Những tảng mây khổng lồ nhiều tầng, trắng như bông
gòn, lơ lửng trong bầu trời xanh lơ qua cửa sổ máy bay, ở một tầm nhìn gần kề
không thể có được từ mặt đất, đã thôi thúc ông hành khách già lôi chiếc máy ảnh
Polaroid trong túi xách tay dưới chân ghế ngồi. Ông muốn ghi lại cảnh trí này.
Mây chập chùng trải rộng thành một bề mặt mênh mông; và bao trùm lên nền mây
khói ấy là một màu xanh phơn phớt của bức màn trời cong vút huyền ảo chụp
xuống. Người nữ tiếp viên phi hành trong trang phục áo dài Việt Nam màu hồng
nhạt vẫn đứng cạnh cửa sổ mải mê nhìn ra ngoài kia. Ô hay, tại sao phải chờ cô
ta rời bỏ khung cửa. Ông Khanh, người khách già ấy, đưa máy ảnh lên ngắm và thu
toàn bộ khung trời qua cửa sổ vào máy, cả khuôn mặt nhìn nghiêng của người con
gái. Máy tự động đẩy tấm phim vừa ghi hình nhô qua khe phía trước, bên dưới
khẩu kính của máy. Ông Khanh dùng tay phải kéo nốt tấm phim còn nguyên màu
trắng đục, chưa có nét hình nào kịp hiện lên. Cô gái, như sực nhớ mình đã nhìn
trời mây khá lâu, quay phắc lại, nhoẻn một nụ cười tươi nhưng ngượng ngập với
ông khách rồi tiến về phía cuối máy bay. Hiển nhiên cô ta không hay biết gì về
sự việc chụp ảnh kia.
Đường nét, màu sắc của cảnh trí
từ từ hiện ra, lộ dần bức ảnh màu trong đó khuôn mặt người con gái và khoảng
trời mây chưa rõ nét lắm. Rồi màu sắc bức ảnh đậm dần. Tươi thắm nhất là những
khoảng trời xanh xuyên qua những cụm mây trắng. Ông Khanh vẫn cho rằng đặc điểm
của ảnh chụp bằng máy Polaroid là màu da trời bao giờ cũng trung thực hơn các
màu khác. Và cuối cùng là một bức ảnh tuyệt đẹp: màu áo hồng phơn phớt với mái
tóc xõa che một phần gò má của một khuôn mặt thiếu nữ nhìn nghiêng, sống mũi
cao thanh tú, hai bờ môi hé mở vì chú ý quan sát; bên kia khuôn mặt là khung
cửa, rồi xa hơn, tít tắp giữa không trung là mây trắng từng mảng lớn trên nền
trời xanh lơ. Bức ảnh làm ông cảm thấy cộm một cảm giác thân quen mơ hồ. Rồi
ông nhớ lại cách đây lâu lắm, dễ đã mấy mươi năm, mình đã từng làm một công
việc tương tự trên một chuyến bay từ miền Trung vào Sài Gòn. Quái, tại sao lại
cũng chặn đường Đà Nẵng - Sài Gòn, lại cũng loại máy ảnh Polaroid, và cũng một
khuôn mặt con gái ngắm trời mây như hôm nay. Cái trùng hợp sau cùng này còn lạ
lùng hơn nữa. Ngày xưa, động lực khiến ông chụp vội bức ảnh là người con gái
đang đứng bên khung cửa, và trời mây “vô tình” bị kéo theo vào bức ảnh - dĩ
nhiên, tuổi trẻ không quan tâm đến cảnh vật bằng quan tâm đến con gái! Bây giờ
thì ngược lại - vì tuổi già thì ngược lại với tuổi trẻ, trong một chừng mực nào
đó. Người con gái “vô tình” quá, nên cực chẳng đã ông đã đem cô ta vào bức
hình. Ngày đó ông đã tặng bức ảnh cho người con gái tiếp viên phi hành trong
chiếc áo dài màu xanh da trời mà bây giờ ông không tài nào nhớ mặt. Chi tiết
độc nhất ông còn nhớ là vẻ mặt rạng rỡ vì vui mừng của người con gái cùng lời
cám ơn rất chân tình.
