Nếu thực sự có mùa xuân êm đềm, và tươi thắm tới cỡ đó mà
bạn vẫn chưa hài lòng thì xin nghe thêm vài câu nhạc nữa – cũng từ bản
“Hoa Xuân,” của Phạm Duy :
Tôi dám cá là ngay cả vào Thời Trung Cổ, cũng không
nơi nào có một mùa xuân an bình và tươi đẹp đến như vậy. Mà Phạm Duy đâu
phải là người thuộc Thời Trung Cổ. Vậy chớ thằng chả kiếm ở đâu ra
một mùa xuân (vào thời đại chúng ta) mà thái hòa và an lạc dữ vậy cà?
Thiệt nó đẹp như mơ vậy đó nha. Và sao tui nghi là ổng đã nằm
mơ (thiệt) quá hà. Chớ giữa chúng ta, nhất là những kẻ sinh trưởng ở miền Nam
Việt Nam, có mấy ai đã từng nhìn thấy cái đê. Bờ đê trần trụi vắng hoe cũng
khỏi có luôn, nói chi đến “một bầy em bé … hát câu i tờ đón xuân về ”
– vào một buổi chiều xuân nào đó, đã xa lắc xa lơ – trên bờ đê lộng gió!
Còn chuyện “có một chàng thi sĩ miền quê, ngắt bông hoa
trao người xuân thì ” (… ôi thôi) nhắc đến làm chi cho nó
thêm buồn. Tìm đâu ra (nữa) một ông nội làm thơ dễ thương và hiền lành
đến thế?
Tui nói vậy bạn dám cãi lắm nha. Bạn dám sẽ đưa Nguyễn Bính
ra làm bia đỡ đạn, với lý do “ổng là thi sĩ miền quê cuối cùng” của thời đại
chúng ta. Tệ hơn nữa, bạn còn dám mang những bài thơ lục bát (đã được “phóng ảnh
treo tường” để bán) của Nguyễn Duy ra để hù tui nữa – không chừng?
Xin lỗi bạn chớ, cỡ Tú Xương đây mà cũng đã có lúc phải ứa lệ
– rấm rứt khóc thầm (dám bằng tiếng Pháp) vì nạn đô thị hóa, đây nè :
Sá gì Nguyễn Bính, nói chi tới cỡ Nguyễn Duy. Tóm lại, tui
tin rằng Nguyễn Khuyến mới đích thực là thi sĩ miền quê cuối cùng của dân tộc
Việt Nam :
Chớ còn mấy trự làm thơ (lóc nhóc) sau này đều đã bị đô thị
hóa, đã “phong sương mấy độ qua đường phố” hết trơn rồi – theo như cách nói của
Sơn Nam. Và tôi ngại nhất là cái kiểu bụi đời (ướt át) của ông Thế Lữ :
Bạn thấy chưa : lại thêm hai ông nhô con bỏ nhà “dzô” Nam,
thuê gác trọ, sống giữa Sài Thành Hoa Lệ. Mà đi giang hồ chút đỉnh vậy là phải
chớ. Chính quê hương của Nguyễn Bính cũng đã nhiễm bụi thị thành từ lâu rồi,
còn nấn ná ở đó làm chi cho mụ người ra :
Coi : nàng mới ra tỉnh về (có chút xíu hà) mà hoa đồng cỏ nội
đã bay đi mất liền một mớ. Lỡ mà “ẻm” ghé chơi Hà Nội hay Hải Phòng ( chậm lắm
) ba đêm kể như rồi, còn gì là “người xuân thì” theo tiêu chuẩn “chân quê” nữa
?
Bạn hết cãi chưa ? Dù bạn đã tắt đài, tôi biết bạn vẫn còn ấm
ức vì cái giọng điệu hoài cổ cực đoan và (hơi) quá khích của tui từ khi đặt bút
xuống cho tới bây giờ – phải không nào?
Đừng có nghĩ bậy bạ như vậy, mang tội chết à nha, mấy cha!
