Mới ngoài 60 mà người ta dễ tưởng Già già lắm. Thế giới của Già bên xứ này,
giờ đây, đã bị thu gọn vào những trang sách lặng câm câm và những tiệc nhậu
thâu đêm. Phải nhìn trên bàn có chai đầy chai vơi, thì đấy mới là những lúc
người ta thấy Già sống dậy, Già hào hứng, Già sôi nổi nhất. Phải công nhận, Già
có cái oai của một ông đao phủ trong ánh mắt của những tên tử tội, sự có mặt
của Già bao giờ cũng làm sáng lên bất kỳ bàn nhậu nào Già bước tới. Tuy không
mấy ai thật sự kính trọng nhân cách ồn ào hay cao hứng bất tử của Già, nhưng
hình như ai cũng phải ngán Già hết. Mỗi người ngán một kiểu.
Già thông minh, Già nhớ dai cực kỳ, Già say mê đọc sách. Sách là hơi thở, là sĩ
diện, là đời sống của Già. Hết sách Việt tới sách Anh, sách Pháp, Già đọc tuốt.
Nghe nói giờ Già còn đang mò mẫm đọc cả sách Tàu và sách Tây Ban Nha. Ai xui
xẻo không biết Già đang ngồi đó mà dám bàn luận chuyện văn chương, chuyện chính
trị một cách tà tà tự tại là người đó tới số với Già! Giọng Hà Nội sang cả của
Già mỗi khi giương, nó khí phách còn hơn một Bao Công uy nghi tra hỏi phạm nhân
làm ai có ngầu cách mấy nghe cũng phải biết ớn.
Mỗi đêm trên bàn nhậu, Già chửi hết không biết bao nhiêu là người. Ghét ai,
Già kêu ra cả tên lẫn họ mà mắng như mắng cháu, có khi Già lôi cả chuyện lôi
thôi của gia đình, của con cái người ta ra mà… góp ý nốt. Già ghét những ai ít
tỏ ra kính phục Già, những ai cứ tưởng mình đã là nhà văn lớn, Già ghét luôn cả
những ai nhờ văn chương mà ăn nên làm ra, mà hay cười cười mãn nguyện. Còn
thích ai thì Già xuống giọng bao dung, Già hay mở miệng khen lơn người ấy, nhất
là những ai ra mặt kiêng nể Già, hoặc ít nhất cũng lâu lâu biết ghé qua nhà Già
với chút quà khúm núm lễ nghĩa. Cái yếu của Già cũng chính là cái dễ bị “mua
chuộc” này làm nhiều lúc em út không kịp hiểu sao bỗng dưng Già nhẹ tay cho tay
này hay tay nọ.
Nhiều lúc lẻ loi ngà ngà rượu, Già càng thấy rõ thế giới quanh mình chỉ đầy
dối trá, đầy tự tôn mà chán. Già nhớ ra biết bao nhiêu khuôn mặt đáng ghét trên
đời này… Nhớ để chỉ thấy cái lương thiện kia của mình càng cô độc… Chắc khó ai
có thể tưởng tượng ra rằng Già cũng có vợ con đề huề như người ta: một chị vợ
dễ thương và hai đứa con giống mẹ, trái ngược hẳn Già. Có lẽ chúng là tất cả
sức sống còn, là sức chịu đựng, và là niềm an ủi lớn đã giúp cho chị vợ Già còn
mãi đó đến bây giờ. Muốn hiểu Già mà không tìm hiểu về tâm tư, về cuộc đời thầm
kín của chị vợ Già là một thiếu sót cực kỳ lớn.
Sang Canada từ năm 85 cùng với Già, hồi mới ngoài 25, chị lầm lũi đi đi về
về với cái bệnh viện này ròng đã gần 30 năm. Chị có chân trong nhóm người Á
Đông lo việc lau chùi. Chị coi cái bệnh viện nhỏ này như ngôi nhà thứ hai của
chị. Hai đứa, thằng con trai đang là chuyên viên X-ray, cô con gái nhỏ hơn đang
làm y tá. Ba mẹ con thường chờ nhau ăn trưa gần gũi, những phút giây hạnh phúc
nhất trong ngày của chị. Chắc cũng nhờ chị làm việc tốt nên tụi nó mới được
bệnh viện này ưu ái nhận ngay sau khi ra trường.
Quanh năm chỗ làm có dịp vui gì như tiệc Christmas, tiệc chia tay nghỉ hưu
hay tiệc Sinh nhật, người ta cũng chỉ thấy mình chị lủi thủi tới, lủi thủi về.
