20 June 2018

ĐÊM GIAO THỪA TRÊN ĐẤT TIỆP - Đinh Quang Anh Thái



Bữa cơm và “chè lá” ngày đầu làm quen tại Tiệp.

Trần Ngọc Tuấn gọi tôi là “Người khách mùa Ðông.”
Chả là, ba năm liền, cứ vào những ngày tháng lạnh lẽo nhất của Ðông Âu, tôi lại khăn gói đến chơi với anh em sinh viên và công nhân Việt Nam tại các đất nước vừa thoát khỏi chế độ Cộng Sản. Chẳng cố ý gì cả. Tôi thích giang hồ vặt vào những ngày cuối năm, thế thôi.

Nhà văn Nguyễn Tuân có lần thốt lên, “ra đi, không nhất thiết phải có nơi để đến, mà ít nhất có nơi để rời bỏ.”

Tôi rời Erlangen vào đúng buổi sáng 30 Tết Ta, năm 1992. Thời gian đó đang là mùa Ðông nước Ðức, tuyết phủ đầy trời. Hai đêm liền hầu như thức trắng với anh chị em tờ Cánh Én. Mắt tôi cay sè. Uống cạn ly đầy, rót đầy ly cạn với Ðỗ Ngọc, Hồ Huy, Hoài Hương cùng nhiều anh em khác và những câu chuyện tâm tình giữa những người trẻ từng thuộc hai miền đất thù nghịch đã làm bật lên nhiều cảm thông lý thú.

Ðỗ Ngọc, bút hiệu Đỗ Quyên, đặc sệt “Bắc 75,” râu quai nón, ăn nói bỗ bã. Hồ Huy, trọ trẹ giọng Quảng Bình, làn da tái xanh như mới chui từ rừng ra. Hoài Hương thì quê Nam Bộ, từng là Thanh Niên Xung Phong, giọng nói có vị ngọt của sông nước Cửu Long.