Ông Khanh cố nhớ lại cái quãng
thời gian mình chụp bức hình năm xưa. Cái mốc giúp ông nhớ là thời điểm ông mua
chiếc máy ảnh Polaroid: năm 1969. Và cái mốc để ông đóng khung ký ức mình vào
niên đại kia lại đến từ những gốc rễ mối mớ của một không gian trong đó hiện về
những con người cùng những sự việc bây giờ đã xa khơi. Rồi ông nhớ lại khá rõ
ràng chuyến bay năm ấy, năm 1969, cất cánh từ Đà Nẵng, như hôm nay. Có một khác
biệt nhỏ về chỗ ngồi. Hôm nay ông Khanh ngồi ở hàng ghế sát phòng lái, về phía
tay phải, và cả dãy ghế chỉ có mỗi một mình ông - một chuyến bay thưa khách -
còn ngày ấy ông ngồi ở hàng ghế thứ nhì, bên tay trái và hàng ghế đầu bỏ trống
- lại cũng thưa khách. Người con gái trong chiếc áo dài xanh da trời của Hàng
Không Việt Nam thuở đó đứng ở khung cửa sổ bên trái và nhìn ra ngoài về hướng
mũi phi cơ. Ông Khanh đã chụp ảnh khuôn mặt nhìn nghiêng của người con gái ở
góc độ hơi chếch từ phía sau. Người con gái trong chiếc áo dài phơn phớt hồng
của Hàng Không Việt Nam hôm nay đứng ở khung cửa sổ bên phải và nhìn ra ngoài
trời theo hướng ngược chiều bay của phi cơ. Ông Khanh vừa chụp ảnh người con
gái ở góc độ nhìn nghiêng hơi chếch từ phía trước.
Người
con gái lúc nãy lại xuất hiện. Khi vừa bước đến ngang chỗ ông Khanh ngồi, đôi
môi chợt hé mở như trong hình - vì đang chú ý quan sát - cô gái nhìn bức hình
rồi thốt lên:
- Ồ chú vừa chụp lúc nãy đấy à? Bức hình đẹp quá. Chú cho cháu mượn xem một tí
nhé?
Người
khách trao bức ảnh cho cô gái. Cô nhìn chăm chú bức hình một lúc rồi trả nó lại
cho ông Khanh, vẻ mặt bỗng hơi xa vắng:
- Cháu thấy một sự trùng hợp lạ lùng, chú ơi. Mẹ cháu cũng có môt bức hình
giống hệt. Để cháu lấy cho chú xem.
Cô gái
thoăn thoắt đi về phía đuôi máy bay. Ông Khanh nhìn theo, cảm thấy tim mình như
đập sai nhịp. Hoài niệm trong trí mình và những lời cô gái vừa thốt ra giống
như hai mảnh vỡ của cùng một viên đá, viên gạch của ký ức; đem chúng ráp lại sẽ
trùng khít. Và biết đâu hai người con gái đứng ở hai cửa sổ đối diện, ở hai
thời điểm cách nhau hai mươi bốn năm, và in hình trong ống kính máy ảnh ở hai
góc nghịch đảo lại chẳng là hai thế hệ tiếp nối! Tự nhiên ông Khanh nghĩ
thế, dù ông chợt thấy ý nghĩ thật lãng mạn, viển vông. Cô gái trở lại với
chiếc ví tay và lôi tấm ảnh nhỏ, cũ kỹ đưa ông Khanh xem. Một bức ảnh màu
Polaroid, với màu sắc hơi phai, nhưng không có một vết nào làm vẩn mặt ảnh, một
điều chứng tỏ sự gìn giữ kỹ lưỡng. Ông Khanh nhìn tấm ảnh, bàng hoàng. Không thể
lầm được. Chính bức ảnh ông chụp cách đây hai mươi bốn năm. Cũng người con gái
mặc chiếc áo màu xanh da trời đứng ở khung cửa sổ bên trái nhìn ra ngoài về
hướng mũi phi cơ, cũng khuôn mặt được thu vào ống kính từ một góc độ hơi chếch
từ phía sau. Bức hình trong ký ức ông Khanh và bức hình người con gái vừa đưa
ra đã trùng nhau. Có điều là bức hình hiện tại đã mô tả rõ hơn chân dung người
trong trí nhớ của ông. Mây trắng ngày xưa, con người ngày xưa với màu áo thiên
thanh gieo vào lòng ông một tình cảm khó tả. Lật tấm ảnh lại, ông liếc vội nhóm
số viết nắn nót với mục đen, một lối viết rất con gái, 16-9-69. Ông Khanh biết
được một điều “mới”: đó là ngày của chuyến bay năm xưa. Ông thấy lòng bồi hồi,
bâng khuâng. Ông mơ hồ thấy lại một mảng không gian của tuổi trẻ mình. Cô gái
nhìn chăm chú ông khách trong khi ông này đang trầm ngâm với bức ảnh. Cô nghĩ
chắc ông khách không ngờ lại có kẻ thứ hai làm cái công việc giống hệt như
mình. Ông Khanh chợt hỏi:
- Thì ra người này là mẹ của cô?