Có người chưa biết, gặn hỏi sao chồng chị không bao giờ có mặt. Chị hay tìm
cách giả lả rồi nói lơ qua chuyện khác, và không lúc nào quên câu “Anh đang…
bận”. Chữ Bận của chị nghe nho nhỏ, ngăn ngắn tủi thân lắm. Nhìn chị im im bẽn
lẽn như muốn bước đi chỗ khác, chắc người ta cũng chợt hiểu ra lờ mờ điều gì đó
mà buông tha chị. Hình ảnh ba mẹ con chị trong bệnh viện này tuy không phải cao
sang gì nhưng nó là ước mơ thành công, là hạnh phúc trong mắt của biết bao
nhiêu người đàn bà khác trong nhóm lau chùi cực nhọc.
Thiệt ra ngày xưa Già cũng ngon lành lắm khi quen chị khi chị còn là một
trong những cô sinh viên tươi tắn của trường đại học Văn Khoa. Bữa kia, có vị
giáo sư lạ trẻ măng đến dạy thế vài hôm, ấy là Già. Già khi ấy oai phong, ăn
nói hùng hồn, văn vẻ trí thức lắm, theo lời chị kể. Hai người yêu nhau nhanh,
chỉ năm sau thành chồng thành vợ. Rồi vượt biển, rồi hai đứa con lần lượt ra
đời…
Nhưng nơi xứ người, Già như con cá bị hất ra khỏi chậu nước, ngày chỉ càng
trở nên lạc loài hơn cho số phận. Già không chịu nổi cái cảnh đi làm sáng dậy
sớm, chiều thất thểu leo xe bus về, cái kiểu gò bó giờ giấc như một thứ công
thức sống còn. Mới đầu Già cũng vô hãng xưởng làm mấy năm như người ta, sau Già
nghỉ hẳn. Cũng nhờ lương chị trong bệnh viện tạm đủ tần tiện trang trải cho cả
nhà trước khi hai đứa nhỏ có việc. Rồi Già rơi càng sâu vào cái thế giới bị
lãng quên… Già đọc sách, Già họp bạn cuối tuần tìm nụ cười… Già ngày càng trở
nên gắt gỏng, xa vắng hơn với chị…
Nhớ những bữa tiệc nhậu cuối tuần mà Già hay kêu chị chuẩn bị nấu nướng –
lúc nào cũng có đủ cả cái đám em út hà rầm kia ùn ùn mang rượu bia tới. Thường,
chị phải chuẩn bị đi chợ, nấu ăn cả ngày thứ Bảy, có khi luôn sáng Chúa nhật
nữa. Căn nhà nhỏ 2 phòng mướn lụp xụp tầng hầm của chị mấy bữa có tiệc nhậu đến
mờ sáng, tang hoang be bét: đứa say, đứa ngủ, đứa quờ quạng ói mửa, khói thuốc
lá ngập trời. Chị hay phải hối hả dọn dẹp một mình thì vừa kịp trước khi mấy
đứa con thức dậy. Nhiều lần tụi nó đòi giúp chị, chị bảo đừng, có khi như muốn
van lơn con. Chị sợ làm phiền con, sợ con bị lây cái thứ cảm giác chán chường
của đời chị…
Miễn quanh năm chị cứ im im thì Già cũng im chẳng nói gì, còn nếu chị mở
miệng là có chuyện lớn. Như bữa sau khi Già nói đám bạn Già sắp qua chơi và cần
chị nấu cho vài món nhậu. Lúc ấy là 4 giờ chiều, mà 6 giờ chị phải tới chỗ làm
ăn tiệc. Sùng quá, chị bảo Già sao không kiếm nhà đứa nào khác mà nhậu tối nay
đi, chị bận lắm không hầu nấu nướng gì nữa cho ai cả. Già nghe mà giận lắm, không
nói không rằng, khoác áo bỏ nhà đi hết mấy ngày. Bữa Già về trông như cái mền
rách vì mấy đêm tiệc tùng “mất ngủ”…
Gặp mặt chị, Già không nói một tiếng. Ngại cảnh chiến tranh lạnh, chị loay
hoay trở vô phòng nằm luôn. Một hồi. Già đẩy cửa bước vào, mặt Già sầm xuống
như du đãng chợ Cầu Muối đang đanh mặt với con nợ lì lợm nhất, giọng Hà Nội ra
oai: “Này! …vừa vừa thôi đấy! … Tôi không thích cái thái độ hàm hồ, hỗn xược
của bà như thế đâu! … Liệu hồn với tôi đấy! …” Già đập rầm cửa như tiếng tát
ngàn cân vô mặt chị. Trong muôn thứ tiếng lòng ngổn ngang tủi phận, người vợ
lam lũ cũng còn nghe được chút ân hận nổi lên. Chị nghe như chị đã biết đầu
hàng cho số phận. Và từ nay, chị tự hứa sẽ không dại gì mà dám nói lại gì với
Già nữa, dù chỉ một câu. Hình như ba mươi năm nhẫn nhục đã đủ sức giết chết đi
hết mọi sức phản kháng ở chị rồi.