Coi : cuộc tình dấm dớ của một anh thi sĩ miền quê với một cô gái xuân thì –
hay hình ảnh một bờ đê lộng gió, với bầy em bé tung tăng, hát câu i tờ, vào
buổi chiều xuân có nắng vàng hanh nào đó – hoàn toàn và tuyệt đối có
liên quan, dính dáng gì tới tui đâu. Cớ sao tui lại hoài cổ chớ ? Đây là chuyện
riêng của … Bà Huyện Thanh Quan hay ( cùng lắm ) là của ông nội hoặc của ông
già tôi thôi hà.
Mà hoài cổ, theo tôi, là thứ tình cảm hơi khó hiểu. Làm sao
chúng ta có thể yêu mến hay ngưỡng mộ một thời đại mà mình tuyệt đối không có
mắc mớ gì tới nó ? Hoài vọng hay hoài cảm, có lẽ, dễ hiểu và phổ biến hơn. Mọi
người, khi bắt đầu luống tuổi, hẳn đều thấy tiếc nuối ít nhiều khoảng ấu thơ
hay niên thiếu của mình – dù chúng ta sinh ra và trưởng thành ở bất cứ đâu.
Dù vậy, tôi vẫn lậy Trời cho bạn đừng xui tới cỡ là sinh ra ở
miền Bắc – vào khoảng thập niên 1940, 50, hay 60 – và cứ phải sống mãi ở nơi đó
cho đến bây giờ. Tuổi thơ và tuổi trẻ của bạn – tất nhiên – cũng đẹp, cũng thơ
mộng vậy; tuy nhiên, tôi tin là nó sẽ đẹp hơn, mộng mơ hơn (chút đỉnh) nếu Bác
và Đảng đừng xía vô cuộc đời bạn quá nhiều – như họ vẫn cứ thích làm như thế,
từ nửa thế kỷ qua.
Còn nếu bạn sinh trưởng ở miền Nam thì đỡ mệt biết chừng nào
mà nói. Sẽ không ai bắt bạn phải đeo khăn quàng đỏ và đi nhặt rác để hoàn
thành kế hoạch nhỏ. Bạn cũng được miễn cái vụ “thay trời làm mưa” hay “nghiêng
đồng cho nước chảy ra ngoài,” và bạn được tự do đi biểu tình “đả đảo”
hoặc chửi rủa bất cứ thằng cha hay con mẹ (cà chớn) nào mình không thích.
Trong một hoàn cảnh sống tương đối dễ thở như thế (và nếu bạn
lại sống trong một thành phố ở cao nguyên ) thì hình ảnh “xuân về trên bãi
cỏ non” (kể như) chỉ là chuyện nhỏ thôi. Điều đáng tiếc là những ngày tháng
an lành, phẳng lặng đó không kéo dài lâu.
Đến khoảng cuối thập niên năm mươi, theo trí nhớ non nớt của
tôi, trong không khí an bình của miền Nam thoang thoảng đã có mùi vị chiến
tranh – qua những bản nhạc tâm lý chiến (thường được hát ở phòng trà và nghe ra
hơi nhiều kịch tính ) của những ông nhạc sĩ quân đội, như bản “Phiên Gác Đêm
Xuân” của Nguyễn Văn Đông chả hạn:
Trời đất, đơn vị bạn đụng địch, “súng xa vang rền” mà Nguyễn
văn Đông vẫn đang mơ ngủ. Không hề nghe ổng ban lệnh ứng chiến hay kế hoạch cứu
viện gì hết trơn hết trọi; đã vậy, sau khi tỉnh giấc, ổng bắt đầu … mơ mộng :
Thiệt tình, ổng làm đảo ngược binh pháp hết trơn. Người ta
thì cư an tư nguy còn ổng thì cư nguy tư an. Những sĩ quan cao cấp trong quân
đôi miền Nam, như đại tá Nguyễn văn Đông, chắc có hơi nhiều ; bởi vậy, chỉ chừng
mười năm sau, năm 1968 thì súng AK của Trung Cộng và Tiệp Khắc nổ thiệt và nổ
khắp bốn mươi tỉnh lị và thành phố của miền Nam (kể luôn thủ đô Sài Gòn).
