Một
buổi trưa. Nắng dữ dội, hừng hực, chói chang. Bụi đỏ cuốn lờ vờ
theo bánh xe lăn của chiếc xe đò vừa chạy nhanh dần trên con đường
vắng. Má và chị đã lên xe. Nó dim mắt nhìn theo. Con đường trong
thoáng chốc đã nuốt hết cả chiếc xe đò, chẳng còn thấy tăm hơi. Lạ
thiệt, khi mình ngồi trên xe thì xe nuốt đường, mình nhìn theo xe thì
đường nuốt xe, nó ngẫm nghĩ. Nó cũng lấy làm lạ rằng hễ nó đi đâu
cơn nắng và cái nóng như điên đi theo nó tới đó, và lại nắng hơn,
nóng hơn. Không còn chỗ nào để trốn nắng nếu không muốn chui vào
nhà. Mà bây giờ nó chỉ ưng đứng ngoài đường, biết đâu... Nhà lá,
nhà lợp tôn, những cột đèn điện, những cây sua đũa trước ngõ, những
cây đước dưới vàm, đều như chết đứng. Cỏ cũng không mọc nổi, chỉ lòi
những gốc đen cháy quăn quăn như trùn đùn cứt lên mặt đất cằn. Mà
không phải, đất ướt mềm sau cơn mưa mới nổi lên cứt trùn, nó sực
nhớ. Chẳng có ai ngoài đường trừ nó. Thế nào cũng có xe đò khác
từ Sài Gòn chạy về, đậu lại ở ngã ba này để lên xuống khách, nó
hy vọng, thì, nếu không ai thấy, nó sẽ nhảy tót lên xe chạy tuốt
xuống Gò Công. Sức mấy dám làm, ba đâu để yên, nó lẩm bẩm.
Nắng lâu
ngày. Mà mới xài hết có ba lu trữ nước mưa ở sau nhà bếp, còn lại
tới năm lu nước đầy nữa. Thế mà ba lại biểu nội hôm nay nó phải ra
mang thùng nhỏ ra sông xách nước đem về đổ cho đầy một lu. Sao không
bắt mang về đổ cho đầy cả ba lu luôn thể? Để làm gì vậy cà, nước
sông đâu uống được. Hay là để hành nó, cho nó khỏi trốn nhà đi chơi?
Hay là để tưới mấy cây bông thọ? Nó mong nắng dữ hơn nữa, cho chết
tiệt mấy cây bông mắc dịch. Còn cả một buổi chiều, từ từ rồi xách
nước, đi chơi cái đã, đi ra ngã ba cái đã. Ủa, nó đang đứng tại ngã
ba mà!
Chưa
biết chơi gì, nó đứng tần ngần. Nhà nó gần đó. Hôm nay Chủ Nhật nó
khỏi đi học, mà cũng không được theo má và chị đi Gò Công thăm dì
Hai.
Má nó
thương nó nhưng sao lại nhất định không cho nó đi Gò Công, chuyến đi mà
nó trông chờ cả tháng nay. Còn ba? Chắc ghét nó lắm, cái thằng ngỗ
nghịch, ham chơi, không biết nghe lời, đi học về là vất tập vở vào
xó bàn chạy biến đâu mất đất, cuối tuần thì lêu lổng suốt ngày, có
khi quên cả bữa ăn trưa. Nó mới bảy tuổi, đang học lớp tư thời Pháp
thuộc trước năm 1945, nay là lớp hai.
Ba nó
rất dữ và nghiêm khắc với nó. Nó bị ba đánh đòn hoài, thường đánh
bằng cuốn lá dừa khô thay roi. Khi không có sẵn roi, bạt tai. Bị roi
dừa vào đít đau lắm. Một lần trước khi nằm sấp xuống mặt giường
lãnh đòn, nó lấy xấp lá chuối lén chuồi vô trong quần xà lỏn. Quất
lên kêu cái bộp, ba biết ngay. Thì tiếp theo là trận đòn kinh hoàng.
Bạt tai đỡ đau hơn, nhưng vết ngón tay in rõ vô mặt, má phải lấy nhúm
muối pha chút nước lạnh đắp vô cho mau tan máu để nó tới lớp khỏi
bị chúng bạn chê cười. Nó nhớ rằng chưa bao giờ ba nói một câu êm tai
cho nó nghe. Toàn là những tiếng rầy la. Và hình như ba cũng không bao
giờ cười với nó. Nó luôn luôn né tránh ba. Rõ ràng ba không thương
nó, mà nó cũng không thương ba, chỉ sợ và oán giận.
Có lần
nó nghe lén ba nói với má phải coi chừng thật kỹ cái thằng bướng
bỉnh ngỗ nghịch này, bằng không lớn lên nó giống như bác nó. Nó có
biết loáng thoáng về bác cũng nhờ làm bộ nằm ngủ khì khi ba má
nói chuyện to nhỏ với nhau. Nghe tiếng được tiếng mất. Ông bà nội
giàu, có nhiều vườn, ruộng. Bác xài quá đã, làm mất tiêu hết trơn
tiền của, đồ đạc của ông bà. Đi trốn. Rồi đi lính đánh giặc bên Tây
không về. Chết sống không ai biết. Cho nên ba nghèo, mà má cũng chịu
lấy, mà ba phải có nghề chớ không được như bác. Thì ba liền đi dạy
kèm ở mấy nhà bà con lối xóm. Sau trường thiếu thầy, ba được kêu
dạy đỡ một thời gian. Má cầu ba được dạy lâu.
