DẪN NHẬP
1- Kim Vân Kiều Lục là một bản văn viết bằng chữ Hán của
một người rất thân cận với Nguyễn Du; ông đã được chính Nguyễn Du chia sẻ từng
ý trong từng câu thơ lục bát truyện Kiều của mình nhờ đó viết ra quyển
này để giảng rõ thơ Truyện Kiều. Vai trò của Kim Vân Kiều Lục là sách xưa nhất
chú giải Truyện Kiều một cách nhẹ nhàng, đáp ứng những thắc mắc có thể có. Lối
hành văn chọn lọc từ ngữ, tác giả không bao giờ dẫn một điển tích nào của Trung
Hoa để lý giải từ ngữ; tác giả chỉ diễn thơ Kiều ra văn xuôi và bổ sung một ít
tình tiết mà trong câu thơ Kiều nói chưa rõ. Tóm lại Kim Vân Kiều Lục đóng vai
trò:”Bổ khuyết sử cho thành tín sử”, nó giống như là tư liệu bổ sung tin cậy để
chú giải Truyện Kiều. Kim Vân Kiều Lục về thực chất không là một cuốn tiểu thuyết,
cũng không là một cuốn tóm tắt hoặc dịch Truyện Kiều, mà là cuốn giảng thơ Truyện
Kiều bằng văn xuôi.
Mời các bạn tìm hiểu thêm về Kim Vân Kiều Tuồng mà
Duy Minh Thị dựa vào qua bài viết của nhà nghiên cứu Lê Nghị
.
.
SO SÁNH KIM VÂN KIỀU TUỒNG VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN – Lê
Nghị
Trên con đường tìm hiểu các tác phẩm Hán Nôm liên quan đến
Truyện Kiều, để thấy sự kế thừa của tác phẩm, trước hết chúng tôi sắp xếp theo
thời gian các tác phẩm ra đời có di lục ghi nhận.Tiếp đến là so sánh nội dung,
nếu hai tác phẩm có nội dung giống nhau, thì cuốn ra đời sau đương nhiên kế thừa
cuốn ra đời trước.
1. Theo thời gian xuất hiện
2. Địa vị của Kim Vân Kiều Tuồng trên văn đàn
Sách 3 tập đều ghi Ninh Định Đường tàng bản. Xét ra 2 lần in
cách nhau 9 năm, bản in tốt, cùng một thương hiệu, cùng một khổ và nét chữ, có ít
sai sót trong việc khắc chữ nên nhà in này uy tín, tồn tại khá lâu nhưng không
có tên ở Việt Nam. Từ đó cho phép suy luận sách được in tại Quảng Đông, cùng
thời nhóm Duy Minh Thị hoạt động mạnh mẽ, hoặc do chính nhóm Duy Minh Thị hiệu
chỉnh in ở Quảng Đông. Dễ nhận ra tuồng là do người trung-trung bộ viết bởi
chen nhiều phương ngữ như: mần, ri, răng, rứa… Với những đoạn “ nói lối”, giọng
Xuân, Ai, Tán, Vãn… cho biết đây là tuồng hát bộ Quảng Nam, chứ không phải tuồng
cung đình Huế hoặc tuồng Nam bộ. Ngụy Khắc Đản từng làm Án sát Quảng Nam, nên
có thể chính ông là tác giả.
.
.
3. So nội dung với Kim Vân Kiều Lục
Là một phóng tác cho sân khấu, do đó Tuồng chú trọng lời thoại
nhân vật, không miêu tả hành động và ngoại cảnh, việc đó là sáng tạo của đạo diễn
và diễn viên sân khấu khi sử dụng kịch bản. Tuồng viết bằng chữ Nôm, tức đọc ra
âm tiếng Việt ngày nay. Tuy trong tuồng đôi khi có câu tiếng Hán thông dụng hoặc
bài thơ chữ Hán khi phiên âm Hán Việt, từ ngữ cũng rất quen nghe. Đặc biệt tiếng
Việt trong sáng gần với ngôn ngữ đời sống ngày nay. Ta không ngờ cách nay gần
200 năm mà tiếng Việt đã phong phú, tinh nghĩa và diễn cảm gần với các sáng
tác trong 2 thập niên 1925-1945, tức là ngôn ngữ đời sống thường nhật ngày nay.
