25 April 2026

THÁNG TƯ - Nguyễn Đức Tùng

Tháng tư đi qua như một lưỡi dao.

Mùa hè năm 1975, trong công viên có nhiều cây cao bóng mát trước dinh Độc Lập về phía nhà thờ Đức Bà, tôi gặp một người đàn ông áo quần rách rưới, ngồi trên băng ghế đá. Vì chung quanh không còn chỗ nào, tôi ngồi ghé vào một đầu băng ghế. Cả hai làm thinh. Lắng nghe trên ngọn cây tiếng ve kêu ran lần cuối. Bốn giờ chiều, thế gian trống rỗng, vàng vọt, vô nghĩa. Nhiều năm sau, khi nhớ lại, tôi tin chắc đó là Bùi Giáng. Lúc ấy tôi không kịp biết thế. Chúng ta không biết sự kết thúc. Lẽ ra chúng ta phải biết trước kết thúc ấy, nhưng chúng ta không biết. Không ai, từ bất kỳ phía nào của chiến tranh, bên thắng và bên thua, biết trước sự kết thúc ấy. Khi mọi sự đã xong, thì tha hồ nói.

CHÂN DUNG NGƯỜI VỢ LÍNH - Phương Lâm

Bức chân dung đen trắng không màu mè hoa mỹ của người phụ nữ, trong ngàn vạn  phụ nữ vợ của  lính, thời đất nước ngã nghiêng, họ đã chiến đấu, không súng, không đạn, không huy chương, không khen thưởng, tất cả cho chồng, lót đường cho con bước lên, để rồi, kết thúc như một vở hài kịch.

VỀ ĐÂY MÀ ĐÃ VỜI VỢI XA… THÁNG TƯ - Lê Minh Hiền

Mới đó đã từng có một tháng Tư
mới đó
mới đó mà…
mới đó mà đã bao nhiêu tháng Tư,

… 50 năm

CHỜ ĐỢI LỊCH SỬ ĐI XUYÊN QUA - Lê Thị Thấm Vân

Người dân Hà Nội theo dõi sát sao thông tin chiến đấu của lực lượng vũ trang trước các cửa hàng mậu dịch. ‘Hà Nội căm thù quyết thắng. Từ 18 -21/ 12/ 1972 bắn rơi 14 máy bay Mỹ trong đó có 11 máy bay B-52. Bắt sống nhiều giặc lái.’ Người dân cũng chú ý lắng nghe đài phát thanh đọc bản tin do đảng và nhà nước đưa ra. ‘Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không thắng lợi chính là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh đoàn kết của dân tộc, nghệ thuật quân sự tài tình, khẳng định tầm chiến lược của Đảng, của Bác Hồ.’

KHÚC DU XUÂN VỚI HUẾ | DU XUÂN BÍNH NGỌ | LÊN ĐỈNH PHÙ VÂN - Dzạ Lữ Kiều

KHÚC DU XUÂN VỚI HUẾ

(Thơ Hai Ku 2026)

Bài 1- Trên đường về thăm Huế

Dọc  quôc lộ ngày  Tết Nguyên Đán

Cây cỏ lá úa vàng

23 April 2026

50 NĂM SAU... - Vũ Hoàng Thư

“Như chim hồng, chim hạc. Dù lưu lạc mười phương, chúng ta vẫn bay mãi trên vùng trời quê hương.
Đuôi xòe đóa sen, lưng chở núi, lòng ôm mặt trời, đôi mắt trừng trừng nhìn hư không xanh,
và đôi cánh lộng làm rơi rụng nghìn dặm cách chia.”

(Logo tạp chí Quê Mẹ, Paris) 

Nếu có thể nào thu tóm lại một đám mây, thứ hơi nước mang hâm hấp nhiệt độ, một ân tình của biển bốc hơi nơi xa xăm? Tôi sẽ cất giữ lại dù biết rằng đó chỉ là ảo tưởng hư hao. Mây sẽ trắng bay, điểm cho trời xanh bật dậy hẳn lên, hay mây sẽ vươn trong buổi cuối chân ngày làm ráng cam óng đỏ. Mây cũng có thể cuồn cuộn đen màu ly biệt ngậm ngùi. Mây rất có thể làm nhiều điều. Và mây sẽ bay mãi trong bầu trời lữ thứ. Có một chốn về chăng? Không, đời vô định vì bản thể của mây vốn là hơi. Vì thân thế ấy sẽ ngưng đọng thành mưa khi thời tiết, điều kiện cho phép. Còn nếu không? Mây sẽ lang thang mãi không định hướng. Như một định mệnh.

KÝ ỨC - Nguyễn Đức Tùng

Chúng ta quên mất họ. Từ lâu chúng ta không cần họ. Chúng ta làm được tất cả những công việc mà họ làm. Chúng ta có thể lái xe tải, lái xe taxi, lái máy bay, lái chiến hạm. Chúng ta có thể điều khiển các người máy khi cần làm những công việc nặng, ngay khi dùng tay chúng ta cũng có thể nhấc các vật nặng như họ ngày trước, vì chúng ta đã trở nên mạnh mẽ nhờ các chương trình dinh dưỡng và tập luyện đúng phương pháp. Chúng ta nhịn ăn một cách tuyệt vời, những người nào trong chúng ta đã từng đau khổ vì lên cân thì biết tôi nói gì. Chúng ta có thể làm thủ tướng và bộ trưởng. Tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học danh tiếng như đại học bách khoa, y khoa, của chúng ta là từ mười phần trăm đến hai mươi phần trăm đến năm mươi phần trăm, cách đây năm mươi năm và bây giờ là chín mươi phần trăm, Chúng ta viết truyện ngắn và tiểu thuyết cũng như họ và giành các giải thưởng cũng như họ và chúng ta làm thơ hay hơn, ngay cả khi không dùng đến AI, là thứ mà chúng ta sử dụng hàng ngày trong sáng tác và ngày một thành thạo hơn, đó là điều chắc chắn, thơ chúng ta mới mẻ hơn và đầy cảm xúc hơn.  Tôi thường khóc khi đọc các bài thơ diễm tình của các bạn trên facebook và các trang mạng.