Cũng từ đây, chiến tranh lan vô thành phố. Nay, “plastic” đặt
nổ “lầm” chỗ này ; mai, hỏa tiễn 122 ly rơi “lộn” vô chỗ khác. Và dù vậy, xã hội
miền Nam vẫn cứ vui như tết – khi Tết đến.
Nếu so với miền Bắc – nơi mà vì “hoàn cảnh đất nước khó
khăn” nên chỉ có quí vị ủy viên trung ương đảng CSVN uống rượu mừng xuân, thay
cho cả nước – người dân miền Nam hoàn toàn bình đẳng trong chuyện đón xuân. Cứ
nghe bản “Ly Rượu Mừng” của Phạm Đình Chương là đủ biết:
Coi : nẫy giờ mới chừng mười phút mà mỗi người đã uống đâu cỡ
chục ly : ly tặng anh nông phu, ly chào anh công nhân, ly mừng ông thương gia,
ly mừng người nghệ sĩ … Chưa đã, còn thêm vài “chén quan san” để “chúc người
binh sĩ lên đường” nữa. Thiệt, vui còn hơn tết và cả nước (chắc chắn) đều “xỉn”
thấy mẹ luôn!
Thỉnh thoảng mới có vài chiến sĩ say mê chiến đấu (hay
đãng trí) đến độ quên luôn cả nhậu, và nhất định “Xuân Này Con Không Về” :
Những chàng “trai hùng chào xuân chiến trường” như thế,
tiếc thay, không nhiều và cũng không mấy khi được giữ những chức vụ cao
trong quân đội. Điều đáng tiếc hơn nữa là trong cuộc chiến tự vệ vừa qua, quân
dân miền Nam đã áp dụng một chiến lược (rất) sai lầm. Thay vì “vui nhiệm vụ
không quên xuân” thì họ đã làm ngược lại là “vui xuân nhưng không quên nhiệm vụ”.
Nói cách khác “vui xuân” mới là chuyện chính, còn “nhiệm vụ” chỉ là chuyện phụ
(và là chuyện nhỏ) thôi !
Cùng lúc – ở miền Bắc Việt Nam – khi Tết đến (sau khi nghe
chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội, tổng bí thư, thủ trưởng ban ngành, đơn vị …
chúc tết xong ) là mọi người đâm bổ đi “tranh thủ làm việc gấp hai” để “thi đua
lập chiến công dâng đảng.” ( Đ … mẹ chơi vậy ai chơi cho lại, mấy cha ! )
Cuộc chiến Bắc Nam chấm dứt ra sao, vào mùa Xuân năm 1975, mọi
người đều biết (và đều tiên đoán được). Từ đó, nhân dân hai miền đều chỉ còn được
nghe một bản nhạc xuân duy nhất : “Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh quang
vinh, ôi đẹp biết bao, biết mấy tự hào. Sài Gòn ơi cả nước vẫy tay chào …”
Cũng như bạn, tôi chịu không nổi cái loại nhạc (thổ tả) này
nên đã vẫy tay chào “thành phố Hồ Chí Minh quang vinh” để … ra đi, và đi
hơi sớm. Từ đó đến nay đã mấy chục năm qua. Biết bao nhiêu là nước sông, nước
suối, nước mương, nước rãnh … đã ào ào chảy qua cầu (và qua cống) ?
Chiều nay, chiều cuối năm, ở một góc trời xa, tôi ngồi ghi lại
những ý nghĩ lan man vụn vặt để gửi bạn đọc chơi – sau khi nghe hết một CD nhạc
trong quán vắng, bắt đầu từ bản Hoa Xuân của Phạm Duy, đến bản cuối cùng (“Xuân
Này Con Không Về”) của Trịnh Lâm Ngân.
Nhạc xuân gì mà nghe buồn quá má ơi!
Tưởng Năng Tiến (1990)
