
Năm 45 nhân lúc thời sự rối ren Nhật đảo chánh, Tây bỏ chạy, Việt Minh chưa
tới, ở bên kia bến đò Lộ Vàm, xã Xuân Đông có anh Tư mà hàng xóm gọi là Tư Bang
đứng lên rủ trai tráng trong làng, tập họp xé vải điều (màu đỏ) dùng để che bàn
thờ đeo lên cánh tay, không có trang bị khí giới hay súng ống gì cả, mỗi người
chỉ mang theo một túi dết màu ka ki. Cả bọn ra các trạm ở bờ sông thu tiền ghe
xuồng qua lại bến đò Lộ Vàm hay dọc theo kênh Kỳ Hôn cho tới đầu kênh Chợ Gạo.
Tiền thu được hằng ngày đem chia đều cho tất cả.
Được chừng vài tháng cán bộ Việt Minh về tới, tập họp đám thanh niên theo Tư
Bang, yêu cầu nộp tiền. Một số muốn giữ tiền bèn bỏ xứ trốn lên chợ Mỹ Tho, lâu
dần thành dân thị tứ, kẻ mua bán, người làm công hay đăng lính. Còn đám ở lại,
sau khi nộp một ít tiền rồi theo Việt Minh luôn.
Từ đó Tư Bang lấy bí danh là Tư Bê hoạt động trong bưng một thời gian, sau
về hoạt động nội thành bị bắt và đày đi Côn Đảo. Cho tới khi ra đảo Tư Bê mới
học hết lớp Nhất, sau gặp may có người dạy học trong tù. Không biết ở Côn Đảo
bao lâu, nhưng khi được thả về, ghé nhà người quen trong xóm xin giấy khai sanh
của một người bạn tập kết nghe nói đã chết, lên Sài Gòn học tự do ở các trường
tư và thi đậu được bằng Tú tài. Sau đó, hành nghề giáo sư ở trường Trung Học
Tầm Vu. Được mấy năm trở về lại Mỹ Tho mở trường Tư thục Nông Lâm Súc ở Cầu
Bắc.
Trong số trai tráng theo Tư Bê năm đó có hai người con trai áp út của ông Cả
Tam là Chín Kiến và Mười Năng còn Hai Kiệm, Ba Nên tuổi đồng trang lứa là cháu
nội con của người con trai cả. Chín Kiến sau trở thành ông giáo vùng Việt Minh,
Mười Năng xin về quê tham gia sản xuất. Hai Kiệm theo Việt Minh được một thời
gian ngắn rồi cũng trốn về quê cưới vợ làm ăn sinh sống và trông coi đất đai,
vườn tược, mồ mã ông bà.
Theo kiểu anh hùng Lương Sơn Bạc, Tư Bê phong cho Ba Nên là người có học
hành, chữ nghĩa nhiều làm Phó và được anh em tín nhiệm trong việc ghi chép sổ
sách, phân chia tiền bạc. Sau đó Ba Nên lại theo toán bỏ trốn lên chợ Mỹ Tho.
Việt Minh cho người nhắn lên đem tiền và sổ sách về kèm theo với lời cảnh cáo.
oOo
Hương Cả Tam là người cố cựu trải qua nhiều đời ở làng Long Bình Điền vốn có
tiếng là nhân đức và hào phóng. Mỗi năm, sau mùa gặt thường hay rước các đám
đàn ca tài tử về ăn ở luôn trong nhà, đêm đốt đèn măng-xông tụ tập dân làng tới
xem ca hát suốt đêm, kéo dài có khi hơn cả tháng trời.
Dân tứ-chiến tụ tập về làng gặt lúa mướn, được tính công trả bằng lúa giạ,
người nào muốn ở lại làng thì ông Cả Tam cho một miếng đất cất nhà ở ngoài gò
làm ăn sinh sống. Đời sống trong làng từ Hương cả, chủ điền cho đến tá điền đều
ăn ở với nhau rất là tử tế. Ông Cả Tam qui tụ dân tứ cố vô thân các nơi về nuôi
ăn làm gia nhân, nức tiếng nghĩa khí trong vùng. Ông chủ trương bắt cướp chứ
không bắt trộm. Đến kỳ tuyển phu đi đồn điền hay đi lính, ai muốn đổi đời làm
nông xin đi thì được cấp gạo thóc, quần áo lên đường. Ông Cả Tam có chín người
con và người con trai cả là cậu Hai Cảnh.