Mà chả cứ là miền nào, mọi người tìm đến nhau cũng chỉ vì có nhiều điểm chung: quá khứ nhọc nhằn, hiện tại bất trắc và cùng mơ ước tương lai tốt đẹp cho bản thân và cho đất nước đang cách xa nửa vòng trái đất.
Vì thế mới có Cánh Én, một trong những tờ báo của công nhân và sinh viên Việt Nam trên đất Ðức vừa thống nhất. Ðể thông tin và tranh đấu cho Việt Nam dân chủ tự do.
Trong lúc chờ tàu ở sân ga Erlangen, Hoài Hương hỏi, “sao anh không ở lại đón Giao Thừa với Cánh Én?” Tôi bảo, “đã hẹn với các bạn Ðiểm Tin Báo Chí và Diễn Ðàn rồi, không thể hủy được.”
Rồi tôi lên tàu, mang theo hình ảnh của anh em Cánh Én với cái túi ni lông của Hoài Hương cho, bên trong có ổ bánh mì và chai nước ngọt.
Trở lại Plzen
Con tàu từ Ðức vào Plzen trên đất Tiệp hôm nay vắng khách. Chỉ một mình tôi với tôi trong cả một toa. Sướng điên người. Nhớ hai lần trước, cũng tuyến đường này, người như nêm, khói thuốc mù mịt, đã thế còn “bia bọt” ầm ĩ nữa chứ. Ðức lẫn Tiệp nổi tiếng bia ngon mà.
Ngoài trời, tuyết trắng xóa. Tôi chợt nhớ đến những cuốn phim về Thế Chiến Thứ Hai, với các toa tàu đầy lính Ðức Quốc Xã chuyển quân và súng đạn đi vào các quốc gia Ðông Âu. Hình ảnh ấy đối với tôi trước đây chỉ xem trong phim ảnh, nhưng hôm nay, chính tôi đang ngồi trên tuyến tàu đó, cũng đi về hướng Ðông Âu.
Năm ngày qua, quây quần với Cánh Én, nghe câu chuyện của từng người, mới thấy sao Việt Nam mình nhiều chuyện buồn đến thế.
Ðỗ Ngọc, Hồ Huy, Hoài Hương, tất tật đều có những ngày tháng nhọc nhằn, đói khát, buồn tủi trước khi rời quê sang xứ người. Nơi đất Ðức, người thì du học, người thì lao động kiếm cơm. Và ai cũng chịu nhiều hắt hủi bất công. Khu cư xá người Việt là nơi để mọi người trở về tìm đến nhau. Có lần tôi hỏi Ðỗ Ngọc mơ gì, Ngọc nói, chỉ mong sao có ngày về lại đất nước mình mà không còn bị đói khổ, trù dập, nhất là được làm báo, được viết lách thả giàn. Nghe Ngọc và tôi nói, Hồ Huy ngồi bên thốt lên, được đến như thế thì hẳn là đất nước đã tự do rồi!
Ông “Góc Ðộ”
Lần đầu tiên tôi vào Tiệp là năm 1990. Lúc đó, đất nước này đang trên đà hồi sinh sau cuộc Cách Mạng Nhung. Tôi đến Tiệp chỉ với mục đích kết bạn với người Việt mình, những người mà hầu hết có quá khứ thuộc về chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa miền Bắc. Tôi còn nhớ tâm trạng xốn xang của mình buổi chiều tối hôm đó. Suýt nữa thì tôi bị rơi lại tại sân ga bốc rỡ hàng Plzen. May mà có một người Tiệp nói được tiếng Anh cản lại, và bảo cho tôi là ga hành khách Plzen ở trạm kế tiếp cơ. Hai trạm cách nhau vài cây số!
Ngô Văn Chính và Trương Tiến Dũng đón tôi ở sân ga. Đôi bên không hề biết mặt nhau. Chúng tôi chỉ hẹn nhau qua trung gian một người bên Ðông Ðức giới thiệu bằng điện thoại.