BẢN TÌNH CA NGƯỜI XỨ BIỂN - Nguyễn An Bình

1.

Ta về xứ biển

Ruộng muối mênh mông

Thơm lừng hương nhãn

Ngọn lúa vàng bông.

Ở ĐÂU RỒI CHIM DỒNG DỘC? - Trần Hoàng Vy

Một loài chim thuộc họ dồng dộc (rồng rộc) ở Maharashtra, India. Photo: Wiki commons

1.

Bạn rủ vào nhà hàng ăn món đặc sản. Bày biện trên chiếc dĩa pha lê sang trọng là những cọng xà lách xanh mướt mát, những lát cà chua đỏ hồng bắt mắt, những cọng ngò rí và…năm con chim sẻ rô-ti, vàng hươm, bóng loáng mỡ! Nhìn bạn vô tư cười nói, giới thiệu món ăn và… ăn ngon lành mà mắt mình chợt cay cay. 
Bỗng nhớ về một miền quê rợp trời chim se sẻ, bên những sân phơi thóc vàng tươi. Những con sẻ nâu bé nhỏ, hai mắt tròn xoe, láu liêng, canh bóng người. Chợt bay cao và chợt sà xuống, líu ríu âm thanh vui nhộn…
Ở thành phố, thảng hoặc cũng thấy chim se sẻ, song chim chỉ dám đậu trên những sợi dây điện, không dám bay xuống gần gũi với con người?…

DÒNG XƯA BẾN CŨ - Lê Văn Trung

Quê cũ lâu rồi không trở lại
Sông Thu ngày ấy nước còn xanh?
Sóng còn vỗ nhịp sầu thiên cổ
Vào nỗi lòng mơ chuyện thái bình

21 April 2026

CHUYỆN THÁNG TƯ 2026 - Khôi An

Lời giới thiệu của tác giả: Cứ mỗi độ tháng Tư về, lòng tôi lại thôi thúc muốn viết về nỗi đau chưa hề quên từ năm 1975. Điều may mắn là bài viết năm 2026 không chỉ có những hoài niệm buồn về cuộc thua oan nghiệt năm xưa mà nhen nhóm niềm hy vọng mới vì có những 'măng non' đã trưởng thành và cùng nhau góp sức để đem lại niềm an ủi cho những người lính bị bỏ quên. 

Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
làm thân cây cỏ gục ven bờ
chợt nghe từ đáy hồn thương tích
vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa (1)

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, mộng hoa niên của của các thương binh Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã xa như chuyện từ kiếp khác. Chỉ còn những điều xảy ra ngày họ rơi xuống đáy vực xã hội là ám ảnh mãi, nhất là mỗi dịp vòng xoay trái đất đem mùa Xuân trở lại.

BẠN TÔI THỜI BAO CẤP - Kim Loan

Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên.  Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi.

Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. 

Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên.

30 THÁNG TƯ NĂM 1975 - Đặng Tiến (Thái Nguyên)

[Chỉ là thế không tô hồng hay bôi đen chi hết...Thủa ấy của tôi]

Ngày 30 tháng Tư năm 1975
Thằng bé nhà quê là tôi vừa qua tuổi 14 chuẩn bị cho kì thi tốt nghiệp cấp 2 và thi tuyển vào lớp 8...
Thằng bé nhà quê quẩn quanh trong ngôi làng xưa cũ cùng những mái tranh nghèo nắng mưa dầu dãi không điện, không báo, không đài,
Ti vi và tủ lạnh, xe máy là chưa từng nghe và chắc chắn còn lâu mới thấy
Thằng bé nhà quê lầm lụi chăn trâu, cắt cỏ, mót lúa và cất vó te kiếm con tép con tôm lật cỏ bắt cua đồng
Thằng bé nhà quê chỉ mang máng biết miền Nam qua những bài trong sách giáo khoa
Thằng bé nhà quê nghe loa hợp tác báo tin giải phóng miền Nam
Hình như vào khoảng một giờ chiều
Hình như vì thủa ấy người làng tôi vẫn định giờ bằng bóng nắng...

18 April 2026

VẾT MÁU - Nguyễn Ngọc Mạnh

Tặng các bạn Cựu SVSQ Khóa Nguyễn Trãi 2 Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt với những nỗi nhớ không nguôi. NNM

Nhà tôi ở ngay lằn ranh giữa thành phố và vùng ngoại ô, nên cây trụ đèn đường trước nhà tôi là cái cuối cùng trên con đường mở ra hai bên những đồng ruộng mênh mông, sau khi qua những dãy nhà thưa thớt dẫn dài từ trung tâm thành phố. Không biết cây trụ đèn được dựng lên từ lúc nào nhưng năm khai sanh ra nó được đúc nổi trên mặt xi măng sù sì những hòn đá cuội: 1936. Như vậy khi nó ra đời thì má tôi mới về ở với ba tôi được hai năm cùng lúc người chị lớn của tôi cất tiếng khóc đầu tiên. Không biết có phải vì là cái cuối cùng trên con đường hay không mà nó cao lớn hơn những cây trụ đèn khác. Trông nó chắc chắn và vững chải với phần chân trụ vuông to bè ra phía dưới và phần xi măng nằm âm dưới đất để giữ vững nó chiếm một khoảng khá lớn chung quanh.