Đặc điểm của Kim Vân Kiều Tuồng có 2 chi tiết khác với Kim
Vân Kiều Lục: Theo Tuồng, Kiều quê Bắc Kinh, và lần đầu hò hẹn là Kiều qua nhà
Kim Trọng (theo chúng tôi tác giả hiểu lầm câu thơ Kiều hoặc cố tình phóng
tác). Tuy nhiên dễ nhận ra tuồng có tham khảo Kim Vân Kiều Lục vì trong tuồng
có trích ý và thơ của Kim Vân Kiều Lục. Ví dụ:
“ Chưa tới một năm, gió nổi lên ở Đông Hải, mọi người đều hoảng
sợ, muốn bỏ chạy mà chẳng biết chạy đi đâu nên còn trù trừ chưa quyết. Bỗng thấy
tinh binh nghìn số, ngựa xe như nước dừng trước trướng của Kiều, nói; có thư
xin đón phu nhân về”
– Tuồng Kim Vân Kiều:
b.
– Kim Vân Kiều Lục (bản AC521)
Sáng tác bài tuyệt bút, ta không thấy trong Truyện Kiều rất
hay:
– Tuồng Kim Vân Kiều:
Bài thơ trên của Kim Vân Kiều Lục được biến tấu trong vở tuồng:
Rất nhiều bằng chứng cho thấy tác giả vở tuồng có tham khảo
Kim Vân Kiều Lục. Điều này càng cho thấy Kim Vân Kiều Lục ra đời xưa hơn mọi
phóng tác sau này.
.
.
4. So với Kim Vân Kiều Truyện.
Trong các bài trước chúng tôi đã dẫn chứng Tuồng Kim Vân Kiều
cung cấp trình tự và nội dung lời thoại cho tiểu thuyết Kim Vân Kiều Truyện.
Nói cách khác, Kim Vân Kiều Truyện dựa trực tiếp vào Tuồng Kim Vân Kiều, chứ
không chỉ dựa vào Đoạn Trường Tân Thanh và Kim Vân Kiều Lục để diễn ra thành
văn xuôi. Riêng kiến thức sử học, tác giả vở tuồng biết sâu hơn tác giả Kim Vân
Kiều Truyện: Kim Vân Kiều Truyện gọi Hồ Tôn Hiến là Đốc phủ- đó là cách gọi của
Mao Khôn tường trình cho triều đình- không thể hiện Hồ Tôn Hiến là một trọng thần.
Tuồng phóng tác có thêm vua nhà Minh, Thượng Thư ( Người đỡ đầu Hồ Tôn Hiến ở
triều, trong chính sử là Nghiêm Tung), và tuồng đổi tên Hồ Tôn Hiến thành Hồ
Tôn Chánh.
Nội dung Tuồng Kim Vân Kiều đã phóng tác thêm nhân vật và
tình tiết Đoạn Trường Tân Thanh nhiều hơn cuốn giảng văn Kim Vân Kiều Lục và
Kim Vân Kiều Truyện. Kim Vân Kiều Truyện lại phóng tác từ Tuồng nên càng xa
nguyên bản Đoạn Trường Tân Thanh hơn. Tuy nhiên tính logic của chi tiết, cũng
như tâm lý nhân vật Tuồng Kim Vân Kiều đi sát với Đoạn Trường Tân Thanh hơn Kim
Vân Kiều Truyện. Về hành văn dĩ nhiên lời hát tuồng gần với thơ: câu ngắn, thường
có cước vận. Chỉ cần bỏ cước vận, dùng các liên từ nối vào thì trở thành câu
văn dài hơn.
Ngay ở tập 1, sự liên quan rõ ràng giữa Tuồng Kim Vân Kiều với
Kim Vân Kiều Truyện. Ví dụ tờ thề nguyền giữa Kiều và Kim Trọng sẽ dẫn đoạn dưới
giống hệt nhau. Tuồng xuất hiện nhiều nhân vật hơn tiểu thuyết. Sân khấu là thể
loại nghệ thuật trực quan: Thay vì tiểu thuyết kể tên và giới thiệu nhân vật,
Tuồng sẽ cho nhân vật xuất hiện trên sân khấu và tự giới thiệu mình. Ví dụ ở hồi
1 của Tuồng Kim Vân Kiều, ai đó đọc vài lời giáo đầu ở hậu trường, nhân vật
Vương Quan xuất hiện trên sân khấu, ra điệu bộ rồi hát:
Lại nói:
Ngoài tên nhân vật, trong Truyện Kiều đương nhiên phải có đủ
trong Tuồng. Tuồng tạo nhiều nhân vật phụ hơn. Dưới đây là liệt kê tên nhân vật
tuồng sáng tạo, mà Kim Vân Kiều Truyện mượn lại, lược bỏ, đổi tên, tạo thêm:
– Mượn lại: Thúc Thủ, Bộ Tân, Thúc Chánh, Huyền Động,
Sử Chiêu, Lôi Phong, Âm Mưu, Trương Năng.