Chính người nhỏ nhắn, mặt choắt nhọn, cứ mở miệng ra là “góc độ nào đấy”… thì… Vì thế, tôi gọi đùa Chính là “Ông Góc Ðộ.” Còn Dũng thì rõ ra là công tử, quần bò (jean), áo da, tóc tai gọn gàng, duy giọng nói khàn khàn như bị cảm. Sau thủ tục chào hỏi nhận diện, Chính lái chiếc ô tô con đưa tôi ra phố để xem bộ mặt của thành phố lớn hàng nhất nhì nằm về phía Tây của xứ Tiệp. Tôi đưa Dũng 100 đô Mỹ nhờ mua chút đồ nhậu để tối “bù khú.” Dũng bảo, anh định mời cả Plzen ăn tối nay hay sao đấy, vì đồng tiền koruna của Tiệp rẻ lắm, 100 đô thì tiêu thế nào hết được!
Chúng tôi sắm gần đầy xe, nào là bia, thức ăn khô, thuốc lá… Chỉ nước đá là không đào đâu ra. Ông Góc Ðộ bảo, “góc độ nào đấy thì anh sẽ thấy cách bọn em ướp bia lạnh.” Về tới khu chung cư dành cho công nhân, việc đầu tiên là Chính sắp bia thành từng lớp ở ngay khe cửa sổ để hở. À thì ra đây là chiếc tủ lạnh thiên nhiên của Ông Góc Ðộ. Cực kỳ sáng tạo! Dũng ơi ới thông báo cho anh em biết có khách đến chơi. Khoảng chục người kéo vào, ngồi chật kín căn phòng ngang dọc chỉ đủ để hai cái giường con. Chính làm một màn tự giới thiệu trước, “cơ bản chẳng dấu gì anh, góc độ nào đấy bản thân em là Bí thư Chi bộ đảng tại Plzen, trông coi anh em công nhân Việt Nam lao động tại đây.” Rồi tới Dũng, đoàn viên Ðoàn Thanh Niên Hồ Chí Minh tại Tiệp. Hoàng Quốc Cường, to khỏe, dân tập tạ, thân hình như tài tử xi-nê. Nông Ðình Bửu, dân miền núi. Lan, người miền Nam, đang du học và là em gái ruột của Nguyễn Thái Bình, người sinh viên thân Cộng cướp chiếc máy bay Air Việt Nam và bị bắn chết ở sân bay Tân Sân Nhất năm 1973. Rồi Hà. Rồi Yến. Và lần lượt tới những người khác nữa. Hầu như ai cũng thuộc thành phần gắn bó với chế độ Cộng Sản. Tôi cũng chẳng dấu lý lịch của mình, gia đình di cư 54, bố và các anh là sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, bản thân bị tù hơn 7 năm vì in báo bí mật chống Cộng Sản sau 75.
Câu chuyện râm ran như pháo Tết. Ông Góc Ðộ hăng nhất. Chàng ta lôi ngay hai số báo đầu tiên của tờ Ðiểm Tin Báo Chí và tờ Diễn Ðàn Praha ra khoe và nói về phong trào dân chủ của anh em Ðông Âu. Nghĩa là không chỉ ở Tiệp, mà còn ở Ðức, Ba Lan, Bulgaria, Nga. Dũng nói, anh Chính đã góp nhiều công trong việc in ấn tờ Ðiểm Tin Báo Chí, nhờ chức Bí Thư Chi Bộ, anh ấy dễ dàng quan hệ với mọi người để từ đó gây phong trào. Dũng sau này trở thành Chủ Tịch Phong Trào Liên Kết Người Việt Tại Ðông Âu.
Cùng sinh viên Tiệp đi biểu tình – “Phủi” đánh “Xù”
Ngay những ngày đầu của cuộc Cách Mạng Nhung, trong hàng ngũ công nhân và sinh viên Tiệp kéo nhau xuống đường biểu tình có cả công nhân và sinh viên Việt Nam. Do làm cùng sở, học cùng trường, nên các anh đi thì chúng tôi đi, chứ ý thức về dân chủ tự do thì chưa có. Thế rồi Cách Mạng thành công. Nhiều sinh viên và công nhân Tiệp trong phong trào đấu tranh bỗng trở thành những người có vai trò trong các công xưởng, trường học. Thế là họ khuyến khích bạn bè người Việt ra báo để thông tin cho đồng bào Việt được biết những diễn biến đang xảy ra, và đồng thời bênh vực “Xù” trước những hành động ác độc của bọn “Phủi.”