Có một hôm tình cờ đi ngang qua làng Tân Thuận Bình thấy cảnh ba mẹ con đang
mót-lúa bên đường giữa trời trưa nắng gắt, cậu Hai Cảnh vừa động lòng trắc ẩn
vừa choáng ngợp trước dung nhan mặn mà của cô chị nên đem lòng thương mến, rồi
từ sau đó thường hay tới lui mỗi khi có việc xuống quận. Dần dà bén hơi duyên,
cuối cùng cậu Hai quyết định về thưa lại với ông Cả Tam để xin đi cưới.
Gia đình nhà gái gồm năm mẹ con quê ở miệt dưới theo ghe thương hồ làm mướn
ở dưới ghe. Đàn ông thì làm phu khuân vác, bốc dỡ đủ loại hàng hóa từ trái cây,
cá mắm cho đến đồ gốm, gạch ngói xuống cho các vựa cặp theo kênh Chợ Gạo. Sau
đó chất dừa khô thu mua lên ghe đi Chợ Lớn. Đàn bà thì nấu ăn, giặt giũ và làm
tạp dịch trên ghe. Không biết qua lại Vũng Liêm – Chợ Gạo được bao nhiêu chuyến
cho tới năm đó thì cả gia đình trụ lại cất nhà ở luôn, sát bên bến đò cũng làm
mướn sống đắp đổi qua ngày.
Hai người con trai lớn làm phu trên phà-kéo-tay qua lại trên kênh Chợ Gạo
còn bà mẹ và hai cô con gái thì ai thuê gì làm nấy khi thì bồi mương, làm cỏ
mướn hay lột dừa khô bằng đòn-xóc được tính công theo từng thiên dừa (hằng ngàn
trái.) Nhằm khi không có ai mướn thì đi lượm dừa mỏ, loại dừa non bị chuột đục
khoét lâu ngày rụng xuống bờ liếp đem về đổ trước sân phơi khô rồi gánh đi bán
cho các lò nấu rượu trong xóm. Đến mùa gặt thì ba mẹ con đi gặt lúa mướn khắp vùng
hoặc đi mót-lúa có khi tới tận bên miệt Ông Văn, Tầm Vu.
Ban đầu nghe nói gia đình mấy mẹ con “không có cục đất chọi chim” dân làng
ai cũng bàn tán xôn xao, ông Cả Tam cho người thân tín đi dò xét và căn dặn
“coi người không coi của” miễn là người làm ăn lương thiện là được. Sau cùng,
mặc dù có sự chống đối ngầm trong gia tộc, đám cưới của cậu Hai vẫn được tổ
chức thật lớn, mời tất cả các chức việc trong vùng đến tham dự kể cả viên chủ
quận Chợ Gạo.
Sau khi ông Cả Tam qua đời, cậu Hai Cảnh kế nghiệp, ngoài sở thích hâm mộ
đàn ca tài tử trước đây nay còn thêm rượu chè và cờ bạc nên cơ ngơi ngày càng
thu hẹp. Nợ nần, đất đai cầm cố ngày càng gia tăng. Mợ Hai muốn kìm hãm đà phá
sản của chồng nên nhắc nhở khéo bằng cách đặt tên cho các con là Kiệm, Nên, Liền,
Nữ, Công để chí thú làm ăn.
Lúc Việt Minh nổi dậy, mợ Hai đang ở cữ đứa con nhỏ thì bị nhiễm bệnh trái
trời, đứa nhỏ mới sinh ra chưa đầy tháng đã mất, cậu Hai túc trực bên giường
bệnh lo xắc thuốc và săn sóc mợ Hai cho đến khi lành bệnh, chỉ bị sẹo nhỏ trên
gương mặt thành rỗ hoa mè. Nhưng sau đó bệnh lây nhiễm qua cậu Hai và cậu không
qua khỏi. Cậu Hai mất tháng mười năm Ất Dậu.
