Các bài thơ của các thi sĩ trẻ sau nầy,
nhất là trong nước tôi thấy có khuynh hướng thường thích dùng đảo chữ, đảo từ, đảo vị… nói chung là "nói đảo". Hình như đó là thời thượng. Chúng ta thử bàn về "nói
đảo" xem sao?
Các bài thơ của các thi sĩ trẻ sau nầy,
nhất là trong nước tôi thấy có khuynh hướng thường thích dùng đảo chữ, đảo từ, đảo vị… nói chung là "nói đảo". Hình như đó là thời thượng. Chúng ta thử bàn về "nói
đảo" xem sao?
Hình trên là ông Nguyễn Chánh Sắt. Nguyễn Chánh Sắt là một
nhà văn Miền Nam đầu thế kỷ 20 không những đã viết nhiều tiểu thuyết mà dịch
truyện Tàu cũng lắm. Đó là người viết mạnh, có mặt một thời gian dài trên văn
đàn đồng thời với các ông Trần Phong Sắc, Lê Hoằng Mưu, Đặng Lễ Nghi, Nam Đình,
Việt Đông, Sơn Vương, Bửu Đình, Cử Hoành Sơn v.v…
DẪN NHẬP
1- Kim Vân Kiều Lục là một bản văn viết bằng chữ Hán của
một người rất thân cận với Nguyễn Du; ông đã được chính Nguyễn Du chia sẻ từng
ý trong từng câu thơ lục bát truyện Kiều của mình nhờ đó viết ra quyển
này để giảng rõ thơ Truyện Kiều. Vai trò của Kim Vân Kiều Lục là sách xưa nhất
chú giải Truyện Kiều một cách nhẹ nhàng, đáp ứng những thắc mắc có thể có. Lối
hành văn chọn lọc từ ngữ, tác giả không bao giờ dẫn một điển tích nào của Trung
Hoa để lý giải từ ngữ; tác giả chỉ diễn thơ Kiều ra văn xuôi và bổ sung một ít
tình tiết mà trong câu thơ Kiều nói chưa rõ. Tóm lại Kim Vân Kiều Lục đóng vai
trò:”Bổ khuyết sử cho thành tín sử”, nó giống như là tư liệu bổ sung tin cậy để
chú giải Truyện Kiều. Kim Vân Kiều Lục về thực chất không là một cuốn tiểu thuyết,
cũng không là một cuốn tóm tắt hoặc dịch Truyện Kiều, mà là cuốn giảng thơ Truyện
Kiều bằng văn xuôi.
DẪN NHẬP
Trước khi vào phần phụ lục 2, tôi xin tóm lược các
phần trước đã nói để độc giả dễ theo dõi:
— Nguyễn Du dựa vào tích sử triều Minh, Vương Thúy
Kiều của Dư Hoài (dài khoảng 3, 4 trang giấy), Tình sữ Phùng Mộng
Long, và các hý kịch/ hát bộ nhà Thanh- như Thu Hổ Khâu, ông thêm vào
các nhân vật đệm sáng tác ra truyện thơ Đoạn Trường Tân Thanh/ Truyện
Kiều. Xuất hiện sau Đoạn Trường Tân Thanh/Truyện Kiều => Kim Vân Kiều Lục
=> Các phóng tác Truyện Kiều (văn, thi, phú … tuồng Kim Vân Kiều, Đào Hoa Mộng
Ký) => Thanh Tâm Tài Nhân Truyện => Kim Vân Kiều Truyện Thanh Tâm Tài Tử
=> Kim Vân Kiều Truyện Thanh Tâm Tài Nhân(. Duy Minh Thị) => Kim Vân Kiều
Truyện Thanh Tâm Tài Nhân (.Tàu) – (Xem phần ghi chú ở cuối bài)
Phụ lục 1:
TẦM ẢNH HƯỞNG CỦA KIM VÂN KIỀU LỤC
DẪN NHẬP
ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH THEO THỜI GIAN
Sau đây là phần tổng hợp các điều chúng tôi đã bàn trong
các bài viết trước về nguồn gốc của tiểu thuyết Kim Vân Kiề̀u
Truyện để chuẩn bị cho các bài sau bàn rõ về Kim Vân Kiều Lục, áng
văn chương hàn lâm giải thích thơ truyện Kiều và so sánh nó với Kim
Vân Kiều Truyện Thanh Tâm Tài Nhân, quyển tiểu thuyết thương mại tầm
thường phá hỏng giá trị Truyện Kiều.
Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát, ngay cả
việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy
được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo
máng như với Tây Sơn?
Đôi nét lịch sử
Sau 25 năm chiến đấu kiên trì và gian khổ, ngày mồng 3 tháng
5 năm Tân Dậu (13/6/1801) Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô cũ Phú
Xuân, đuổi vua tôi Cảnh Thịnh chạy dài ra Bắc. Một năm sau, ngày mồng 2 tháng 5
năm Nhâm Tuất (1/6/1802), tuy chưa chính thức lên ngôi hoàng đế (1) nhưng theo
lời đề nghị của bầy tôi, vua ban hành niên hiệu Gia Long, mở ra một triều đại mới
của nhà Nguyễn.
Sau đây là những chữ viết tắt sẽ dùng trong
bài cho việc đọc được dễ dàng.
VN = người Việt Nam, hoặc tiếng Việt.
TH = Người Trung Hoa (còn gọi là người Hoa), trong sách VN,
còn gọi là người Tầu, (hay Tàu), người “Hán”; chữ TH, chữ Hán = chữ Tàu = chữ
“nho”.
HV = Tiếng Hán Việt, giọng đọc HV; chữ HV = chữ ký âm giọng
HV bằng mẫu tự của chữ quốc ngữ VN (thí dụ chữ “điện đàm” = nói chuyện bằng điện
thoại).
QĐ = tiếng TH giọng Quảng Đông, người QĐ.
TC = tiếng TH giọng Triều Châu, người TC còn gọi là người Tiều.
QT = tiếng TH giọng Quan Thoại hay giọng Bắc Kinh (có nơi gọi
là Bạch thoại); giọng nói được dùng làm giọng chung cho cả quốc gia TH vì TH
tuy dùng một thứ chữ viết nhưng có trên vài chục giọng nói (phương ngữ) khác
nhau.
Hầu hết những chữ Việt gốc Tàu đều có trong quyển Tầm Nguyên
Tự Điển Việt Nam của cố Giáo sư Lê Ngọc Trụ (LNT). Những chú thích cách đọc
theo HV cũng từ quyển nầy.
Để làm tròn nhiệm vụ lịch sử của giai đoạn, thi ca cũng như
tản văn ở miền Nam khoảng 1945-1950 đã bắt đầu cựa mình, lớn mạnh và hình thành
một khuynh hướng rõ rệt: tranh đấu.
Khuynh hướng nầy mới mẻ đối với nền văn chương cận đại miền
Bắc, nhưng đối với quá khứ văn nghệ miền Nam, thì thiệt là quá cũ. Khuynh hướng
tranh đấu đã bộc phát từ giữa thế kỷ XIX với những nhà thơ tiền phong miền Nam
như Nguyễn Đình Chiểu, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Thần Hiến, Phan Văn Trị, Bùi Hữu
Nghĩa, Thủ Khoa Huân…
(viết theo bản của nhà xuất bản Phạm Văn Thình, Sàigòn 1920)
Những thập niên 20, 30, của thế kỷ 20 Sàigòn lộn xộn với những
đám du côn, anh chị, mỗi nhóm chiếm đóng một vùng làm trời làm đất tạo nên máu
lửa với nhau khiến dân lành không sống được trong cảnh bình an.
Những hoạt động của các tay anh chị và đồng bọn để lại vết
tích trong thơ văn thời đó. Từ những quyển sách mỏng nầy ta có thể phần nào
hình dung được một Sàigòn gió tanh mưa máu vì dao búa, thường các nhóm anh chị
đứng ra bao thầu phu phen hay bảo kê cho công việc làm ăn của những người Tàu
tài phiệt như nhà máy xay lúa, chành gạo, hãng rượu, bến bốc vác, bến tàu,
xóm đèn đỏ (xóm yên hoa)…

Để làm tròn nhiệm vụ lịch sử của
giai đoạn thi ca cũng như tản văn ở miền Nam khoảng 1945-1950 đã bắt đầu cựa
mình, lớn mạnh và hình thành một khuynh hướng rõ rệt: tranh đấu. Khuynh hướng
nầy mới mẻ đối với nền văn chương cận đại miền Bắc, nhưng đối với quá khứ văn
nghệ miền Nam, thì thiệt là quá cũ. Khuynh hướng tranh đấu đã bộc phát từ giữa
thế kỷ XIX với những nhà thơ tiền phong miền Nam như Nguyễn Đình Chiểu, Huỳnh
Mẫn Đạt, Nguyễn Thần Hiến, Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa, Thủ Khoa Huân…