Theo lời giải thích của Trương Tiến Dũng, vì thời tiết quá lạnh, người mình mặc quá nhiều lớp áo quần cho ấm, trông ai cũng cứ…xù ra một đống! Thế là cứ gọi nhau bằng Xù. Còn Phủi là cách gọi của người Việt để chỉ bọn du đãng Ðầu Trọc (Skinhead) bản xứ.
Khi cuộc Cách Mạng Nhung bùng nổ trên khắp đất nước, bọn Phủi bắt đầu kéo nhau hàng đoàn đi tìm Xù mà đánh. Nhiều chuyện nghe đến hãi hùng. Một anh công nhân đi trên tàu điện bị bọn Phủi dùng một cái đinh dài đóng vào đầu, rồi chúng quăng xác anh ra khỏi toa xe trong lúc tàu đang chạy. Một nữ sinh viên thì bị chúng vây trên tàu, cứ chửi một câu lại bẻ một cánh tay của cô. May mà cô sống sót nhưng phải nằm bệnh viện cả tuần lễ. Tại Ostrava, một thành phố nằm về phía Ðông, gần biên giới Ba Lan, bọn Phủi còn kéo nhau đến vây đánh một chung cư của công nhân Việt Nam. Công nhân rút lên lầu tử thủ, cảnh sát phải đến giải vây.
Sự kỳ thị người Việt (Phủi đánh Xù) kể trên cũng có một phần nguyên nhân của nó. Khoảng 40 ngàn công nhân Việt Nam sang Tiệp lao động, ai cũng lao vào đủ các ngành nghề, kể cả thứ việc mà dân bản xứ chê không làm như đóng giầy, may mặc…Sự kiện này làm bực mình dân Tiệp. Rồi vì muốn mua những mặt hàng của Tiệp như vỏ xe đạp, quần áo, máy móc để gởi cho người thân ở quê nhà, công nhân và sinh viên Việt Nam thi nhau đứng sắp hàng từ sáng sớm tới tối tại các cửa hàng quốc doanh, khiến dân Tiệp không len chân vào được. Cứ như lửa đổ thêm dầu, tâm trạng bực tức, nhất là của bọn Phủi, cứ âm ỉ và đã bùng nổ khi xảy ra Cách Mạng Nhung. Bọn chúng hô hoán lên rằng, Xù qua Tiệp cướp việc làm, lấy đi của cải của dân bản xứ. Thế là Xù bị chặn đánh ở các sân ga, các ngõ đường vắng, và ngay cả nơi thị tứ.
Trong bối cảnh ấy, Chính, Dũng, Cường, Bửu, Lan, Hà, Yến là những người khai sinh ra tờ báo đầu tiên của người Việt tại Tiệp: tờ Ðiểm Tin Báo Chí. Thoạt tiên, anh em chỉ có nhu cầu thông tin cho đồng bào về những diễn tiến trên đất Tiệp, bằng cách dịch các bài viết trên báo Tiệp sang Việt ngữ, vì ngoại trừ sinh viên, công nhân người mình hầu hết không thông thạo tiếng bản xứ. Thế thôi, chứ chưa mấy ai có ý thức về nhu cầu đấu tranh dân chủ tự do. Dần dà, đọc báo chí của Tiệp viết về tội ác của Cộng Sản Tiệp, Cộng Sản Nga, về cuộc đàn áp phong trào nổi dậy Mùa Xuân Praha 1968, Ðiểm Tin Báo Chí bắt đầu chuyển thành tờ báo của phong trào dân chủ, tạo nguồn cảm hứng cho các tờ Diễn Ðàn, Thời Mới, Tự Do, Tin Sáng, Cánh Én, Thông Ðiệp Xanh, Thiện Chí…lần lượt ra đời tại các nước Ðông Âu, và Nga.
Bài thơ Bác Hồ
Minh, công nhân, làm việc tại xưởng sản xuất bia ở Plzen. Cô có giọng nói nhẹ và khuôn mặt thật hiền. Hỏi Minh biết gì về “thần tượng Hồ Chí Minh,” cô nhỏ nhẹ: “Em thấy những gì mà người ta nói về ông Hồ thì quả thật ông ấy là bậc Thánh, nhưng Thánh mà sao để đất nước mình nghèo đói đến thế?” Rồi Minh đọc cho tôi chép những vần thơ dân gian về ông Hồ:

Chú bộ đội thức dậy
Thấy ba lô mất rồi
Mà sao Bác vẫn cười
Trông Bác nghi nghi lắm
Chú bộ đội dấm dẳng
Xin Bác trả đi thôi
Bác Hồ miệng mỉm cười
Dạy bảo chú bộ đội
Nhân danh tình đồng chí
Bác khuyên chú điều này
Nội nhật trong đêm nay
Lấy ngay của thằng khác.

Minh bảo tôi, “quanh quẩn thế đấy anh ạ, chế độ ta cứ đứa này lấy của đứa kia!” Minh còn tâm sự là sẽ về lại Việt Nam, với hy vọng đem những hiểu biết của mình để góp phần phá vỡ sự bưng bít và u tối của chế độ tại quê nhà.
Quần áo Dù “trông cực máu”
Ấy chết, phải nói ngay kẻo bị hiểu lầm. Công nhân miền Bắc lao động tại Ðông Âu dùng chữ “cực máu” để tả sự tuyệt hảo, number one, hết chỗ chê.
Nông Ðình Bửu lúc nào cũng chỉ mặc chiếc quần của binh chủng Nhảy Dù của Việt Nam Cộng Hòa. Bửu tâm sự, “em mà ở trong Nam là em chỉ có đi Dù thôi. Thế mới máu anh ạ!” Bửu gốc dân thiểu số miền núi ngoài Bắc, sang Tiệp làm công nhân. Bửu thường bắt giọng cho anh em cùng hát bài “Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân” nhưng sửa lời lại. Câu cuối của bài Bửu hát là “Bác kính yêu đang cùng Bác gái hành quân.” Vui nhất là khi mọi người vừa dứt câu hát, Bửu rú lên “đéo tin thì thôi.” Thế là anh em cùng hát theo “đéo tin thì thôi.” Bửu còn chế giễu lời ông Hồ Chí Minh trong cuốn cassette do Tòa Đại Sứ Cộng Sản Hà Nội tại Tiệp bán ra. Trong cuốn tape, giọng ông Hồ dạy dỗ thanh niên năm điều tại một đại hội thanh niên ở Hà Nội. Bửu bình luận, “lão ấy cực kỳ thô bỉ. Lão dạy thanh niên mà lão có sống như thế đâu.” Rồi Bửu đọc năm điều “Bác dạy” mà Bửu bảo là sáng tác của quần chúng nhân dân:
Nhất Dương Chỉ (một tuyệt kỹ võ công trong truyện kiếm hiệp Kim Dung)
Nhị Thiên Ðường (tên một loại dầu gió sản xuất ở miền Nam)
Tam Tông Miếu (lịch tập, có ghi ngày tháng tốt xấu)
Tứ Ðổ Tường (bốn món ăn chơi)
Ngũ Vị Hương (một loại gia vị để nấu thức ăn)
Bửu căn dặn tôi nhiều lần là về Mỹ, nhớ gởi cho Bửu một bộ quân phục Nhảy Dù để mặc cho nó “máu.” Tôi đã làm điều đó và giao tận tay Bửu trong chuyến đi Tiệp lần thứ nhì.
Từ những sự thực bị bưng bít
Trương Tiến Dũng là người tổ chức cuộc biểu tình đòi trả tự do cho những người đấu tranh tại Việt Nam, điển hình là Bác sĩ Nguyễn Ðan Quế, Giáo sư Ðoàn Viết Hoạt, Ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện… Cuộc biểu tình diễn ra trước Tòa Đại Sứ Cộng Sản Hà Nội tại thủ đô Praha vào một đêm tháng Giêng năm 91, quy tụ rất nhiều khuôn mặt trẻ. Ðó là dịp tôi gặp Cù Lần, Lê Thanh Nhàn, Hồ Văn Hải.