Cô gái cảm thấy hơi ngỡ ngàng vì câu hỏi không được “thông thường” cho lắm. Tại
sao lại “thì ra”, tại sao không là một câu hỏi thuần túy nghi vấn như cô đã chờ
đợi, một câu đại khái như “mẹ cô trước kia có làm tiếp viên phi hành không?”,
hoặc cùng lắm cũng là “người trong ảnh là mẹ cô?” và vân vân. Nhưng cô vội gạt
bỏ ngay điều thắc mắc kia mà cô cho là vớ
vẩn.
- Dạ phải.
Ông
Khanh im lặng. Chuyện khó tin mà lại có thật. Làm thế nào sự tình cờ lại có thể
xảy ra như trong mơ. Ông cầm hai tấm ảnh để kề nhau, hai tấm ảnh do ông chụp
cách nhau hai mươi bốn năm – ảnh hai mẹ con cách nhau ngần ấy thời gian dù
người con không nhất thiết phải hai mươi bốn tuổi. Cô gái nói tiếp:
- Má cháu mất cách nay bảy năm rồi.
Tự nhiên
ông thấy buồn, một nỗi buồn không đâu, vì “cố nhân” trong ảnh không còn nữa.
Ông Khanh hỏi:
- Chắc vì bệnh
- Vâng ạ
- Lại im lặng. Cô gái hỏi:
- Chú thấy cảnh trí của hai bức ảnh giống nhau không?
Bối rối,
nhưng ông Khanh cũng bình tĩnh
đáp:
- Nó giống bức hình tôi vừa chụp quá, làm tôi ngạc nhiên.
- Thoạt nhìn cháu đã thấy nó
giống ngay. Không ngờ mẹ cháu và cháu lại giao nhau trên cùng một chặn đường
như thế này.
- Ông Khanh chưa vội xác nhận với cô gái mình là
tác giả bức ảnh. Biết đâu đây chỉ là một sự trùng hợp kỳ lạ – một bức ảnh khác
cũng giống như đúc là một điều rất hi hữu, nhưng cái việc từ xa nửa vòng trái
đất về thăm quê nhà để cầm lại tấm ảnh ngày xưa mình chụp giữa tầng không là một
tình cờ còn hi hữu hơn nữa kia. Ông hỏi thăm dò:
- Bức ảnh chắc là do một người
bạn của má cô chụp?
- Theo mẹ cháu kể thì bức ảnh do
một hành khách trên một chuyến bay chụp, trên lộ trình Đà Nẵng – Sài Gòn. Bức
ảnh chụp tình cờ này rất vừa ý mẹ cháu. Mặc chiếc áo dài màu xanh của tiếp viên
phi hành, đứng cạnh cửa sổ máy bay, nhìn ra không trung mây trắng vần vũ trong
bầu trời bao la, bức hình đã nói lên được mộng ước và thỏa nguyện của mẹ cháu.
Bà trân quí nó lắm.
- Sau chuyến bay hai người có quen thân nhau
không?