Má nói
nó còn nhỏ, từ từ nó sửa đổi, nó sẽ không giống bác đâu. Ba gắt,
má im. Nó chẳng hiểu gì mấy.
Má làm
mọi việc trong nhà, làm thêm lạp xưởng bán. Lạp xưởng Cần Đước đặc
biệt, to và dài gấp đôi lạp xưởng thường, và ngon, ai cũng thích.
Làm không kịp bán. Tiền bán lạp xưởng nhiều hơn tiền lương ba dạy
học, ba nói. Ba dạy tại trường tiểu học của quận. Học hết tiểu
học, nếu ai còn muốn học tiếp phải đi Gò Công, nhà giàu thì đi Sài
Gòn. Chị học lớp nhì nhất niên, trên nó hai lớp, sau chắc là được đi
Gò Công ở nhà dì Hai học tiếp.
Nó
thích bắn chim bằng ná giàn thun, bắt chước tụi nhỏ học trên lớp
làm nguyên được cái ná. Nó khéo tay, ná của nó xịn hơn của tụi kia.
Một hôm nó rình bắn chim bồ câu hàng xóm, trúng cái bịch, con chim
nhìn nó rồi bay đi tỉnh bơ. Nhưng nó bắn chết được chim sẻ, chim sâu,
chim chào mào. Và vài thứ chim khác nó không biết tên. Cũng thỉnh
thoảng đi câu cá rô, câu tôm, câu ếch, bắt nhái. Vùng nó người ta ăn
cả nhái xào gừng, tỏi, ăn ngang xương, bảo rằng ngon hơn ếch. Ngoài ra
nó chẳng còn thú vui nào khác nếu nó không biết bịa đặt ra trò chơi
cho chính mình. Mà tới trường thì chán. Má nó thường mắng con không
chịu chăm học lớn lên đi làm lơ xe đò. Nghe vậy nó càng thích, làm lơ
thì sướng quá, ngày nào cũng được đi xa, có thể đi Gò Công, đi Sài
Gòn, nếu được làm lơ cho xe đò đường dài.
Hôm nọ
nó dụ tụi nhỏ lội qua vàm sông nước lợ đi bắn chim, mò cua, bắt
nhái suốt ngày. Ham chơi quên cả ngày giờ, chiều mới về, bị ba chặt
ná, đánh đòn, lại còn bị má lần này chiều ý ba phạt không cho nó
đi Gò Công.
Nó đứng
ngơ ngẩn trước ngã ba nhìn con đường trải nhựa đen dưới cơn nắng
cháy. Con đường như đang bốc khói trắng. Khi có gió thổi tạt tới
càng thêm nóng, gió như gió từ lò lửa không bằng. Nó cổi phăng cái
áo sơ mi cụt tay đang mặc, quấn quanh bụng, ở trần cho khỏe. Từ ngã
ba đi thẳng, đi thật xa, đi bằng xe đò mới nổi, sẽ lên phà qua con sông
thật bự, rồi tới nhà dì Hai. Nó biết vì nó đã được cho đi thăm dì
dượng Hai mấy lần. Vui ơi là vui. Dì thương nó hơn chị. Nó chỉ có
một bà dì, chị của má. Nếu tới ngã ba quẹo mặt, sẽ tới trường nó
học, rồi tới Quận, tòa nhà lớn, có lính gác, có hàng rào chung
quanh.
Buồn
tình, nó ngồi trệt xuống đất vọc cát, rồi lượm mấy hòn đá sỏi
nhỏ tròn dồn thành một đống, xuýt xoa, những hòn này bắn chim hết
sẩy. Ô, nhưng ná bị chặt rồi! Nó đứng dậy bứt rứt, sẵn có mấy hòn
đá trong tay, ném đại vào cột đèn điện gần đấy. “Đấy” hay “đó”? Cô
giáo gốc Bắc thích chữ “đấy” hơn. Nó ưa nhái tiếng Bắc, nghe thiệt
vui tai. Tiếng Trung thì nó chưa hề nghe. Có chi lạ là nó bắt chước
liền. Hòn trúng, hòn trật, vang lên những tiếng kêu khô khốc, chán
chê. Nhưng còn hơn đứng đó không biết làm gì. Nó luôn luôn nhúc nhích
như con giòi, múa máy như con khỉ, chị nói. Không bao giờ ngồi yên
được. Nó lượm thêm đá ném, ném, hết hòn nọ đến hòn kia. Mồ hôi bắt
đầu tuôn ra ướt cái đầu tóc cụt, cái lưng trần cũng ướt. Bỗng một
xe nhà binh chạy trờ tới, một thằng Tây lái. Tại sao thằng? Thấy
người lớn kêu thằng, nó cũng kêu thằng. Còn Tàu thì là chú, tức là
chú em như có lần nó nghe nói. Em út trong nhà mà.