Từ trái: Tác giả và Trương Tiến Dũng, Chủ tịch Phong trào liên kết
người Việt tại Tiệp (2005, ảnh tư liệu tác giả)

Dũng 25 tuổi, học cao học năm cuối ngành kỹ sư điện ở đại học Praha, xuất thân từ gia đình có gốc gác lớn của chế độ. Cả bố lẫn mẹ đều là đảng viên Cộng Sản cấp cao. Dũng kể, lúc chiến tranh chấm dứt trưa 30 Tháng Tư năm 75, Dũng mới 15 tuổi, đang sinh hoạt trong Ðoàn Thanh Niên Cộng Sản. Năm 78, Dũng được sang Bình Nhưỡng dự Hội Nghị Liên Hoan Thanh Niên Quốc Tế Cộng Sản. Ngồi cạnh một cô trong Ðoàn Thanh Niên Cộng Sản Bắc Hàn, cô hỏi Dũng, xin đồng chí cho biết tình hình chống Mỹ của nhân dân Việt Nam tới đâu rồi? Nghe câu hỏi đó, Dũng suýt nữa té bổ ngửa! Ðã ba năm Việt Nam chấm dứt chiến tranh, Việt Nam đã “thắng Mỹ” từ 1975 rồi, thế mà cái cô Bắc Hàn này còn nêu một câu hỏi động trời như vậy. Trên chuyến bay về lại Hà Nội, Dũng vẫn còn thắc mắc nhưng chưa hình dung nổi chế độ Bắc Hàn đã bưng bít thông tin ghê khiếp đến đâu. Dũng nói, một đoàn viên thanh niên Cộng Sản mà còn bị bịt mắt bịt tai đến vậy thì huống hồ dân chúng.
Năm 1982, Dũng được bố mẹ cho sang Tiệp du học. Về thăm nhà năm 1986, được vào Sài Gòn chơi. Ðó là lần đầu tiên Dũng biết đất nước miền Nam. Dũng bảo, “vào Nam em mới biết là nhiều người đi học tập cải tạo ở ngoài Bắc vẫn chưa được về. Như vậy tức là thông tin mà bọn em nghe được là sai. Nhà nước vẫn nói rằng không hề có chính sách trả thù, và tất cả những người thuộc chế độ cũ được giáo dục ngắn hạn và đã được về nhà.”
Dũng nói bây giờ thì Dũng hiểu cô gái đoàn viên thanh niên Bắc Hàn, vì cả hai đều sinh ra, lớn lên trong hai chế độ giống nhau: bưng bít thông tin!
Dũng hoài nghi chế độ kể từ đó. Dũng còn nói, cũng nhờ đọc báo chí tự do sau Cách Mạng Nhung ở Tiệp mà Dũng biết về cuộc sống sa hoa, sa đọa của các lãnh tụ Cộng Sản Fidel Castro, Staline, Kim Nhật Thành… Dũng ngờ rằng, “Bác Hồ thì cũng thế.” Từ đó Dũng tìm hiểu thêm và vỡ lẽ là bản thân mình và những người cùng thế hệ mình bị chế độ bưng bít, lừa dối. Cho nên Dũng dấn thân tranh đấu và muốn tự do suy nghĩ bằng chính cái đầu của mình.
Chẳng riêng gì Trương Tiến Dũng
Tự do: Niềm khao khát sục sôi này tôi thấy được ở nhiều anh em người Việt Ðông Âu.
Nhớ lại một đêm bù khú ở cư xá sinh viên tại Praha, Nhà văn Trần Ngọc Tuấn nói rằng “các anh miền Nam bị mang tiếng là thua, nhưng còn hãnh diện là đã chiến đấu cho một lý tưởng đúng, chứ bọn tôi được tiếng là thắng mà khi bừng con mắt dậy, thấy cả đời mình bị chúng nó lừa. Bọn tôi đau hơn các anh chứ. Nói không được nói, viết thì chúng nó cấm. Thế thì sống thế mẹ nào được. Không tự do thì đếch làm gì được.”
Tuấn thế đấy. Bực lên là…văng hết, chả chừa thứ ngôn ngữ nào. Bộ đội mà. Từng đi đánh bọn diệt chủng Khờ Me Ðỏ bên Kampuchia. Đã sống sót trở về thì còn sợ đếch ai nữa. Tuấn nói năng bỗ bã thế chứ viết hay ra phết. Chỉ phải mỗi cái tật lề mề, nên đôi khi làm anh em phát cáu.
Cái tinh thần “không tự do là đếch làm gì được” thể hiện nơi Tuấn và hầu hết anh em người Việt mình ở các nước Cộng Sản cũ bên Ðông Âu. Họ từng sống trong lòng cả hai chế độ Cộng Sản, tại quê nhà và tại những xứ mà họ sang du học, lao động. Họ thấm đòn cái chế độ đó lắm.
Cù Lần
Trần Hồng Hà, bút hiệu Cù Lần, là Tổng Biên Tập tờ Diễn Ðàn Praha, tờ báo quan trọng nhất trong số các báo chí độc lập đầu tiên của phong trào thanh niên-sinh viên Việt tại Ðông Âu ra đời ngay sau Cách Mạng Nhung 1989. Hà được coi như một trong những con chim đầu đàn trong cao trào báo chí phản kháng của người Việt ở Tiệp Khắc, cũng như ở Ðông Âu. Các bài ký, phóng sự, bài dịch và những dòng thơ của Hà nói về cuộc sống của giới thanh niên công nhân xuất khẩu lao động, du học sinh… từng tạo nên nhiều cảm xúc lớn trong lòng bạn đọc. Thiên phóng sự Kẻ Ðào Tẩu của Trần Hồng Hà đã góp mặt trong tuyển tập Hai Mươi Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại do nhà xuất bản Ðại Nam in năm 1995 tại California. Với bút hiệu khác là Hà Minh Thọ, Hà còn dịch sang tiếng Việt cuốn Animal Farm: A Fairy Story của văn hào George Orwell, với tựa tiếng Việt là “Muông Cầm Trại.”
Cù Lần, người trắng trẻo, nho nhã mà rất bộc trực. Cù Lần lãng mạn mà rất tỉnh, tỉnh mà rất thơ. Bên trong con người Cù Lần là cả một ngọn lửa sôi sục những ước mong cho đất nước thoát khỏi nghèo đói, lạc hậu, độc tài.
Lần cuối cùng tôi chia tay Hồng Hà là một buổi sáng Tháng Hai năm 1992 ở sân ga Praha. Hà chu đáo vô cùng. Ðêm hôm trước hầu như thức trắng với nhau tại ký túc xá Strahov của đại học Praha, nơi Hà đang theo học ngành điện tử, và cũng là nơi anh em làm báo bí mật. Hà lo cho tôi từng chút cái ăn vì sợ tôi đói, từng chút cái mặc vì sợ tôi không chịu nổi thời tiết giá rét ở Tiệp. Gần sáng, Hà dục tôi đi ngủ. Tôi vừa chợp mắt thì Hà đã gọi dậy để chuẩn bị ra ga. Câu cuối trước khi chia tay, Hà hẹn, chắc chắn sẽ có ngày chúng ta đón đưa nhau ở ga Hà Nội, ga Sài Gòn, anh ạ!
Năm 1994, tôi đang kiếm sống bằng nghề lái taxi ở Hawaii thì anh em bên Tiệp báo tin Hà chết.
Người ta tìm thấy Hà treo cổ trong một khu rừng gần Praha. Thoạt đầu có tin nói vì Hà là “con dao phay” của phong trào sinh viên Việt Nam bên Tiệp chống chế độ Hà Nội nên Tòa Đại Sứ Việt Cộng ở Praha ra tay giết Hà. Nhưng sau này, chính Nguyễn Cường và Trương Tiến Dũng nói với tôi, Hà trầm uất quá nên chọn cách ra đi như thế.
Viết những giòng này, tôi thương Hà kinh khủng. Hà làm nhiều thơ. Thơ tình yêu, thơ nói về thân phận đất nước. Sau đây là bài Ðất Nước Tôi, Hà viết tại Praha năm 1990.