Cô gái khẽ
nghiêng nghiêng đầu nhìn ông Khanh và cười rất hóm hỉnh, lộ ra hai hàm răng
trắng và đều:
- Người hành khách tình cờ đó chẳng để lại một ấn tượng gì rõ rệt trong trí mẹ
cháu; thậm chí mẹ cháu không biết tên, cũng không nhớ rõ khuôn mặt ông ta.
Nhưng bà không quên ông ta mỗi khi nhìn bức hình. Ở nhà còn một tấm mà mẹ cháu
đã cho chụp lại và rọi lớn ra.
Ông
Khanh lại hỏi một câu thăm dò khác:
- Mẹ cô không biết gì về người khách ấy?
- Mẹ cháu chỉ biết ông ta là một sĩ quan dù, căn cứ theo quân phục đang mặc. Mẹ
cháu kể rằng lúc bà hỏi ông khách vì sao không đáp máy bay quân sự cho đỡ tốn
tiền thì ông khách trả lời, “phải đi máy bay này mới chụp ảnh người đẹp
được.”
Đến đây
thì ông Khanh không còn hồ nghi gì nữa. Ông không nhớ đã nói những gì với người
con gái. Nhưng “sĩ quan dù” thì không trật đi đâu được. Ông tin mình đã nói mấy
lời kia. Hơn ai hết, ông hiểu mình thời trai trẻ lắm: về ngôn từ thì luôn luôn
“rộng rãi” với phái nữ. Ôi, một lời nói bình thường như trăm nghìn lời nói có
tính cách phản xạ của một người con trai trước một người con gái, nhưng người
đón nhận lời nói đã trang trọng nó trong ký ức. Người con gái nào lại không
thích được khen đẹp. Ông Khanh chăm chú nghe. Mắt ông nhìn thẳng vào gương mặt
xinh xắn có đôi mắt đen to và nụ cười lúc nào như cũng sẵn sàng nở trên đôi môi
hay hé mở khi nghe chuyện hay khi nhìn người đối diện. Ông không dằn được nữa:
- Tôi là tác giả bức hình này.
- Sao cơ? Chú vừa nói gì? Chú đã chụp tấm ảnh này ngày xưa? Chú là người khách
tình cờ kia?
Chú không đùa với cháu đấy chứ?
- Tôi nói thật đấy. Nãy giờ những câu hỏi có vẻ bâng quơ của tôi là để kiểm
chứng lại xem mình có lầm không. Những gì cô cho biết đều ăn khớp với những gì
tôi đã làm. Thật tôi không ngờ có ngày mình còn nhìn lại được bức hình đã xa
lắc xa lơ trong quên lãng…
Giọng
một xướng ngôn viên nữ báo máy bay “sắp vào không phận thành phố Hồ Chí Minh.”
Cô gái nói:
- Cháu
phải đi làm việc. Tiếc quá, phải chi có thì giờ. Cháu muốn nói chuyện nhiều với
chú.
- Cũng như tôi chụp bức ảnh cho cô bây giờ, hồi đó tôi cũng không biết gì về mẹ
cô cả.
- Không chỉ hỏi chuyện về quãng đời nghề nghiệp của mẹ cháu; tự nhiên cháu
thích cái lối của chú. Cháu tên Vân. Chú có bút không? Để cháu ghi số điện
thoại của cháu.
Ông
Khanh bỗng thấy mình trẻ lại. Lòng tự ái đàn ông được vuốt ve vì câu nói có lẽ
vô tư của một cô bé chỉ trạc tuổi con mình! Ông rút cây bút từ túi áo, trao cho
cô gái. Ông trả bức ảnh cũ lại cho cô tiếp viên và, trong mối cảm tình nẩy sinh
thoáng chốc, ông kèm theo tấm ảnh mới của mình:
- Tặng cô để kỷ niệm một chuyến bay.
Người
con gái lộ vẻ vui mừng:
- Cám ơn chú. Cháu không ngờ người chụp bức ảnh cho mẹ cháu hôm nay lại chụp
cho cháu một tấm giống hệt như vậy.
- Hy vọng sau này cô sẽ kể lại lai lịch bức ảnh cho các con của mình, như mẹ cô
đã kể cho cô nghe về bức ảnh kia.