Cách đó hơn hai mươi năm, khi ông Cả Tam xuống ngã ba Ông Văn nhờ thầy Ba
Huê xem ngày lành làm đám cưới cho cậu Hai. Thầy phán năm nay không có ngày tốt
cho hai tuổi nầy, cưới ngày tháng nào cũng thuận chỉ tránh ngày kiêng cữ là
được. Ông Cả Tam vặn hỏi tại sao thì thầy xem tuổi cậu Hai mạng Thổ, vợ sắp
cưới mạng Thủy không kỵ nhưng không tròn, nếu phải duyên nợ trời định thì sau
khi cưới, hai vợ chồng nên làm lành lánh dữ, thi ân bố đức thì hậu vận đời sau
mới được vinh hiển.
Nhớ lại chuyện cũ, sau khi cậu Hai mất, anh em nhà Cả Tam lặn lội tìm thầy
hỏi xem cho biết cớ sự. Thầy phán cậu Hai mạng “Ốc thượng thổ” là đất con tò vò
bám trên tường, mợ Hai mạng “Thiên thượng thủy” tức là nước mưa ở trên trời.
Giông bão mưa to gió lớn đẩy đất trên tường phải trôi. Cậu Hai mất. Thế mới
biết cơ trời huyền diệu biết bao?
Cha mất hai anh em Kiệm, Nên bỏ học về quê trông coi việc đồng áng thay cậu
Hai. Lúc bấy giờ trong làng có ông Bảy Hào là bạn thân của cậu Hai Cảnh, làm
chủ mấy chiếc xe ngựa duy nhất chạy đường Chợ Gạo – Mỹ Tho. Thương tình Hai
Kiệm có cha mới mất nên đã hướng dẫn và sang nhượng lại cho Hai Kiệm một chiếc
xe ngựa và từ đó hai chú cháu hằng ngày quất roi dong ruổi xe ngựa thồ chở
khách và hàng hóa trên đường lộ cái.
Nghề xe ngựa cũng sinh ra nhiều chuyện rất là nhiêu-khê nào là phải thường
xuyên tu sửa xe cộ rồi còn phải thuê người lo cắt cỏ nuôi ngựa, lo gầy giống
hoặc mua thêm ngựa để phòng hờ khi ngựa kéo xe bị bệnh có ngựa mà thay cho nên
trong nhà luôn luôn có đôi ba con ngựa lớn nhỏ. Nhưng chuyện đời nhiều khi còn
nhọc nhằn và nguy hại hơn nữa.
Số là làm nghề lái xe ngựa suốt ngày phơi mình trên đường bụi bậm nắng gắt nên
chiều về đến nhà thường hay tụ tập lại để ăn uống nhậu nhẹt say sưa. Thế là nay
nhậu ở nhà Hai Kiệm, mai nhà Bảy Hào. Nhậu say xỉn rồi có khi ngủ luôn ở nhà
bạn nhậu khỏi về.
Tiếng đồn xa hư thực thế nào chưa rõ, nhưng một đêm ba mươi tối trời mấy
người con ông Cả Tam đốt đuốc sáng choang, rần rật chạy đến nhà Hai Kiệm bắt
gian tế. Bảy Hào đêm đó nhậu say bí tỉ đang ngủ ở nhà Hai Kiệm không biết
chuyện gì xảy ra bèn quýnh quáng nhảy vào trong lu nước có mái che bằng lá dầm
để trốn.
Sự việc được đem ra trước nhà việc Long Bình Điền để xử theo lời thưa của
đại diện bên cáo giác là bà Bảy Dễ, con ông Cả Tam. Rằng đôi bên đã có giao
tình từ lâu rồi, không còn biết gìn giữ nề nếp gia phong của ông bà tổ tiên để
lại gì cả. Đêm ba mươi tối trời cả nhà đã bắt quả tang gian tế đêm hôm đến nhà
bà góa để tư tình, vậy xin thầy Cai theo luật mà xử.
Bảy Hào khai thật là không có dang díu trăng hoa gì với mợ Hai, và mợ Hai
khai rằng Bảy Hào thường hay lui tới nhà ăn nhậu với Hai Kiệm, có hôm say quá
ngủ luôn trên bộ ván gõ ở giữa nhà cho đến sáng mới về, ngoài ra không có tình
ý gì khác. Làng xử bãi nại vì thiếu chứng cớ, hơn nữa hai gia đình là chỗ thân
tình ân nghĩa với nhau nên cũng không nên ép bức thành án tiết làm gì.