Mắt nó
loà trong nắng, đầu nó nóng muốn khùng. Chạy tới đây phá đám hả?
Đã thế, ném xéo một phát dọa chơi. Không ngờ xe lao tới mau hứng ngay
hòn đá. Nó giật mình. Chiếc xe thắng két, đậu lại. Nó hoảng hốt.
Thằng lính Tây, lính hay sỹ quan, nó không biết cấp bậc, nhảy xuống
xe. Nó thoáng thấy trên mặt thằng Tây có máu chảy. Nó bỏ đống đá
chạy biến vô nhà.
Ba đang
ngồi chấm bài trước một cái bàn nhỏ, thấy nó chạy ào vô, liền
đứng phắc lên. Tên lính trẻ, cao lớn, bước vô theo. Nó chạy tuốt vào
trong, núp sau cái vách lửng nhìn ra thấy hết. Ba cũng cao to dưới con
mắt nó, nhưng so với thằng lính này, không thấm vào đâu. Mà hình như
tự nhiên người ba thun lại, nhỏ hẳn đi, thiệt là lạ quá xá. Hai
người đứng cách nhau không đầy hai mét ngó nhau. Ba mặt xanh lét, tay
phải cầm cây viết mực đỏ hơi run run, tay trái vịn vào thành ghế. Nó
ngạc nhiên vô cùng. Ba luôn luôn lạnh lùng, dữ dội, nó khiếp sợ đã
đành mà chị, má, hay hàng xóm láng giềng ai nấy đều nể mặt. Nay ba
sao vậy. Nó lờ mờ đoán có lẽ tại vì nó có lỗi mà ba phải xuống
nước, xuống dốc đến như thế. Còn thằng lính bự kia súng bên hông,
một tay thọc vào túi quần, tay kia chỉ vào vết trầy trên má. Ba đứng
nín khe. Mà nó biết ba nói được tiếng Tây ro ro.
Bỗng thằng
lính nói một hơi dài, nói như hét. Nó đứng sau vách nghe muốn té
xỉu. Ba hơi giật mình. Mấy con chim sẻ đang nhảy cà tưng dưới mái hiên
hoảng hốt bay vụt ra đường, con gà mẹ đang dẫn đàn con trước sân cục
tác mấy tiếng rồi cả bầy chạy biến vào lùm rau thơm, rau càng cua,
rau nhiếp cá ngoài vườn. Rồi tất cả trở lại im lặngtrừ tiếng kêu
tích tắc rõ mồn một của cái đồng hồ treo tường. Ba vẫn đứng yên
một chỗ như bức tượng, người như càng choắt lại, không nhúc nhích,
không mở miệng, không chớp mắt. Nó không biết cái im lặng đó kéo dài
trong bao lâu, chỉ thấy là lâu lắm, và nó có linh cảm nếu mọi chuyện
cứ im lìm như thế này trong một chút xíu nữa thôi thì tai họa khủng
khiếp sẽ xẩy ra. Chắc chắn như thế.
Không
hiểu sao, nó liền lê bước ra khỏi chỗ núp, run run đi tới phía
thằng Tây, mắt nơm nớp nhìn ba. Bốn mắt gặp nhau, nó sợ chết khiếp,
vội cụp mặt nhìn xuống đất nhưng cũng kịp thấy trong mắt ba vài tia
sáng lạ thường khác hẳn mọi ngày. Thằng lính cúi xuống dang tay tát
mạnh vào má trái của nó, rồi quạt ngược vào má phải. Bàn tay to
như nải chuối, mỗi ngón tay là một trái chuối, nó nhớ hoài. Nó ngã
ngửa, đầu nện xuống nền xi măng nghe cái bịch. Đánh xong thằng lính
quay đầu ngó ba lần chót, rồi quay đít bước ra khỏi nhà nện gót
giày đinh kêu cộp cộp. Chưa đầy nửa phút sau, có tiếng rồ máy ngoài
đường.Tiếp theo là im lặng. Cái im lặng lần này còn dễ sợ hơn
khi hồi nhiều.
Nó không
thấy đau, không khóc, tay ôm đầu, lồm cồm bò dậy, đứng lên. Nhưng sợ
hãi vô cùng. Đúng rồi, nó nghĩ ra, cái sợ mạnh hơn cái đau, lấn cái
đau. Không phải sợ thằng lính, mà sợ ba. Mình vừa gây ra chuyện động
trời như thế này chắc chắn ba sẽ có cách trừng trị đích đáng. Nó
đứng yên một chỗ, nhìn xuống đất chịu trận. Tất cả lại im lặng.