Cô gái
thoáng một vẻ cảm động, cười nhẹ, bước đi:
- Dạ...
Một nam tiếp viên vừa bước đến nhắc ông Khanh cài dây an toàn. Qua cửa sổ ông
Khanh thấy những thửa ruộng loáng nước trải dài bên dưới. Ông lại nghĩ ngợi. Sự
việc vừa xảy ra thật lạ lùng. Tình cờ, may rủi, định mệnh, vân vân, vốn là
những gì con người vẫn gọi một khi không giải thích nổi những sự kiện khó hiểu
trong đời sống. Ông Khanh cũng tin tình cờ, may rủi, hoặc định mệnh chi phối
vạn vật, duy có điều những gì ông gặp cách đây hai mươi bốn năm lại đối xứng
với những điều vừa xảy ra hôm nay làm ông càng thấy khó quan niệm nổi “luật”
tình cờ của sự vật. Mẹ đối xứng với con, hai tấm ảnh polaroid đối xứng nhau qua
hai khung cửa sổ, hai chuyến bay trong hai xã hội đối xứng nhau, và chính
ông đang đối xứng với ông của hai mươi bốn năm xưa! Thật ly kỳ, từng cặp sự vật
lẫn sự việc đều đồng bộ với nhau, vì nếu không “cùng loại’ thì sự đối xứng đã
không có.
Bảo rằng
mọi sự đều có nguyên ủy của nó là một lối nói mơ hồ. Một viên gạch rơi xuống vì
chịu tác động của một lực nào đó. Một người bước đi vì cơ bắp được ý chí điều
khiển. Nhưng làm sao giải thích tại sao bước chân đã xê dịch tấm thân người ấy
đến vừa vặn điểm giao nhau với viên gạch đang rơi từ trên cao độ ba mươi thước,
gây nên cái chết bất đắc kỳ tử của một thiếu nữ tên Trang, nhân vật trong một
truyện của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn? Ngày xưa ông Khanh chụp bức ảnh người thiếu
nữ đứng bên cửa sổ máy bay vì cảnh trí ấy quyến rũ ông. Ngày nay cảnh trí ấy
lại hiện ra, niềm ham thích, niêm say mê cảnh trời mây trắng bên khung cửa vẫn
chưa bị thời gian đào thải, và ông đã làm lại cái công việc xưa cũ. Nhưng còn
đối tượng trong hình, và bao nhiêu yếu tố khác xoay quanh tấm ảnh bây giờ, làm
sao giải thích được sự đan bện, tròng tréo giữa chúng với nhau. Với sự kiện đơn
lẻ thường dễ hiểu nguyên ủy. Nhưng những sự kiện đơn lẻ ấy tập họp lại để làm
nên những sự việc, những biến cố của đời sống, ai có thể giải thích được lý do
quần tụ của chúng? Chúng quần tụ do ngẫu nhiên? Vâng. Nhưng ngẫu nhiên là gì?
Nó có nguyên lý, định luật của nó không? Hình như chưa có nhà luận lý học nào
giải đáp thỏa đáng cho chúng ta. Hay chúng quần tụ do một bàn tay siêu nhiên
nào sắp đặt? Máy bay vừa chạm đất, làm sàn phi cơ khẽ rung theo đường lăn bánh,
cắt đứt giòng suy nghĩ của ông Khanh. Hành khách lao xao chuẩn bị rời ghế. Máy
bay dừng hẳn, ông Khanh đứng dậy, nối đuôi theo giòng người tiến ra cửa. Các
tiếp viên phi hành đứng thành hàng dọc lối ra để tiễn khách. Đi ngang qua trước
mặt cô con gái của “cố nhân”, ông Khanh chỉ kịp mỉm cười từ giã, trong khi bên
tai nghe một câu nói khẽ, “cám ơn chú về bức ảnh.” Người hành khách già lững
thững bước xuống cầu thang phi cơ, thấy lòng mình không tẻ nhạt như mọi lần;
hình như ông vừa có một niềm vui nho nhỏ. “Tự nhiên cháu thích cái lối của
chú.”
HÀ KỲ LAM