Ðất nước tôi
là những ông già
thiết tha
bên vỉa hè lịch sử
nào cô nào cậu
mua giùm xổ số tương lai


Ðất nước tôi
là những chàng trai
trải kiến thức ngồi chờ bơm xe đạp
Thế giới vùn vụt qua trước mặt
IBM ai chở xe thồ!


Ðất nước tôi
ngây ngất những giấc mơ
sao sáng rọi thiên đàng trên trần thế
Nhưng mộng đẹp ai mang ra để
đắp lên mình Tổ Quốc mảnh chăn chiên.


Ðất nước tôi
dàn ngực chịu đạn tên
đổi lấy khúc đầu một phần ba lời Bác dạy
những vết thương vẫn còn sưng tấy
Răng liền môi, răng bập cắn vào môi


Ðất nước tôi
trắng hếu những quả đồi
xương anh em chìa bắt tay “hữu nghị”
Ðất nước tôi xót ngàn năm bị trị
Hỡi ôi dân tộc mất còn


Ðất nước tôi
đất nước những người con
rạch lưỡi rồi tập nói
Suy nghĩ, tâm tư kính chiếu yêu vẫn rọi
Cồm cộp gót giày, mũi Mác mũi Lê


Ðất nước tôi thương nhớ vẫn đi về
Hình mẹ khom lưng trải dài trên bãi cát
Hạt muối mặn chát từ dòng nước mắt
Ðắng vần thơ cho Người
ôi Mẹ Việt Nam ơi!