– Lược bỏ: Dân ấp, Đầu Sưu, Ấp trưởng, gia nhân thúc
sinh, thể nữ của Kiều ( quanh nhà riêng Kiều-Thúc). Trương Hổ, Thiên Hùng, Vạn
Dũng ( tướng của Từ Hải). Vua nhà Minh, Thượng Thư. Phí Hư, Nguy Kỳ, Cừu Nhiêu,
Ngươi Tề, Lý Vu, Đỗ Vận (tướng của Hồ Tôn Hiến) Tuyên, Nghĩa ( hai cô gián điệp
Hồ tặng hầu Thúy Kiều), vài nhân vật khác không quan trọng.
– Đổi: Hoạn phu nhân (thành Hoạn Kế), Biện Báo (thành
Hạ Báo).
– Tạo thêm: duy nhất Vệ Hoa Dương (bạn Thúc Sinh).
Ta thấy nhân vật trên sân khấu tuồng cổ Việt Nam lẫn Trung
Hoa mang tính ước lệ từ cách ăn mặc, trang điểm… Khi nhân vật vừa bước ra sân
khấu khán giả đã nhận ra vẻ chánh- tà, bi-hài… Khi xưng tên, điệu bộ, giọng, lời
thì biết ngay tính cách. Nhưng tên gọi thì không ước lệ, chỉ là danh xưng,
không có ý nghĩa gì. Ví dụ: Phạm Công, Cúc Hoa, Đổng Kim Lân, Vu Quế Nương, Đào
Phù Nô…
Truyện Kiều chỉ có 3 nhân vật Thúy Kiều- Từ Hải- Hồ Tôn Hiến
có tên trong chính sử, còn lại là tên hư cấu. Truyện Kiều có 1 tên nhân vật
trùng tên nhân vật trong vở kịch Hổ Phách Trủy Trung Hoa. Tại vở kịch lầu xanh
này có nhân vật Thúc Giãn. Nếu hiểu nghĩa theo âm Hán Việt thì Thúc là bị bó lại,
Giãn là xa ra. Nói cách khác là anh chàng sợ vợ nhưng luôn tìm cách lén lẹo tẹo
cô khác. Trong Bắc hành tạp lục, Tố Như đã có lần xem kịch và chắc ông có xem vở
Hổ Phách Trủy mới mượn tên nhân vật Thúc Giãn biến thành Thúc Kỳ Tâm (nghĩa bản
chất bị quản thúc), đồng thời hư cấu ước lệ tên các nhân vật qua cách chơi chữ
liên tưởng của người Việt: Thúy Vân, Vương Quan, Kim Trọng,Thúc Kỳ Tâm, Sở
Khanh, Hoạn Thư, Bạc Hạnh, Giác Duyên, Tam Hợp…Mỗi tên mang một đặc điểm hoặc
tính cách nhân vật đó. Ví dụ Thúy Vân: vẻ đẹp rạng rỡ như nước mây; Vương Quan:
dòng nho học sẽ làm quan; Kim Trọng: nghĩa trọng thiên kim, chung tình; Hoạn
Thư: tiểu thư nhà quan; Bạc Hạnh: hạnh kiểm bạc bẽo…
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du miêu tả hành động nhân vật rất
sinh động, dễ thành điệu bộ trên sân khấu: ”Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm”
ta hình dung ngay diễn viên múa tay viết trong không khí. “ Lạ thay oan khí
tương triền/ Kiều vừa phục xuống, Từ liền ngã ra”, là những hình ảnh kịch tính
gần gũi sân khấu. Điều đó góp phần dễ tạo rất nhiều tuồng, chèo, cải lương minh
họa hoặc phóng tác Truyện Kiều, hơn những truyện khác.
Tác giả vở tuồng tạo thêm nhiều nhân vật là đặc điểm phóng
tác của kịch nghệ. Ví dụ trong văn người ta chỉ viết: “ Quân lính thay phiên
đưa tin cấp báo” là đủ. Nhưng trên sân khấu một anh lính tên A chạy tới quỳ:
báo!… anh này vừa ra thì anh B chạy tới: báo!… Nhìn thái độ hấp tấp và thay
nhau báo, khán giả biết là các tin dồn đập. Nhìn gương mặt diễn viên người ta
biết tin lành hay dữ, không cần phải nói như văn: gương mặt người nghe báo rạng
rỡ, vuốt râu đắc chí hay thất sắc hồn kinh.