Cả họ nhà Cả Tam hội họp không chịu và đòi xử lại với tình tiết nếu Bảy Hào
ngay tình sao lại nhảy trốn trong lu nước, chắc là có gian ý, sợ bị bắt nên mới
trốn như vậy và xin làng xử lại, dù nặng hay nhẹ cũng xin có án tiết để đèn
trời soi sáng người ngay kẻ gian.
Các chức việc họp bàn để tránh lôi thôi, hơn nữa nhà Cả Tam cũng là chỗ quen
biết với các chức việc trong làng nên đã xử ép Bảy Hào có phạm, nhưng giảm nhẹ
là kể từ nay cấm không được đến nhà Hai Kiệm nữa. Còn mợ Hai là người có nhan
sắc lại góa bụa mà không biết giữ gìn ý tứ, đêm hôm có đàn ông lạ say sưa trong
nhà mà không gọi người nhà đưa về nên phạt đòn tượng trưng hai mươi roi làm
gương.
Bảy Hào tình ngay lý gian, vừa giận vừa xấu hổ về vụ trốn trong lu nước được
bàn tán khắp làng trên xóm dưới nên cuối cùng đành bán xe ngựa bỏ xứ đi luôn.
Trong làng có Hai Thả, tướng người to cao, lực lưỡng, cơm trắng mỗi bữa ăn
hết một nồi đồng. Hồi trước có thời được tuyển đi Tây tham gia Thế chiến. Có ai
hỏi chuyện đánh đấm bên Tây ra sao và phong cảnh xứ người như thế nào thì cao
hứng, nhất là khi có hơi rượu, ra điệu bộ ghì cương ngựa cười đắc chí nói là
thuộc lực lượng Kỵ binh của nước Đại Pháp. Nhưng suốt thời gian trong quân ngũ
chỉ ở trong doanh trại chăm sóc ngựa, không có ra trận mạc mà cũng chẳng có đi
đâu nên không biết cảnh trí của nước Đại Pháp ra sao, vả lại đâu có nói được
tiếng Pháp ngay cả tiếng bồi cũng bập bẹ vì suốt ngày chỉ ở quanh quẫn bên
chuồng ngựa.
Đến khi về xứ mang theo mấy sợi dây da bản lớn dùng để liếc dao cạo và mấy
bộ đồ nghề để hớt tóc và chải bờm ngựa tặng cho bạn bè người cùng xứ sở trong
đó có Bảy Hào đang làm nghề xe ngựa.
Bỏ xứ ra đi, Bảy Hào chỉ mang theo bộ đồ nghề kỷ niệm của Hai Thả lên chợ Mỹ
Tho cất nhà ở bến Tắm Ngựa làm nghề hớt tóc ngựa, chải bờm và thay móng ngựa.
Từ đó mỗi khi lên chợ, Hai Thả thường hay đi chân trần ghé nhà Bảy Hào nhậu
chơi cho tới chiều tối hết xe mới cuốc bộ về làng.
Khi ông Cả Tam mất, Chín Kiến, Mười Năng còn quá nhỏ mới lên năm, lên ba nên
Bảy Dễ tuy là người có nhan sắc và đang đến tuổi cặp kê nhưng đã từ chối các
đám dạm hỏi xa gần để ở vậy nuôi em cho đến ngày Chín Kiến, Mười Năng thành gia
thất và Bảy Dễ đành chịu lỡ thời.
Kể ra thì hồi cậu Hai Cảnh lấy mợ Hai làm vợ, cánh em chồng cũng đã bằng mặt
nhưng không bằng lòng, hơn nữa người ở đâu gốc gác không biết rõ mà tự dưng về
làm chủ cả cơ ngơi của ông bà tổ tiên để lại, rồi từ khi về làm dâu nhà Cả Tam,
lại được cậu Hai hết mực thương yêu nên càng khiến cho bên họ nhà trai sinh
lòng ganh ghét. Nay sẵn dịp muốn làm nhục và có cớ đuổi đi. “Đẹp đẽ gì cái ngữ
ấy!” Bảy Dễ dựa vào văn tự án tiết phạt đòn hai mươi roi do làng Long Bình Điền
chấp bút, thay mặt họ nhà Cả Tam đuổi mợ Hai ra khỏi nhà từ đường.