Trong mắt Già, chị biết, chị là cái bếp thấp hèn, chị là cái công việc nhỏ
bé ngày ngày nơi cái bệnh viện nhàm chán đó. Chị cũng hiểu Già mang một thứ tự
ái buồn bực vì phải sống nhờ vào đồng tiền của chị. Có lúc nhìn Già chị cũng
thấy tội tội so với những ngày nào khi Già còn là một vị giáo sư huy hoàng trên
bục giảng đường đại học… Chính những thứ cảm thông tội nghiệp ấy đang ngày càng
vùi sâu hơn đời chị.
Quanh năm vợ chồng mà có mấy lần chị dám nhìn thẳng mặt Già. Và cũng đã hơn
hai chục năm nay, chuyện phòng the của chị lúc nào cũng đồ tới, đồ lui một bản
nhạc nhờn nhợt, khổ nhục, cũ kỹ. Cứ lâu lâu, bữa nào quá chén mà nổi hứng bất
tử là Già lựng khựng xông vào phòng chị lúc nửa đêm. Già thường trong bóng tối
ngồi xuống bên giường như mặc niệm, như muốn lấy tinh thần mà chịu nhục vì phải
thố lộ chút nhu cầu “nhỏ mọn”. Mùi rượu thịt từ miệng mũi, từ quần áo Già bao
giờ cũng vây bủa dày đặc, ngột ngạt bóng khuya…
Bao giờ cũng thế. Tuồng bắt đầu bằng cái bàn tay to ngón của Già sờ soạng
kiếm ngực chị. Rồi giây lát chắc định thần đã moi ra mục tiêu, bàn tay thô
thiển lành lạnh ấy lại lần ra ngay hàng nút áo lặng im vô tội. Cái mặt đờ đẫn
rượu của gìa úp xuống hồng hộc… Rồi bàn tay kia nãy giờ quên lãng phận sự, nó
giựt mình sống dậy, nó vội chạy tuột xuống một hơi hung hổ kéo theo cái quần
ngủ lưng thun của chị… Chị trần truồng thảm hại như một xác chết còn dính chiếc
áo cánh nằm thin thít bất động nghiêng đầu qua một bên như vẫn còn chút sức tàn
mà cố né tránh phút cao điểm nhờn nhợt phải tới… Nó đang tới. Hãi lắm. Chị biết
… Già lên hẳn giường. Già bỏ chân qua. Già leo hẳn lên trùm ụp xuống thân thể
chị. Già hít thở đứt khoãng khó khăn như con thú bị trúng tên còn ráng chạy sắp
đứt hơi…
Xong việc gọn ơ, Già vơ gọn cái quần rút êm như chợt biết hối tiếc chuyện
đáng tiếc vừa rồi. Để lại mình chị cả một chiến trận hoang tàn xác xơ trong
bóng đêm trình trịch. Làm sao chị quên được cái dáng nhanh nhẹn của Già lờ mờ
bước ra mà như trốn chạy, tay bụm tay vói tới chực kéo cửa, hai cái chân đùm da
lúm khúm vội vàng như sắp vấp… Cái cảm giác có chút gì nhuốc nhơ trong chiếc
áo, trong chiếc mền, trên cái giường, trong bóng tối lờ mờ, sao cứ bám lấy tâm trí
người đàn bà hèn mọn. Có khi tủi thân chị bật khóc… Chị thường không dám bước
ra liền đâu, sợ lỡ gặp phải cái khuôn mặt khó hiểu hay xấu hổ gì đó của Già mà
khốn…
Rồi ngày kia, lựa lúc chị đang bận nấu cơm cho không gian bớt căng thẳng,
Già bước vào bếp phán một câu rất lịch sự đàn ông trí thức: “Tôi… muốn về Việt
Nam sống luôn với mấy người bạn, nay báo cho bà biết để bà lo liệu chuyện bên
này mà sống với hai đứa nó. Tôi đã bàn với chúng cả rồi…” Chị quay qua Già. Cái
nhìn trơ mắt mà đời Già chưa hề chứng kiến. Già chột dạ đứng im. Già ráng giữ
vẻ bình thường. Bốn mắt nhìn nhau im lặng ngột ngạt, cùng nhận ra một thứ sự
thật nặng trịch đã bị ngâm quá lâu, cái sự thật ngày mạnh ai nấy đi này rốt
cuộc cũng đã tới. Nó là đây. Là dễ ồm thế này đây à. Cớ sao nó không tới từ lâu
chứ. Được! ông nghe đây! Giọng chị nhỏ nhẹ hơn lửa đang phừng phực cháy trong
lòng: “Sao ông không đợi ký xong giấy tờ ly dị phức đi rồi hãy đi cho nó tiện?”