Chính đặc điểm các tên nhân vật ước lệ trong Truyện Kiều, nó
cho ta khẳng định Truyện Kiều khác với cách đặt tên nhân vật trong các tác phẩm
của Trung Hoa ở mọi thể loại văn học, trong các thời đại. Ngay cả ở Việt Nam
cũng không thấy tác phẩm nào hư cấu ước lệ tên nhân vật, trừ các tác phẩm phóng
tác theo Truyện Kiều.
Duy Minh Thị đi sát kết cấu vở tuồng, mượn tên nhân vật lẫn
lời thoại trong tuồng diễn ra văn xuôi.Vì vậy kết luận rằng: Kim Vân Kiều Tuồng
có tham khảo Kim Vân Kiều Lục khi chuyển thể cốt truyện Đoạn Trường Tân Thanh từ
thơ ra tuồng. Kim Vân Kiều Truyện lại chuyển thể từ tuồng ra tiểu thuyết văn
xuôi.
Việc đối chiếu từng hồi, từng đoạn dễ dàng nếu người đọc có
cả 3 cuốn Kim Vân Kiều Lục, Kim Vân Kiều Tuồng và Kim Vân Kiều Truyện sẽ thấy sự
kế thừa. Đặc biệt giữa Tuồng và Truyện có thể nói nhiều đoạn giống nhau như
đúc. Ở đây chúng tôi chỉ ra vài chi tiết giúp các bạn đọc chưa có Kim Vân Kiều
Lục, Kim Vân Kiều Tuồng và Kim Vân Kiều Truyện trong tay. Kim Vân Kiều Truyện sử
dụng những câu này của Kim Vân Kiều tuồng:
– Kim Vân Kiều Tuồng (tập 1) phóng
tác Kim Trọng viết bản minh thệ:
– Kim Vân Kiều Truyện, hồi 3 ( hiện chưa so bản Hán
Văn, qua bản dịch của Tô Nam trong Kim Vân Kiều Truyện- Thanh Tâm Tài Tử, đọc bản
dịch cũng biết chính là bản Hán văn trên)
Rõ ràng là sao chép gần như nguyên văn.
Tuy nhiên ta không biết bài thơ mộc già như thế nào?
– Kim Vân Kiều Tuồng, tập 2, phóng tác: Thơ đề
cái gông theo điệu Hoàng Oanh Nhi khúc:
– Kim Vân Kiều Truyện, hồi 12, cũng theo điệu
Hoàng Oanh Nhi khúc, xáo xào chút nguyên văn:
–Tuồng Kim Vân Kiều:
– Kim Vân Kiều Truyện biến tấu thành:
Bài Chiêu hồn trong Truyện Kiều không có.
– Tuồng Kim Vân Kiều lấy bài thơ Chiêu Hồn của Tống
Ngọc để ngâm:
– Kim Vân Kiều Truyện, hồi thứ 20 cũng chép lại
nguyên bài thơ của Tống Ngọc như trên.
Như trên đã nói, Tuồng có 2 chi tiết ngược Kim Vân Kiều Lục:
chi tiết cho rằng quê Kiều ở Bắc Kinh, Kiều qua nhà Kim Trọng lần đầu. Kim Vân
Kiều Truyện lại hệt theo Tuồng. Chứng tỏ rằng Kim Vân Kiều Truyện ảnh hưởng trực
tiếp tư ̀Kim Vân Kiều Tuồng, dựa theo kết cấu chi tiết của Tuồng. Nói cách khác
Kim Vân Kiều Truyện là chuyển thể từ tuồng sang văn xuôi.
Điểm khác nhau là cùng chi tiết, nhưng tâm lý Kim Vân Kiều
Tuồng gần gũi người Việt, trong khi Kim Vân Kiều Truyện xa lạ với tâm hồn người
Việt. Ví dụ Tuồng miêu tả Kiều đền ân báo oán phải lý phải tình. Nhấn mạnh những
chiến công dồn dập, nêu bật vai anh hùng của Từ Hải khi chiến thắng cũng như
lúc sa cơ. Tuồng nhấn mạnh đến bi kịch Kiều bị Hồ Tôn Chánh lừa, chiếm đoạt thể
xác. Tuồng cũng không diễn cảnh dâm ô chốn lầu xanh… đúng theo như tinh thần
trong thơ Đoạn Trường Tân Thanh .
Trong khi đó, Kim Vân Kiều Truyện thì ngược lại: Kiều trả
thù tàn khốc, không nêu tính cách anh hùng của Từ Hải. Ngược lại miêu tả tỉ mỉ
trận thắng của Hồ Tôn Hiến và bỏ qua phẩm cách đồi bại của Hồ, xem đó là lẽ thường
tình. Cũng như miêu tả nghệ thuật lầu xanh câu khách, rẽ tiền.