Đứng lâu quá muốn qụy chân, nó ngước mắt lên thấy ba đã ngồi xuống
ghế từ đời nào, tay phải cầm cây viết mực đỏ. Nó không dám nhìn
thêm. Nó đoán ba chờ má đi chợ về rồi ba má sẽ cùng nghĩ cách
trừng phạt. Lần này chắc chắn má về phe ba. Mồ hôi nó chảy ra ướt
đầu, ướt tóc, ướt rát hai má, ướt thân hình, ướt cả cái quần xà
lỏn. Quần ướt mồ hôi hay són đái, nó đoán cả hai. Chỗ nào cũng
ngứa ngáy quá hết chịu nổi, nhưng ngứa cái cổ nhất. Nó không dám
đưa tay lên gãi, lại nín thở len lén nhìn ba. Ba vẫn trong tay cây viết
mực đỏ, mắt chăm chú nhìn xuống mặt bàn, ngồi thừ. Nó lần từng
bước đi lui vô phòng trong, cố không gây tiếng động, ngồi nhẹ xuống
giường, đưa tay gãi cổ trước, rờ mặt sau. Bây giờ nó mới cảm thấy hai
bên má đau buốt, cái đầu muốn long ra khỏi cổ. Ngồi lâu mỏi, nó nằm
xuống ngủ thiếp lúc nào không hay.
Bỗng
nổi lên tiếng la lớn con sao vậy, trời ơi là trời. Nó giật mình dụi
mắt ngồi dậy đưa tay che mặt. Má đặt rổ đi chợ xuống đất, kéo nó ra
phòng ngoài coi cho rõ, lại la lớn hơn. Thường má theo phe ba, sợ ba,
im ru bà rù hoặc nói ít câu thôi khi thấy nó bị ba đánh. Bây giờ má
gào lên sao đánh con dữ thần vậy anh ơi, con mình mà, sao đánh nó như
đánh kẻ thù không bằng, hả anh. Đau xót cho tui quá. Ba vẫn ngồi yên
trước bàn, cau mày khó chịu. Nó sợ quá. Rồi má vội xuống nhà bếp
lấy muối lên thấm nước vào, mấy ngón tay run run đắp muối lên mặt
nó, tránh hai con mắt và lỗ mũi. Vạch tóc đắp muối lên cả cái đầu
u. Ông ơi, nói trong nước mắt, khổ cho con tui lắm, chắc phải đem nó đi
nhà thương. Nó càng run bần bật. Mà con làm cái chi chi để bị đánh
đập tàn nhẫn đến như vầy, hả con. Như mọi lần khác bị đòn, dù có
lỗi hay không, huống là lần này, nó không nói lại, cãi lại với ba
má một lời nào.
Hôm sau
mặt nó sưng vù. Cái đầu u có tóc che ít bị thấy. Nó chờ đợi. Nó
chờ đợi hình phạt. Hết ngày đầu tiên không thấy gì. Qua ngày sau
cũng thế. Nó phải nghỉ học cả tuần lễ chờ cho cái mặt bớt sưng.
Rồi tuần sau, tuần sau nữa cũng không thấy ba đả động tới chuyện đó.
Lạ quá, nó không hiểu nổi. Thế là chìm xuồng? Thế là tai qua nạn
khỏi? Má nó hỏi chuyện, chị nó cũng tò mò muốn biết, nhưng nó nín
thinh. Nó có linh cảm rằng ba đã im thì nó phải im theo. Như vậy mới
yên thân. Có điều gì đó thật “quái chiêu” mà nó chỉ cảm thấy lơ mơ
trong đầu, không rõ đâu vào đâu. Thì phải tìm cách nghe lén. Má hỏi
ba thêm mấy lần, ba gắt đừng hỏi nữa. Rồi ba bỏ đi ra khỏi cửa. Thế
là hết, mọi thứ chìm xuồng thiệt rồi, tai qua nạn khỏi rồi, nó
mừng rơn.
Từ đó
ba đổi tính. Chợt vui, chợt buồn. Có lúc bồn chồn, đứng ngồi không
yên, có lúc thừ người trên chiếc ghế dựa tay cầm cây viết mực đỏ
đầu cúi gầm nhìn mặt bàn. Má rất buồn lòng vì cái bộ tịch lạ lạ
của ba. Một lần má nói ngay trước mặt nó, biểu nó từ rày về sau
đừng nghe lén nữa, xấu lắm, rằng cái thằng này quậy quá trời, anh
trị cho nó một trận hôm đó cũng đáng đời nó rồi, mà nó chỉ đau
mấy hôm, nay đã lành hẳn, lại biết lỗi bớt ngỗ nghịch. Thì việc gì
anh buồn. Ba quát khổ lắm, xin đừng làm rộn nữa, má lầm bầm những
gì trong miệng nó không thể đoán ra.
Nghe lén
xấu? Thôi, không thèm làm vậy nữa là xong, nó tự nhủ.
Nó còn
thấy ba có một thói quen mới. Ba thường cầm chặt trong tay cây viết
mực đỏ đó cả những khi ba không chấm bài. Thì, như chớp nhoáng, hình
ảnh thằng Tây to lớn hiện lên, đi ra, đi vô cái phòng khách phải cúi
đầu cho khỏi bị cụng, thân hình che gần lấp hết cánh cửa, cái phòng
tối sầm lại, và thế là nó vội nghĩ sang chuyện khác ngay, hoặc tìm
chơi bất cứ cái trò gì có thể nghĩ ra để đuổi đi những đám mây mù
muốn bám vào đầu, vào bụng. Đúng thế, nó cũng có nghĩ bằng bụng
chớ không phải chỉ bằng đầu. Như thưa Thầy con nói lộn, trong bụng con
đâu dám nghĩ vậy. Và có lúc người ta nói những câu con làm bộ chăm
chỉ nghe nhưng trong bụng không hiểu gì cả. Và nó cũng có khi “nghĩ”
bằng rờ. Và có thể bằng thứ khác nữa.