Câu nói của chị đã tán vô mặt Già một cú ngoạn mục mà cả đời Già chưa từng
có thể tưởng tượng ra nổi! Tai Già như ù hẳn. Mắt Già mở lớn. Già vừa mới bị ai
giựt ngược tóc lại. Già chết đứng nghe trong lòng bao nhiêu thứ tự ái trỗi lên…
“Bà nói sao? Bà muốn ly dị ngay à. Bà…ra lệnh cho tôi ấy à?…”
“Ông đừng lên giọng tới tôi nữa! Tôi đi ngay bây giờ!… Tôi dọn sang nhà bà
bạn tôi ở… Cơm nước thì đấy, ông có tay thì cứ tự nhào vô bếp nấu mà ăn đi!”
Nói xong, chị bỏ đi thẳng vô phòng. Chừng mười phút sau, chị xồng xộc mang
chiếc va-ly thẳng ra cửa. Cánh cửa kẽo kẹt bị giựt mạnh nghe rung cả tâm can,
rung cả cái thế giới trước mắt Già. Già choáng váng xoay người tìm liền cái ghế
sofa. Già ngồi phịch xuống thở phừng phừng, mắt trợn to như heo đang bị thình
lình thọc huyết!
Mấy tuần sau… Một buổi chiều, tại phi trường. Có dáng một gã đàn ông mặc đồ
lớn, râu ria trắng toát đang nói cười hóm hỉnh cùng vài ba ông bạn đang đứng
phì phào khói thuốc trước cổng chờ sắp hàng lên phi cơ về nước…
Cùng lúc, ngoài công viên High Park, giữa mùa hoa Anh Đào nở, có bóng dáng
người đàn bà lạ. Tay đang vói lên vịn cành hoa phơn phớt trắng, có ửng chút
nắng hồng, thứ nắng chiều chói chan dễ làm cho lòng người ta râm ran hạnh phúc.
Có người đàn ông tay đưa máy ảnh lên ngắm ngắm nhìn nhìn người đàn bà mà chốc
chốc họ cùng nhau cười nghiêng ngửa như đã cùng chụp được những bô vừa ý nhất…
Sao đôi mắt người đàn bà cứ ánh lên một vẻ cương quyết lạnh toát xa xôi… Người
đàn bà cười bước tới nắm lấy tay người đàn ông đang cầm máy ảnh, họ tựa đầu vào
nhau sánh bước theo hướng bờ sông ở xa xa…
Người đàn bà ấy là chị vợ của Già. Người đàn ông kia là anh cùng làm chung
trong bệnh viện với chị, người đã hết lòng âm thầm yêu thương hoàn cảnh chị
mười mấy năm nay nhưng lúc nào chị cũng một lòng từ chối. Cho tới bây giờ. Một
suy nghĩ kinh khủng lúc nào cũng nằm trong đầu chị cả buổi chiều nay: Lỡ có ai
bắt gặp mình đang ngoại tình trong lúc này thì phải trả lời sao đây với họ? Tự
hỏi; rồi chị lại phá lên cười như đã tự trả lời xong! Cười hoang dại, cười như
điên một mình làm cho người yêu chị đứng gần cũng thót lên giựt mình. Và rồi
anh cũng chỉ biết cười theo chị chứ không hỏi gì khi anh thấy chị chưa muốn
nói…
Ai giờ này, tính luôn Già Tuân, mà dám nghĩ rằng chị là người đàn bà dâm
loàn trốn chồng theo trai thì hãy đứng ra ngay đây! Đứng trước mặt chị mà nói
thì… Chị sẽ cho nó ăn ngay một cái tát!
Đoàn Khuê
