. Có Dick và gia đình ông, xóm nhỏ quanh nhà tôi trở nên sống động, ấm áp hơn giữa cái thời tiết lạnh cóng mùa đông. Vậy mà không hiểu sao, mấy trận bão tuyết gần đây trôi qua lại thiếu vắng hẳn hình ảnh quen thuộc của Dick?

BUS SÔNG* - Nguyễn An Bình

Bus sông – bus sông

Ga tàu giục giã

Bèo nước mênh mông

Mây trời cũng lạ.

Chấp chới phiêu bồng

Cánh cò bay lã.

CHIA TAY CƯ XÁ THANH ĐA - Song Thao

Toàn cảnh xư xá Thanh Đa.

Cư xá Thanh Đa vẫn nằm trên bán đảo Thanh Đa, sao lại chia tay? Mặt bằng cư xá vẫn nằm đó nhưng cư xá không còn là cư xá cũ. Cái hồn cư xá của những năm trước 1975 đã mất, ít nhất là với những người đã từng dính líu tới cư xá này từ ngày thành lập.

GÓT LÃNG DU | HẸN VỀ THĂM HUẾ - Dzạ Lữ Kiều

GÓT LÃNG DU

 

Lá úa chiều nay rơi rơi

mây buồn lang thang trôi trôi

dòng đời chìm trong kỷ niệm

nỗi nhớ xót xa đầy vơi

26 May 2026

ÉMILE - Lê Quang Thông

Lời mở đầu : Năm nay lễ Giỗ lần thứ 10 Tiến Sĩ RUPERT NEUDECK (1939-2016), người tổ chức Uỷ Ban CAP ANAMUR, đã cứu 11.000 thuyền nhân Việt Nam trên biển Đông vào thập niên 1980, được tổ chức vào cuối tháng 5.2026 tại Troisdorf, Đức. Người viết đoản văn ÉMILE dưới đây là một trong số 11.000 thuyền nhân nói trên. Ơn cứu tử là một trọng ân. Nếu không được Cap Anamur vớt, thì chắc chắn sẽ vô bụng cá chiều cuối tháng Tư 1982 đó, vì hải tặc Thái Lan sau khi cướp bóc, đã dùng tàu đâm bể mũi ghe, rồi bỏ đi. Đời tôi sau 1975 còn nhận thêm nhiều ơn sâu khác, nhờ đó mà tồn tại đến nay tới thế hệ thứ ba trên nước Đức. Xin kể đoạn đời đó qua đoản văn ÉMILE, như lòng biết ơn sâu xa nhân ngày giỗ Dr. Rubert NEUDECK.

Ta nhìn ngọn cỏ lòng mê mẩn
Nghĩ tới đời ràn rụa thâm ân
(Tô Thuỳ Yên)

Tôi nhờ người phóng viên tờ Hörzu gởi về Paris cho Émile một bức điện tín, lúc tàu Cap Anamur ghé Singapur, một ngày sau khi vớt ghe chúng tôi trong Vịnh Thái Lan. Sợ phiền người phóng viên mới quen , tôi chỉ viết vắn tắt bằng tiếng Pháp mấy chữ : đã đến Singapur,nhờ báo tin về Việt nam. Émile hết sức sốt sắng , đã đánh đến hai cái điện tín , một về Huế cho Ba Mẹ tôi , một về Sài gòn cho vợ tôi . Émile còn nói sẽ vận động để Petit Ton ,biệt danh mà Émile vẫn thường gọi tôi , qua Pháp sớm , như sau này vợ tôi kể lại . Sự thực đã không đơn giản như vậy .