Nó rất
có tài đẻ ra trò chơi cho chính nó. Tờ lịch treo tường vừa lột ra
xếp thành tàu thủy, máy bay, xe tăng; tổ chim ròng rọc khều từ cành
mận cao đem vô làm găng tay võ sĩ đánh bốc; tàu lá thốt nốt mới
rụng sau vườn lấy đọt làm thanh gươm cong; tàu dừa khô giữ nguyên lá
làm áo giáp lè kè; trái bưởi to vỏ dày lấy dao xẻ dọc vỏ bên
ngoài thành nhiều khứa tét ra làm mũ trụ đội lên đầu; vân vân. Ngay
cả tàu lá chuối má vừa cắt nó lấy ngay cái cuốn giữa cứa ngang
lưng chừng nhiều nhát cách nhau hai lóng tay lật những khứa dựng lên
rồi đưa bàn tay vuốt mạnh một phát từ trong ra ngoài kêu lên rẹt rẹt
như tiếng súng liên thanh. Nó tức cười thấy đồ chơi của mình sao toàn
là những thứ dùng để “ra trận” - hai chữ đó về sau nó mới hiểu. Coi
bộ mình lớn lên sẽ bắt chước đi lính như thằng Tây đánh nó. Lính
quyền lắm.
Từ hồi
đổi tính, ba không gắt gỏng với nó, cũng không đánh nó. Chính nó
cũng có thay đổi, bớt lêu lổng, chịu khó học hành đôi chút. Và hết
ghét ba. Đúng ra, thương. Có phải vì không bị đánh, không bị la, mà
thương? Chắc không phải chỉ vì thế mà thôi, nó biết. Thỉnh thoảng ba
kín đáo nhìn nó, nó giả bộ ngó quanh, nhưng thấy. Ánh mắt của ba
có chút ấm áp chứ không lạnh tanh như trước kia, và lạ quá, luôn luôn
nặng trịch buồn và đau. Sao vậy hả ba?
Một hôm,
trong bữa ăn tối vui vẻ, vui vẻ vì ba bỗng dưng ưa bắt chuyện với má
chứ không lầm lì như hổm rày, và ngon lành vì có món khô cá sặt
nướng trên lò than hồng xé ra ăn với dưa chuột giầm nước mắm tỏi pha
đường chanh ớt mà ba rất thích, mà nó không thích, ba nhắp
trước một tí rượu mạnh, không phải bia như thường lệ, rồi hỏi nó
nhưng mắt chăm chú nhìn má:
“Mày có
muốn, con có muốn, đi với ba không?”
“Đi đâu,
ba?”
“Không
cần biết.” Ba xoay xoay chung rượu trong lòng bàn tay. “Mày, à con cứ
trả lời con có đi theo ba không cái đã.”
Má chen
vào:
“Anh lạ
chưa, phải nói đi đâu trước. Tui biết tỏng hết rồi. Anh tính cho nó đi
dì Hai bù lần trước chớ gì?”
“Không
phải.”
“Vậy đi
đâu?” Má hỏi tiếp
“Đi
bưng.”
“Đi bưng
cái gì? Đi bưng là gì?” Má tươi cười tiếp lời.
“Bưng
biền.”
“Cái anh
này! Hết chuyện giỡn rồi hả?”
Nó chăm
chú nghe, chị nó cũng ngạc nhiên nhìn ba. Ba bỗng nghiêm giọng, nói
chậm rãi từng tiếng một:
“Anh
không giỡn. Đã liên lạc với người ta.”
Má hơi
giật mình, mặt má bỗng tái xanh, tay run run đặt chén cơm xuống bàn
ăn. Ba làm như không thấy, quay qua nó nhắc lại câu hỏi:
“Sao? Con
có muốn đi với ba không?”
Nó đáp
như máy: “Dạ, dạ. Con đi với ba, con đi với ba.”
“Tốt
lắm.” Ông đặt chung rượu xuống bàn, gắp miếng khô cá sặt cho vào
chén để đó mà ngó chằm chằm, chứ không ăn liền như mọi khi. “Vậy là
xong, ba chỉ cần biết có thế.”
Má bật
khóc. Chị chẳng biết gì cũng thút thít theo. Má lấy mấy ngón tay
chùi ngang nước mắt đang chảy dài, nói nghẹn giọng:
“Nhưng
... nhưng tự nhiên ... sao lại phải đi? Có chuyện gì vậy?”
“Có
chớ.”
“Chuyện
gì hả anh?” má rụt rè hỏi.
“Chuyện
của đàn ông, bà không cần biết.”
“Anh nói
lạ chưa! Cứ cho em nghe thử.”