Tất cả cho thấy Kim Vân Kiều Tuồng thể hiện tính cách các
nhân vật với tâm hồn người Việt khi phóng tác Truyện Kiều; trái lại, người viết
Kim Vân Kiều Truyện phá nát tư tưởng và tâm lý Truyện Kiều. Tuy cùng là xuất
phát từ Việt Nam nhưng cách hiểu Truyện Kiều, tư duy văn hóa của người Việt
khác với người Minh Hương như Duy Minh Thị rất rõ.
Tóm lại Tuồng Kim Vân Kiều chẳng những đóng góp vào văn học
sử như là tiền thân gần nhất của Kim Vân Kiều Lục, mà còn là một tác phẩm sân
khấu rất giá trị. Tiếc thay, trước đây các nhà Kiều học và đạo diễn sân khấu chẳng
đoái hoài. Dịp 200 năm ngày giỗ cụ Nguyễn Du không thấy đóng lại, diễn lại vở
Kim Vân Kiều Tuồng này.
.
TỔNG KẾT
Để bàn đến nguồn gốc Truyện Kiều và chú giải truyện Kiều, việc
nghiên cứu sách nước ngoài cũng quan trọng, nhưng các tác phẩm Hán Nôm của Đại
Nam mới thật sự chứng minh được Kim Vân Kiều Truyện là do người Việt viết.
Các công trình của tác giả nước ngoài dẫn tới kết luận: tên
tác giả Thanh Tâm Tài Tử không có ở Trung Hoa (cho là viết nhầm Thanh Tâm Tài
Nhân ở Trung Hoa theo lý thuyết của người Việt). Tại Trung Hoa, cho đến 1983
tác giả Thanh Tâm Tài Nhân không thấy ghi trên cuốn sách nào, lạ thay học giả
Hoa lẫn Việt đều nhận quàng Thanh Tâm Tài Nhân quốc tịch Trung quốc. Đến nay họ
cũng không biết nhân thân bút danh này. Không có cuốn sách nào đi sát với nội
dung Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân hiện nay. Chỉ có vài truyện ngắn
đi sát với sự kiện Từ Hải- Hồ Tôn Hiến. Có đọc bao nhiêu sách cũng chỉ chừng ấy
kiến thức mơ hồ.
Tại Việt nam, các tác phẩm Hán Nôm lại cho thấy từ sự kiện Từ
Hải- Hồ Tôn Hiến và một người thiếp tên Thúy Kiều của Từ Hải, Nguyễn Du xây dựng
nên trường thi Đoạn Trường Tân Thanh. Tiếp theo là sách giảng Kiều, thi phú
ngâm vịnh, chuyển thể, đi sát với nội dung Đoạn Trường Tân Thanh. Trong đó, một
tác phẩm vừa chuyển thể vừa phóng tác nổi bật là tuồng Lãm Thúy Hiên còn gọi là
Kim Vân Kiều Tuồng, ra đời giữa thế kỷ 19. Tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện ra đời
đầu thế kỷ 20 phóng tác Truyện Kiều trên cơ sở tham khảo Truyện Kiều, Kim Vân
Kiều Lục, Đào Hoa Mộng Ký, Kim Vân Kiều Tuồng. Trong đó Kim Vân Kiều Tuồng được
Kim Vân Kiều Truyện mượn trực tiếp từ bố cục, nhân vật, lời thoại, thơ chữ Hán
chuyển thành tiểu thuyết chương hồi.
Người yêu Truyện Kiều, nhất là người muốn tham gia bình giảng
Truyện Kiều cho chính xác, tối thiểu cần phải đọc kỹ thêm 3 cuốn: Kim Vân Kiều
Lục, Tuồng Kim Vân Kiều và Kim Vân Kiều Truyện. Các bạn tự so sánh nội dung,
sau đó các bạn kiểm tra mỗi cuốn được công chúng biết đến sớm nhất tại thời điểm
nào. Đối chiếu, kiểm tra xong các bạn sẽ biết cuốn Kim Vân Kiều Truyện là sách
của Việt Nam. Tên tác giả và quá trình hình thành chúng tôi đã trình bày trong
loạt bài: Ai viết Kim Vân Kiều Truyện? Ở đây xin nhắc lại nhanh: Duy Minh Thị
(Trần Quang Quang) viết vào cuối thế kỷ 19. Một khi xác định tác giả và tác phẩm
ở Việt Nam thì khỏi tìm ở nước khác mất công.



