Bài viết cho biết lai lịch của bản nhạc nổi tiếng Thuyền Viễn Xứ và chân
dung của co-owner là nữ sĩ trẻ Huyền Chi thời bấy giờ. Bài thơ thật hay, thanh
thoát đượm nỗi buồn man mác của kẻ giong thuyền ra khơi, trên sông bao la biết
đâu là bến bờ, rộn ràng niềm nhớ cố hương....
Nếu không thì chỉ biết bài hát là của nhạc sĩ Phạm Duy.
H. Thanh
Những bóng hồng trong thơ nhạc...
...Chiều nay
sương khói lên khơi...
Trong
những ca khúc đầy tâm trạng hoài hương, mang nỗi buồn man mác như: Làng tôi
(Chung Quân), Hướng về Hà Nội (Hoàng Dương), Quê mẹ (Thu Hồ), Làng
tôi (Văn Cao), Ngày về (Hoàng Giác)... thì Thuyền viễn xứ của Phạm
Duy dù có buồn nhưng giai điệu khác hẳn: lạ hơn, sang trọng hơn...
Bạn thân của tôi, nhà báo Trần
Thanh Bình, có một giọng hát khá tốt cho nên trong những lúc ngà ngà cuộc bia
thường được đề nghị hát giúp vui (không đề nghị... cũng hát), và hầu như lúc
nào anh cũng cất lên: “Chiều nay sương khói lên khơi. Thùy dương rũ bến tơi
bời. Làn mây hồng pha ráng trời. Sóng Đà Giang thuyền qua xứ người. Thuyền ơi,
viễn xứ xa xưa. Một lần qua dạt bến lau thưa. Hò ơi, giọng hát thiên thu. Suối
nguồn xa vắng, chiều mưa ngàn về...”(Thuyền viễn xứ). Giọng hát nghiệp dư của
Trần Thanh Bình chỉ cỡ đó, nhưng cũng đủ làm xuyến xao tâm hồn người nghe, nói
chi được thưởng thức tiếng hát của những danh ca như Thái Thanh, Sĩ Phú.
Bài thơ của một cô gái
Thế
nhưng, nhiều người chỉ biết Thuyền viễn xứ là của Phạm Duy chứ chẳng mấy
ai để ý rằng đây là một ca khúc phổ nhạc, dù trên bìa bản nhạc (thời đó, từ đầu
thập niên 1940 cho đến 1954 trong toàn quốc, cả Cao Miên, và từ 1954 đến 1975 ở
miền Nam, những bản nhạc được xuất bản dưới hình thức in rời bằng giấy cứng khổ
lớn in 2 mặt, gấp lại ở giữa), Thuyền viễn xứ được cả hai nhà xuất bản Tinh Hoa
và Á Châu ấn hành đều ghi rõ: nhạc: Phạm Duy, thơ:
Huyền Chi.
Huyền Chi
là bút danh của Hồ Thị Ngọc Bút, sinh năm 1934 tại Từ Sơn (Bắc
Ninh), theo gia đình vào Nam từ trước năm 1954. Lúc mới vào Nam (1948-1949), cô
ở với chị gái tại Đà Lạt, sau đó về Sài Gòn (1950) vừa đi học vừa phụ mẹ trông
nom sạp vải ở chợ Bến Thành. Bài thơ Thuyền viễn xứ là một trong 22 bài thơ nằm
trong tập thơ Cởi mở của Huyền Chi xuất bản năm 1952, trong thời gian cô sinh
hoạt với một nhóm văn nghệ sĩ trẻ và làm thư ký tòa soạn chuyên trách mục thơ
cho Tạp chí Phụ Nữ của bà Nguyễn Thị Lan Phương.
Và đây là nguyên văn bài thơ Thuyền viễn xứ, mà tác giả là một cô gái
18 tuổi:
Ra khơi sương khói một chiều
Thùy dương rũ bến tiêu điều ven sông
Lơ thơ rớt nhẹ men lòng
Mây trời pha ráng lụa hồng giăng ngang
Có thuyền viễn xứ Đà Giang
Một lần dạt bến qua ngàn lau thưa
Hò ơi! Câu hát ngàn xưa
Ngân lên trong một chiều mưa xứ người
Đường về cố lý xa xôi
Nhịp sầu lỡ bước, tiếng đời hoang mang
Sau mùa mưa gió phũ phàng
Bến sông quay lại, hướng làng nẻo xa
Lệ nhòa như nước sông Đà
Mái đầu sương tuyết lòng già mong con
Chiều nay trời nhẹ xuống hồn
Bao nhiêu sương khói chập chờn lên khơi
Hai bờ sông cách biệt rồi
Tần Yên đã nổi bốn trời đao binh
Ngàn câu hát buổi quân hành
Dặm trường vó ngựa đăng trình nẻo xưa
Biết bao thương nhớ cho vừa
Gửi về phương ấy mịt mờ quê hương
Chiều nay trên bến muôn phương
Có thuyền viễn xứ lên
đường... lại đi...