Ông thở
dài:
“Tui
biết nói sao đây. Chính tui cũng không hiểu cho rõ ràng thì làm sao
nói cho bà hiểu.”
“Nếu
thế xin anh nghĩ lại. Nhà mình đang yên ổn, anh đi dạy, con đi học, em
phụ. Em xin anh, em lạy anh...”
“Tôi đã
quyết định dứt khoát,” ba bỗng nhiên cau có nói lớn. “Mọi chuyện đã
xếp đặt đâu vào đấy. Đi vài ba năm thôi rồi sum họp lại.” Rồi ba nói
như nói cho một mình ba nghe, “Ta sẽ thắng, sẽ thắng. Chắc chắn như
thế.”
“Anh nói
cái gì vậy?” má ngạc nhiên. “Hay là anh ...”
Ba ngắt
lời ngay:
“Không,
không có chuyện hay là hay không hay là cái gì cả. Thôi, đừng nói thêm
nữa.”
“Ô kìa,”
má quắc mắt, giọng nói cứng lên,“thì tui cũng có quyền trong cái
nhà này chớ. Này, này anh để cho em ...”
Ba dịu
giọng:
“Được
rồi. Đây là chuyện của người lớn, khi khác nói tiếp.” Ba gắp miếng
khô cá sặt. “Bây giờ má nó bưng chén lên đi chớ. Ăn cho xong bữa cái
đã.”
Má không
chịu bưng chén, càng khóc lóc thảm thiết:
“Mình
chỉ có nó là thằng con trai. Anh nghĩ lại giùm cho em.”
Cuối
cùng ba chiều ý má, không dắt nó theo, đi một mình. Nó không biết nên
vui hay nên buồn, nhưng nó biết chắc nếu đi, nó sẽ nhớ má chịu không
nổi đâu. Chưa đầy một năm sau, được tin ba bị nạn. Bị mang những tội,
những danh từ mà lớn lên nó mới hiểu: “Phát biểu linh tinh, chưa chịu
‘đầu hàng giai cấp’, điều nghiên kỹ thấy động cơ thoát ly có chỗ
đáng ngờ, và lại thuộc thành phần gia đình phản động, phản quốc.”
Từ đó không còn tin tức gì của ba nữa. Ba chết rồi, chị bảo hàng
xóm nói thế. Má không tin, đi coi bói hết thầy này đến bà khác như
đi uống thuốc an thần. Và chờ ngày chờ đêm.
*
Hơn 30
năm sau. Một thiếu tá của Quân Lực Cộng Hoà đang vừa cùng đoàn tù
bước ra khỏi “tàu há mồm” đi hàng một trên đất lạ. Đây là Hà Nội,
hay Hải Phòng, hay Nam Định? Những người tù thì thầm bàn tán. Chắc
không phải đâu. Phải là những nơi xa xôi, hẻo lánh. Tù đông, thành phố
nào chứa nổi, nhốt vô rừng là thượng sách nhất, là đúng nhất. Thôi
đi, biết thế nào là đúng là sai. Suốt mấy tháng nay, có ai nói
trúng được chuyện gì đâu. Cái suy nghĩ của mình hoàn toàn khác với
họ. Riêng ông không nói một lời.
Suốt
mấy hôm đứng, ngồi, nằm, bò, cằn, lết, tiểu tiện, đại tiện trên
khoang tàu chật như nêm, ông không tham gia vào những bàn luận thường
là buồn chán, nhảm nhí, vô bổ. Có người cứ thắc mắc tương lai sẽ ra
sao. Không thể biết được thì hỏi làm chi. Trong hoàn cảnh này tốt hơn
hết là im lặng chịu đựng, chịu đựng những đói khát, ngột ngạt,
nóng bức, hôi hám, bạc đãi. Và cả cái chết, khi nó đến, cũng đừng
lấy làm lạ. Ông biết ông chịu đựng được tất cả, mà những người
khác cũng thế. Sức người thường rất kiên cường trước nghịch
cảnh.
Tương lai
tối tăm mù mịt, hiện tại nhầy nhụa, quái quỷ. Còn quá khứ? Ông nhớ
lời một vị thiền sư đại khái hãy bỏ lại quá khứ đằng sau lưng. Nếu
làm được vậy, ông còn gì? Ông sẽ trở thành gỗ, đá? thực vật? Thôi,
cứ để quá khứ xuất hiện. Nó đeo ông dai dẳng, khi tỉnh thức cũng như
trong giấc ngủ, đột ngột, tình cờ, thất thường, chồng chất, chằng
chịt. Hãy xem nó như một người đồng hành, nó sẽ giúp mình khỏi
phải để ý đến chuyện bây giờ, khỏi phải nghĩ đến chuyện ngày mai.
Khỏi phải dòm ngó cuộc đời. Đời sống bây giờ có lối đi riêng của
nó, mình có được tham dự vào hay không? Giả dụ có muốn tham dự đi
nữa, nó cũng đẩy mình ra ngoài rìa.
Nào,
nào, thế thì hãy lui tới với nó, trò chuyện với nó, quá khứ và
kỷ niệm.