Vì có ba đứa con còn nhỏ nên được cắt cho một phần đất ở vạt sau vườn hơn ba
liếp dừa, có độ chừng trăm gốc dừa lão để nuôi con. Ruộng vườn đất đai của kiến
họ Trần từ nay thuộc về vợ chồng Hai Kiệm và kỵ giỗ hằng năm Hai Kiệm lo. Bảy
Dễ trông coi đất nghĩa trang gia tộc, phần mộ ông bà và khi trong họ có người
qua đời thì bà ấn định nơi chôn cất “chỉ đâu chôn đó.”
Mợ Hai có khiếu nại nhưng cũng không đi đến đâu vì đơn thân độc mã làm sao
chịu nổi cánh bên chồng trì triết đã lâu. Hai Kiệm là con cả mà còn im thin
thít thì ai vào mà giúp cho mợ Hai được. Thôi đành chịu vậy. May còn được một
mảnh đất cất nhà, ráng nuôi heo và mở hàng quán bán tạp hóa trong xóm để nuôi
con.
Sau nầy, thấy tình cảnh mấy mẹ con mợ Hai túng thiếu, người em gái thứ năm
của ông Cả Tam lấy chồng đại điền chủ bên làng Tân Mỹ Chánh bỏ tiền ra chuộc
lại hai miếng đất biền nằm sát bờ kinh trên lộ đá, dọc theo nghĩa trang kiến họ
Trần để cho mấy mẹ con ra công cày cấy có gạo thóc mà ăn. Khó khăn nhưng mẹ con
vẫn đùm bọc, nương tựa lẫn nhau, còn Ba Nên thì đi biệt tông biệt tích từ dạo
Việt Minh về làng.
Thật ra lúc ban đầu Ba Nên sẵn có tiền trong túi cũng chỉ muốn lên chợ Mỹ
Tho rong chơi thôi, đồng thời lánh mặt một thời gian rồi cũng sẽ trở về làng
sinh sống vì dù sao ở quê, lại là con của đại điền chủ nên đời sống rất nhàn hạ
và đầy đủ, đi đâu làm gì sao cho bằng. Nhưng sau vì Việt Minh làm căng quá, vả
lại vừa hết tiền vừa nghe nói họ kỷ luật gắt lắm, đã xử bắn hết mấy người trong
làng bị qui cho là làm gián điệp theo Tây. Ba Nên quyết định ở lại Thị xã và
nhờ người bà con xa với ông Phủ Phát giúp đỡ cho làm tạp dịch, chạy công văn ở
Tòa Bố Mỹ Tho.
Tám tháng sau Ba Nên đăng lính Police Communale tỉnh Mỹ Tho và từ đó bỏ xứ
đi luôn.
Sau hiệp định Genève năm 54 Ba Nên biệt phái trở về Tòa Bố Mỹ Tho phụ trách
phòng công văn như trước đây.
Từ khi biệt phái về Tòa Bố Mỹ Tho, bạn đồng sự gọi Ba Nên là thầy ký Nên cho
dễ phân biệt với ông Phủ Nên (Trần văn Nên) vừa trùng cả tên lẫn họ. Đến khi
miền Nam thành lập nền Đệ nhất Cộng Hòa, ông tham gia tích cực vào Phong Trào
Cách Mạng Quốc Gia (CMQG), trụ sở đặt ở góc đường Hùng Vương – Lê Đại Hành.
Ngoài ra ông còn là đoàn viên tích cực trong đoàn Thanh Niên Cộng Hòa tỉnh Định
Tường.
Lúc bấy giờ, phong trào CMQG phát động chương trình học tối để thi lấy bằng
cấp phổ thông dành riêng cho công chức và quân nhân. Thầy ký Nên ngoài phần
việc tuyên huấn lo ấn loát các loại sách bìa hai màu trắng đỏ với nhiều nội
dung “Cộng sản tới đâu gieo sầu tới đó” còn luôn tham dự đều đặn các lớp học
nầy cho nên chỉ sau một thời gian ngắn là đủ điều kiện để thi nhập ngạch thư
ký. Nhưng dù được gọi để phân biệt tên hay thực sự đi nữa thì ông vẫn làm việc
và tham gia phong trào CMQG một cách nhiệt tình hiếm thấy.