Duyên văn
nghệ
Tuy lời
thơ có vẻ... cổ phong (vốn là chuẩn mực vào thời đó) nhưng vẫn toát lên một nỗi
buồn man mác. Bố cục bài thơ cũng rất “chắc tay”, hồn thơ tinh tế. Tập thơ vừa
in xong tại nhà in Sống Chung trên đường Trần Hưng Đạo thì tình cờ Huyền Chi
gặp nhạc sĩ Phạm Duy khi ông đến thăm bà Đào (chủ nhà in). Cô ký tặng nhạc sĩ
tập thơ Cởi mở. Cũng nghĩ là chút duyên văn nghệ thế thôi, bởi đó là lần gặp gỡ
duy nhất giữa hai người. Vậy mà người được tặng tập thơ đã chọn một bài thơ lục
bát rất... truyền thống trong tập thơ ấy để phổ thành ca khúc. Điều đáng nói là
nhạc sĩ Phạm Duy đã trổ tài “phù thủy” khiến trong ca khúc phổ thơ của ông, khó
ai tìm thấy bóng dáng của thể loại lục bát. Đã vậy, đoạn giữa được chuyển qua
âm giai trưởng nghe vừa xa vắng, vừa rạo rực mênh mang: “Nhìn về đường cố lý,
cố lý xa xôi. Đời nhịp sầu lỡ bước, Bước hoang mang rồi. Quay lại hướng làng,
Đà Giang lệ ướt nồng. Mẹ già ngồi im bóng. Mái tuyết sương mong con bạc
lòng...”.
Trong
quyển Hồi ký Phạm Duy (tập 3, ấn bản 2008), tác giả viết: “Gần hai năm
đã trôi qua kể từ khi tôi bỏ vùng quê vào Hà Nội, rời miền Bắc vào miền Nam, lo
ổn định nơi ăn chốn ở và thu xếp công kia việc nọ ở Sài Gòn... Vào thời điểm
này (trước cuộc di cư 1954), Huyền Chi, một cô em bán vải ở chợ Bến Thành đưa
cho tôi phổ nhạc bài thơ nhan đề Thuyền viễn xứ. Bài thơ này nói lên tâm trạng
một người Bắc Việt phải rời bỏ bến Đà Giang để vào sinh sống tại miền Nam. Phổ
nhạc xong bài thơ nhớ miền viễn xứ, trong tôi lại nổi dậy sự viễn mơ của bài
Bên cầu biên giới năm xưa, tôi bèn soạn bài Viễn du...”.
Huyền Chi
lập gia đình với giáo sư Trần Phụng Tường vào năm 1954, và theo chồng ra Phan
Thiết, nơi ông đang dạy Pháp văn ở Trường trung học Phan Bội Châu. Ở đây bà mở
hiệu sách Bút Hoa và dạy Anh văn.
Nguyễn
Phước Thị Liên, một cựu học sinh của Trường trung học Phan Bội Châu, đã “vẽ
lại” chân dung của Huyền Chi như sau: “Huyền Chi là một phụ nữ đẹp, tài sắc vẹn
toàn. Cô có nước da trắng khỏe, dáng người cao, gương mặt tươi, miệng cười hiền
hậu dễ mến, tà áo dài màu thiên thanh đài các trong những chiều lộng gió, khi
thầy cô sánh vai giữa thành phố Phan Thiết, đã làm xao xuyến bao tâm hồn nữ
sinh lúc bấy giờ...” (Kiến Thức Ngày Nay số 768 tháng 12.2011).
Sau 1975,
gia đình bà Huyền Chi chuyển vào Sài Gòn. Bà hiện vẫn còn sống tại đây, còn
chồng bà - ông Trần Phụng Tường mất năm 2010. Trong 7 người con của hai ông bà
có 4 người hiện ở Việt Nam, 3 người ở nước ngoài. Chắc chắn những người con ở
xa quê này cũng sẽ có tâm trạng như mẹ của mình vào hơn nửa thế kỷ trước, khi:
“Chiều nay gửi tới quê xưa. Biết là bao thương nhớ cho vừa. Trời cao chìm rơi
xuống đời. Biết là bao sầu trên xứ người. Mịt mờ sương khói lên hương. Lũ thùy
dương rủ bóng ven sông. Chiều nay trên bến muôn phương. Có thuyền viễn xứ nhổ
neo lên đường...” (Thuyền viễn xứ).
Hà Đình Nguyên