Trận An
Lộc, tiểu đoàn của ông, một tiểu đoàn anh hùng, đánh tan quân địch
đông gấp nhiều lần. Hành quân trong rừng xong, bắn trúng một con chim
ưng to lớn. Nó rơi từ ngọn cây cao xuống đất, một cây bàng mọc hoang,
không chết. Bảo lính cột nó lại, kéo hai cánh soải dài ra che kín
cả mũi xe bọc thép, cánh vẫn còn dư, còn thò hai đầu mút. Cứ thế
xe sẽ chạy về hậu cứ như chim bay đẹp biết mấy với con đại bàng to
chưa từng thấy. Nhưng kìa cái ánh mắt, ánh mắt của nó khi nó nhìn
lại. Sáng quắc, không tỏ chút đau đớn, khiếp nhược, hay sợ hãi. Và
lặng lẽ, cô đơn giữa đám người, đám sinh vật lạ, đi lui đi tới chỉ
trỏ, trầm trồ. Bỗng ông xúc động, tự tay tháo gỡ con chim ra khỏi
mũi xe. Thấy vết thương nó nặng quá khó sống nổi, cái đầu, cái mỏ
uy nghi rướn lên được một chốc rồi gục xuống cái ức đầm đìa máu,
rồi cố rướn lên, bắn cho nó phát súng ân huệ, bảo lính đào hố chôn
bên gốc cây bàng. Lính xin rứt ra mấy cái lông cánh đem về chưng, đẹp
quá, không cho. Từ đó thề không bắn chim ưng hoặc bất cứ chim gì
khác. Trận Đức Cơ thua chạy dài, đói khát, hết đạn, đơn vị thương
vong nặng, mình còn nguyên, thì huy chương, thì được về phép, giận
dữ, đau đớn, say rượu trong quán nhậu đứng lên rút súng ra, mới thấy
bên bàn đối địch có thằng em họ phục vụ trong một đơn vị khác. Hú
hồn. Còn ở A Sao đột kích chớp nhoáng, địch chết nhiều bỏ chạy,
không kịp mang theo thương binh. Trực thăng tải thương hạ cánh nhanh, cất
cánh nhanh, để tránh khỏi bị lọt vào vòng vây, ra lệnh tải cả thương
binh bộ đội đang nằm co quắp, rên rỉ lên máy bay, không phân biệt ai
trước ai sau, ta hay địch. Và những ánh mắt ngạc nhiên, ngỡ ngàng.
Trận, lại trận... Thôi. Suốt cả thời trai tráng lao mình vào chinh
chiến, nói sao cho hết các kỷ niệm về trận mạc. Hãy để dành đó.
Hãy thử
nhìn lại những chuỗi biến cố, kỷ niệm khác. Hãy lật lại những
trang sách khác của đời mình. “Giở lại trang sách đời”, câu đó đọc
ở đâu nhỉ khi còn nuôi cái thú đọc sách, khi tuổi còn trẻ, tóc còn
xanh, quê hương còn thanh bình.
Như một
cuốn phim diễn ra trước mắt. Nền Đệ Nhất Cộng Hòa, trong mấy năm
đầu, tuyệt vời. Thực dân Pháp đã phải ra đi. Tất cả địa danh, tên
đường, tên cơ quan nhà nước bằng tiếng Pháp đều được đổi qua tiếng
Việt. Quốc Hội Lập Hiến, Hiến Pháp, Quốc Hội Lập Pháp, ra đời. Nhân
tài từ nhiều nơi ở nước ngoài trở về cùng nhân dân trong nước ra sức
xây dựng Miền Nam thành một quốc gia độc lập, dân chủ vững mạnh được
hầu hết các nước trên thế giới thừa nhận và lập bang giao. Từ Bến
Hải đến Cà Mâu, sức sống bừng bừng trổi dậy. Mưa thuận gió hoà,
lúa má đầy ruộng, đầy đồng, đầy kho, đầy vựa; cá tôm đầy ghe, đầy
thuyền, đầy sông, đầy biển. Công nghiệp, thương nghiệp phát triển
mạnh, Giáo Dục, Xã Hội, Văn Hóa đều thăng tiến. Ấm no, hạnh phúc nơi
nơi.
Chị đã
có chồng là sỹ quan lái trực thăng đóng ở Cần Thơ, mẹ ở với gia
đình chị. Anh, “nó ngày xưa”,cũng đã trưởng thành, vừa vào Đại Học
vừa làm việc thêm kiếm sống dễ dàng. Bạn bè nở rộ như hoa, được
tăng cường thêm người Bắc di cư, người Trung vào Nam. Nhưng cuộc đời
không “xuôi chèo mát mái”. Cộng Sản Miền Bắc không để yên cho Miền Nam
xây dựng. Cuối thập niên 1950 Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam
trực thuộc Miền Bắc ra đời và khởi đầu chinh chiến cùng những xáo
trộn trên chính trường Miền Nam. Chưa xong Đại Học, theo lệnh động
viên, anh nhập ngũ, hăng say lên đường ra tiền tuyến. Bạn của anh cũng
có một số trốn lính, hoặc nếu không trốn được thì cố chạy chọt để
được đưa đến những đơn vị không trực tiếp chiến đấu. Anh tự hỏi tại
sao anh khác những người bạn ấy. Và anh có câu trả lời: niềm hăng say
của anh một phần không nhỏ bắt nguồn từ những suy nghĩ về người cha
của mình, về những nỗi khổ tâm ba đã trải qua mà hồi đó còn nhỏ
anh không hiểu, và về cái chết ấy.