***
Ðêm Giao Thừa tại Plzen, hẹn một ngày về
Tiếng hành khách xôn xao ở các toa bên cạnh kéo tôi ra khỏi những miên man kỷ niệm của hai chuyến đi trước. Tàu đến ga Plzen thì đã xế chiều. Lần này thì Dũng và Yến ra đón. Yến nhỏ nhắn như một cái kẹo, nên tôi gọi đùa là Cái Yến. Giọng Dũng oang oang không thèm lý đến thái độ khó chịu ra mặt của những người bản xứ chung quanh. Dũng bảo, Hồ Thanh Hải nó chờ lâu sốt ruột nên đã tếch về trước để lo bia bọt cho anh em mình tối nay.
Không khí đón Giao Thừa sực lên ở khu chung cư của công nhân Việt Nam và các sắc dân khác. Dọc hành lang dẫn đến phòng của Hoàng Quốc Cường, tôi chào hỏi mọi người như một người anh em trong gia đình đi xa trở về làng cũ. Ngoài những khuôn mặt từng quen biết trong hai lần đi trước, còn thêm nhiều người mới. Chính, Tuấn, Bửu, Cường, Lan, Hà đang chuẩn bị bữa cơm cuối năm. Hồ Thanh Hải thì ôm đàn rống lên bài “The Wall” của ban nhạc Pink Floyd. Phải nhận rằng, Hải đúng là một tay lãng tử. Có vợ người Tiệp và một con gái rất kháu khỉnh, thế mà hễ cứ bạn hú một tiếng là Hải tếch ngay khỏi nhà. Chiếc xe hơi cũ kỹ của Hải đã có lần chở tôi suốt từ Praha vào Berlin, đúng lúc Ðông Ðức đang vỡ thành từng mảnh.
Bữa cơm của anh em bên Tiệp bao giờ cũng bắt đầu bằng món canh. Chỉ vì không đào đâu ra chén bát và đũa, nên mãi thành thói quen, mọi người húp canh trước rồi mới xới cơm vào đĩa và dùng muỗng xúc ăn. Nước mắm thì tuyệt đối không có, nên món gì cũng nêm nếm bằng muối hoặc xì dầu mua ở các chợ Tàu. Bây giờ thì khác rồi. Nước mắm tràn lan từ Việt Nam nhập sang. Vì là Tết, bữa cơm có thêm mấy món đặc thù, bánh chưng, dưa muối, mứt. Tuyền là thứ tự biên tự diễn nhưng ngon đáo để.
Bia bọt tràn cung mây. Bà con mình ở Ðông Âu nói chung, Tiệp nói riêng, có lối xưng hô “anh anh chú chú” rất thân tình, y như trong một ngôi làng nhỏ nào đó ở miền Bắc. Ông Góc Ðộ luôn miệng, “anh bảo chú Dũng thế này, anh bảo chú Cường thế nọ.” Cứ trên nhau một tuổi là có thể anh anh chú chú được rồi.
Tiệc tàn, một số người về lại phòng mình, cũng ở cùng chung cư. Còn lại khoảng chục anh em. Dũng thân tình lắm, nằm khểnh ngay xuống sàn nhà, gác chân lên người tôi. Dũng kể, từ ngày ra báo tới giờ, em bị bố mẹ ở Hà Nội phiền lắm. Vì công an cứ đến nhà hoạnh họe đủ điều, sao không kiểm soát con mà để nó đấu tranh chống Ðảng. Các anh em khác cũng cho biết hoàn cảnh tương tự. Bửu bèn ngôn một câu xanh rờn theo lối dân miền núi, “đánh bỏ cha chúng nó đi.” Sau này, năm 1997, tôi cũng nghe một câu tương tự từ miệng Yên Phong, lúc tôi sang thăm anh em tờ Thiện Chí xuất bản ở Hannover bên Ðức. Phong là Tổng Biên Tập của Thiện Chí. Yên Phong bảo tôi, “đánh bỏ mẹ chúng nó chứ sợ gì, chẳng lẽ những tên đã từng là bộ đội như bọn tôi mà sợ mấy cái thằng mả mẹ công an à?”
Gần giờ Giao Thừa, nghĩa là đã sáng Mùng Một Tết tại quê nhà, Dũng nhỏm dậy ra khỏi phòng. Khoảng hơn nửa giờ sau, Dũng trở lại với khuôn mặt bực bội. Dũng bảo, gọi điện thoại về chúc Tết, bố em giáo dục em về nghĩa vụ trung với Ðảng. Em bèn bảo, “tuổi trẻ của bố có ai khuyên can khi bố đi làm cách mạng không mà bây giờ bố cản con. Và em nói rằng, bố còn nói nữa là con cúp phone. Thế là bố em đưa điện thoại cho mẹ nói chuyện.”
Ðêm Trừ Tịch thật cảm động. Ngay giữa căn phòng chật chội của hộ bốn người là bàn thờ Phật. Tất tật những người có mặt trong phòng đều quần áo tề chỉnh thắp hương cầu khấn. Tôi cũng thắp một nén hương nhớ về Mẹ đã khuất, nhớ về gia đình. Khác với không khí ồn ào của bữa cơm tràn bia bọt lúc chiều, giờ Giao Thừa, chúng tôi uống trà, nói với nhau những kỷ niệm, những mơ ước của mình. Dũng bảo, “chắc chắn sẽ có ngày về. Anh Thái chưa biết đất Bắc, khi đất nước đổi thay, em sẽ đưa anh đi chơi Hà Nội.” Chỉ mới nghĩ đến ngày ấy lòng tôi đã dấy lên niềm xúc cảm xót xa. Năm 1988, Mẹ tôi mất, tôi đang làm việc tại các trại tị nạn ở Hong Kong. Chỉ cần thêm một giờ bay nữa là tôi đã về để chịu tang Mẹ. Vậy mà có về được đâu.
Sáng chưa bảnh mắt, các phòng đã ồn lên lời chúc tụng. Dù là ngày thường, không phải cuối tuần, bà con mình vẫn hè nhau nghỉ ở nhà, ít nhất là ngày Mùng Một. Tôi ở chơi với anh em cho đến trưa Mùng Hai thì theo Trương Tiến Dũng và Hồ Thanh Hải đi Praha. Trước cửa chung cư, bọn tôi bùi ngùi giã biệt nhau.
Sông núi Việt Nam, hẹn mai ta sum vầy nhé./.

Đinh Quang Anh Thái
(California, 1992)
Trích KÝ