Sau cuộc binh biến năm 1963, thầy ký Nên bị kết án thuộc đảng Cần Lao nên
phải bỏ trốn lên xứ đạo Công giáo ở tận ngoài ngã ba Liên Khương (Đà Lạt) Còn
gia đình vợ con thì trôi dạt về sinh sống bên quê vợ, được gia đình bên vợ cắt
đất, cất một căn nhà để ở và mua bán làm ăn tại chợ Cai Lậy. Khi nền Đệ nhị
Cộng Hòa được tái lập ông được phục hoạt trở lại và tùng sự tại Tòa Hành Chánh
tỉnh Tuyên Đức. Sau đó tình nguyện trở về lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia cho đến
Tết Mậu Thân năm 1968 thì bị bắt trong trận cộng sản tấn công vào quận Cai Lậy
khi đang về nghỉ phép ăn Tết tại đây. Trên đường giải về mật khu, may nhờ có
người bà con bên vợ ở trong vùng do cộng sản kiểm soát giúp trốn thoát được về
vùng quốc gia.
Sinh tử nhiều phen, từ ngày rời làng quê, cố thổ cho đến khi bị bắt tưởng
đâu đã hết đường sống là hơn hai mươi năm. Bình yên được chín năm, sau đó là
quãng đời cùng là phía quốc gia, chung màu cờ sắc áo mà cũng phải chịu nhiều
gian truân, dị nghị. Thầy ký Nên quyết định thôi việc mặc dù tuổi đời mới ngoài
bốn mươi.
Với sự quen biết rộng rãi hồi thời trước, nhiều cơ sở làm ăn kinh doanh lúc
Mỹ mới qua ồ ạt như xây cất cao ốc cho thuê, xuất nhập khẩu hàng hóa muốn hùn
hạp làm ăn, nhưng ông luôn từ chối viện lý do bệnh tật, sức khỏe kém. Tự trong
thâm tâm ông đã thấy trước được con đường cùng. Một phần tiếc nuối thời chín
năm thanh bình, no ấm dưới đời Tổng Thống Diệm, phần khác thấy thời cuộc ngày
càng rối ren và cộng sản đang từng bước mở rộng vùng ảnh hưởng. Từ đó nỗi ám
ảnh lo sợ sẽ bị bắt lại khi cộng sản tràn về thành phố như hồi Tết Mậu Thân
khiến ông bắt đầu chìm đắm trong đời sống thinh lặng, không giao tiếp với bất
cứ ai. Lâu dần trở thành người đãng trí, khi nhớ khi quên.
Đến năm 75 sau khi cộng sản toàn thắng, thầy ký Nên quên hết mọi sự chỉ còn
nhớ độc nhất con đường đi bộ về làng. Được chừng vài năm ông qua đời sau một
cơn đột quỵ. Hai Kiệm đã hy sinh trong đồn cây số 7 khi cộng sản nhờ nội tuyến
đánh úp đồn trước đó mấy năm. Hai người anh trai của mợ Hai Cảnh tập kết ra
miền Bắc năm 54 đã lập gia đình ở ngoài ấy, sau 75 có trở về thăm nhà và các em
duy nhất chỉ có một lần rồi đi luôn không bao giờ trở lại nữa. Tất cả anh em,
bè bạn theo Tư Bê hồi trước đều đã qua đời trong chiến tranh và được yên nghỉ
trong các nghĩa trang họ tộc ở trong làng.
oOo
Tư Bê, thủ lãnh năm xưa còn sống sót, ra mặt tham gia chính quyền mới ngay
từ khi còn là Ủy Ban Quân Quản thành phố Mỹ Tho. Khi hoạt động trở lại, Tư Bê
lập gia đình chính thức với một nữ cán bộ lâu nay vẫn thường hay cặp kê trong
thời kỳ hoạt động bí mật là Năm Thanh, Tỉnh ủy viên Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
tỉnh Tiền Giang.