Đơn vị
cuối cùng anh chỉ huy trước khi Miền Nam thất thủ là một tiểu đoàn
trấn đóng tại Cao Nguyên Trung Phần, dạn dày chiến trận, lập nhiều
chiến côngvang dội.
Đang giữ
vững từng ngọn đồi, từng khe núi, từng dòng sông, từng tuyến đường,
bỗng phải bỏ tất cả rút lui trong hỗn loạn. Rồi một số đơn vị
trưởng cấp quân đoàn, sư đoàn tháo chạy ra nước ngoài, một số tuẫn
tiết, một số chiến đấu trong tuyệt vọng, thiếu đạn dược, thiếu vũ khí.
Nhiều đơn vị quân đội bơ vơ như rắn không đầu. Tiếp đến, nước vỡ bờ.
Miền Nam vươn lên thần tượng bỗng gục ngã; dây liên kết với Đồng Minh
vĩ đại nhất, hùng mạnh nhất trên thế giới bỗng đứt đoạn. Khi được
lệnh đầu hàng, cùng với nhiều người tuẫn tiết, hai vị Tư Lệnh và Tư
Lệnh Phó Quân Đoàn IV tự sát, anh rể ở Cần Thơ lái trực thăng cùng
mẹ và chị bay ra Phú Quốc. Anh buông súng.
Cuốn
phim khép lại bằng hình ảnh đoàn tù đi hàng một trên đất lạ.
Tóc đã
hoa râm tuy ông chưa tới bốn mươi, gương mặt rắn rỏi, cương nghị trong
bộ đồ tù nhầu nát, rách rưới. Đằng trước đoàn tù một quãng ngắn,
một cán bộ ánh mắt đầy thù hận long lên như lửa, cầm loa hô to “Đồng
bào hãy bày tỏ thái độ đối với bọn này, bọn ngụy quân, nguỵ
quyền, bọn phản quốc, bọn chỉ thích ăn gan người, uống máu người.”
Bên đường bỗng đâu lù lù một đống đá. “Đồng bào còn chờ gì nữa,
hãy lên tiếng ngay, hãy hành động ngay, hãy nguyền rủa chúng nó, hãy
ném đá vào đầu chúng nó.” Tiếng loa càng lúc càng xé không gian ra
thành những mảnh vỡ, thôi thúc, gay gắt, đe dọa. Dăm ba người lượm đá
ném. Chậm chạp, uể oải. Chả trúng trật đâu vào đâu.
Bỗng từ
đằng trước, một đứa bé khoảng bảy, tám tuổi chạy ngược về phía
đoàn tù, tay cầm hòn đá lớn. Khi chạy đến gần ông, nó vung tay ném
mạnh, hòn đá trúng ngay vào mặt ông. Ông choáng váng trong vài giây,
lấy tay ém vào vết thương, máu trào ra những kẽ ngón tay chảy xuống
bàn tay, cổ tay. Người tù đi trước khựng lại, người tù đi sau nhảy
chồm tới, hai người lính bộ đội lập tức chĩa súng, lên đạn. Ông cũng
dừng lại một bước, rồi cất tay ra thử, máu vẫn còn chảy, đè ngón
tay lại ém lên vết thương, bước dài thêm cho kịp đoàn tù đang đi. Đứa
bé hoảng hốt chạy ngược trở lui đến ôm ngang hông một ông già độ bảy
mươi tuổi đang đứng dưới một cây bàng cao, lá lác đác chuyển từ xanh
qua vàng. Mùa Thu chưa đến. Có lẽ ông già là ông nội hay ông ngoại
thằng nhỏ. Vâng, con đường phố này có những cây bàng cao đứng thành
hàng dài. Chắc chúng đã được trồng cách đây cả trăm năm, chứ không
phải như cây bàng mọc hoang trong rừng vắng để con chim ưng vô tình đậu
trên ngọn cao và lãnh một viên đạn chí tử vào ngực. Ba bốn người
đến vây quanh ông già và đứa bé, hỏi han.
Khi đi
đến gần nhóm người vây quanh ấy, ông vô tình đưa mắt nhìn và gặp ngay
đôi mắt của ông già. Ánh mắt buồn, đau, xót xa trên khuôn mặt gầy gò.
Nếu còn sống, chắc cha ông cũng cùng tuổi với ông già này, ông chợt
liên tưởng. Ông dừng cái nhìn rất nhanh vào ánh mắt đó một lần
chót. Đoàn tù đã đi hết con đường có dãy bàng cao, và sắp rẽ qua
một lối xóm vắng tanh, xơ xác. Văng vẳng trong gió tiếng loa xa. Có
lẽ một đoàn tù khác đang đến, ông ngẫm nghĩ.
Ngự Thuyết