Trong những ngày đầu tiếp quản thành phố, Tư Bê huy động các nhân viên và
học sinh trường Nông Lâm Súc ở Cầu Bắc, Mỹ Tho đi kiểm kê các cơ sở tài chánh
trong tỉnh, đặc biệt là Ty Ngân khố và Ngân hàng. Kiểm kê xong, thay vì đựng
lại trong két sắt, Tư Bê cho đựng tiền trong các thúng hay bao bố. Nói là kiểm
kê nhưng thực ra trong thời kỳ tranh tối tranh sáng làm gì có sổ sách phân
minh, chỉ toàn là viết tay trên giấy vở học trò. Giống như trước đây gần ba
mươi năm, mọi người cũng đeo băng đỏ, nhưng bây giờ có súng, đông hơn và băng
đỏ to hơn được gài kim băng may chỉ viền cẩn thận.
Tư Bê làm việc gì chức vụ ra sao? Không ai biết. Chỉ biết hai vợ chồng cư
ngụ tại biệt thự là văn phòng của Mặt Trận Tổ Quốc ở đường Lê Lợi (nguyên là
công xá dành riêng cho ông Hiệu trưởng trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ
Tho.) Dưới trướng Tư Bê ngoài một số dân quê ở trong vùng cộng sản mới ra thành,
còn lại đa số là người của chế độ cũ gồm cả giáo viên hay kỹ sư thất nghiệp do
quen biết trước đây khi hoạt động trong nội thành. Sau nầy, mọi người mới biết
là ba đứa con trai với người vợ cũ (ly dị lâu rồi) đã được Tư Bê đưa đi vượt
biên bất hợp pháp trong những đợt đầu tiên ở tỉnh Tiền Giang.
Trong các cơ quan nhà nước, chỗ nào, đơn vị nào thuộc khoa học kỹ thuật hay
làm kinh tế là có Tư Bê, ông ta luôn tạo thành các phong trào rầm rộ chẳng
những dồi dào về tiền bạc, phương tiện xe cộ mà còn có những cơ sở rất là to
lớn, bề thế nhất nhì ở tỉnh Tiền Giang. Điển hình nhất là xí nghiệp Da xuất
khẩu. Thời đó, sau 75 chừng vài ba năm mà ở Mỹ Tho đã có xí nghiệp sản xuất các
mặt hàng tiêu dùng như giày dép, giây nịt, túi xách, cặp, ví cầm tay loại da
cao cấp xuất khẩu đi nước ngoài.
Không biết là do có con vượt biên ra nước ngoài hay do sử dụng nhiều nhân
viên thuộc chế độ cũ, cũng có khi nhập nhằng sai phạm về tài chánh mà có tiếng
đồn xa gần, nếu như không nhờ vợ là bà Năm Thanh thì Tư Bê đã đi tù từ lâu rồi.
Về thành được hơn mười năm bà Năm Thanh qua đời. Tư Bê nghỉ hưu luôn sau khi
đã được cấp đất cất nhà trong khu vườn của Bà Giáo ở phía sau Nhà Đèn, Chợ Cũ.
Được vài năm ông ta lại bán nhà để trở về bến đò Lộ Vàm sống một mình trong căn
nhà cũ cất bằng cột dầu vuông. Không biết về hưu rồi mới bị tai biến hay vì bị
tai biến mà được nghỉ hưu, người ta chỉ biết rằng từ khi trở về quê cũ, Tư Bê
hằng tháng tự mình ngồi xe lăn qua bến đò Lộ Vàm lên Mỹ Tho để lãnh tiền hưu.
Mặc dù có một suất trong nghĩa trang liệt sĩ ngoài ngã ba Trung Lương cạnh
bà Năm Thanh, nhưng Tư Bê lại mua một vuông đất nhỏ ở làng Long Bình Điền bên
cạnh lộ Nhà Thờ (Thủ Ngữ) gần nghĩa trang tộc họ Trần để dành chôn cất khi qua
đời. Không biết có được phép hay không mà Tư Bê sau đó đã bốc mộ của bà Năm
Thanh ngoài nghĩa trang liệt sĩ đem về cải táng trong khu đất mới mua. Cuối năm
95 Tư Bê qua đời.
Trên bia mộ đề tên Trần Hồng Quân theo như lý lịch khai sinh. Nhưng dân làng
chỉ biết đó là ngôi mộ của Tư Bang và không một ai biết rõ ông ta tên thật là
gì./.
Trần Bạch Thu