Tôi trở về nhà. Bàn yên, ghế lặng, sách vở nằm im. Mười ba
tuổi tôi đã cảm nhận được cuộc bể dâu. Hai anh em sinh đôi thằng Sinh thằng
Sáng lớn hơn tôi 3 tuổi đi sùng sục khắp xóm với băng đỏ trên tay. Bác Khuê tài
xế sát nhà làm tiệc mời hàng xóm tới nhậu oang oang để mọi người biết bác đang
ăn mừng cách mạng về. Nhà thằng Khánh có ba nó làm lớn trong tòa tỉnh trưởng
đóng cửa kín bưng. Ba tôi lính quèn nhưng nhờ nhậu giỏi nên quen biết lớn, sau
một ngày đi mất tiêu, trở về nhà nói với má tôi chắc cả nhà ông tướng Cảnh, đại
tá Quang đã đi rồi. Mình cũng phải đi thôi. Má tôi khóc lóc không biết nên đi
hay ở, để lại mệ ngoại cho cậu Tương, má không đành. Ngày hôm sau, tin đồn người
di tản chết như rươi trên quốc lộ Số 1 giải quyết mọi đắn đo của má. Còn tôi,
tôi ra sau nhà, đào đất chôn Minô dưới gốc ổi...
*
Cuộc đời có nhiều khúc chia ly. Thâm Tâm "đưa người ta
không đưa sang sông, sao có tiếng sóng ở trong lòng". Thanh Tâm Tuyền là
"thằng điên khùng, ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới". Trịnh
Công Sơn có "những hẹn hò từ nay khép lại, thân nhẹ nhàng như mây, chút nắng
vàng giờ đây cũng vội, khép lại từng đêm vui".
Lãng mạn hay ngậm ngùi, giây phút giã từ vẫn là điều biết
trước. Phần tôi, đã không có một phút chia tay, không một lời đưa tiễn, không một
vòng tay. Trưa 2 giờ, "hẹn gặp nhau ngày mai ở lớp học" - cô bạn học
trò có đôi mắt người Sơn Tây cười quay đi. Đó là lần cuối tôi nhìn thấy mái tóc
bước đi của bạn tôi. Đó là buổi sau cùng tôi có các bạn tôi. Đó là ngày chấm dứt
thời thơ ấu. Trong một ngày, tôi mất vĩnh viễn một quãng đời đẹp nhất. Không biết
trước. Không một lời chia tay. Không bao giờ gặp lại. Trong tôi, hình ảnh những
đứa bạn đã dừng lại vĩnh viễn, sống và chết ở ngày ấy. Cho đến bây giờ.
Mười ba bạn vẫn mười ba
Dù đời nghiệt ngã dù ta đã già
Khói sương nhân ảnh có mờ
Bạn ta, ta giữ một ngày mười ba...
Ngày đó là ngày 9 tháng 3 năm 1975. Hôm sau, 10/3, Ban Mê
Thuột thất thủ.
*
Buổi sáng, ôn nội, má tôi cùng đàn con 7 đứa di tản qua nhà
chú Kim Liên. Nhà chị mái tôn vách gỗ, ở đây nguy hiểm; anh Hai lại không có
nhà - Chú Kim Liên ân cần bảo. Tiếng đại pháo vẫn liên tục ầm ì vọng về từ chiều
hôm qua trên thành phố hoang mang. Ba tôi không thấy về từ tiểu khu Mai Hắc Đế.
Má tôi âu lo không biết nên đem theo những gì. Ôn tôi làu bàu nhà mình không ở,
lại đi đâu. Tôi và lũ em vui mừng vì tự nhiên có một ngày nghỉ học. 1 giờ trưa,
mọi toan tính, làu bàu, vui mừng đã chấm dứt khi những viên đạn AK xé nát khung
cửa sắt phía trước và bên kia của con đường A Ma Trang Long ngập lửa. Chiến
tranh thật sự gõ cửa vào nhà. Chú Kim Liên ngồi co rút dưới chân cầu thang, mặt
không còn chút máu, mếu máo khóc. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy người lớn sợ
hãi hơn tôi.
Chiều. Im lặng. Dãy nhà bên kia đường đã cháy rụi. Mọi người
quyết định kéo nhau về chùa Khải Đoan. Ở chùa vẫn tốt hơn, ôn nói. Đi ngang đường
Quang Trung, tôi nhìn thấy chiếc xe tăng áng trước chợ Đê. Hai người lính bộ đội
mệt mỏi yên lặng đứng nhìn chúng tôi. Lần đầu tiên trong đời tôi nhìn thấy những
người phía bên kia. Họ bình thường, không hung tợn như hình ảnh tôi có trong đầu
qua những sách hình đã xem, những truyện đã đọc. Chú Kim Liên mặt mày lại tái
mét, chân đi muốn khụy.
Tới ngã tư Nguyễn Tri Phương và Phan Bội Châu, má tôi thì thầm
vào tai bảo tôi chạy về nhà lấy cái túi má giấu dưới bệ thờ. Không sao đâu
ôn... xong con chạy liền tới chùa nghe con. Má tôi nói với ôn và dặn dò tôi.
Trên đường về nhà tôi gặp anh Vi trốn lính hàng xóm. Anh đã gần 25, 26 mà khai
sinh lúc nào cũng 16. Gần tới nhà thì anh bị chận lại. Mấy năm trốn cảnh sát Cộng
hòa, hôm nay anh bị bộ đội cụ Hồ bắt. Anh Vi gỡ gạc chỉ vào tôi nói xạo - chỉ
có hai anh em, bắt tui rồi nó sống với ai? Bắt luôn! Trên đường cùng đoàn người
bị bắt đi về ngã cầu số 14, anh Vi thì thầm chết cha rồi Cu Em, điệu này giống
Phước Long, anh em mình sẽ bị bắt đi lao công chiến trường. Cám ơn anh Vi. Mười
ba tuổi, thằng Cu Em trở thành tù binh chiến tranh. Chẳng có dịp nào để trách
anh vì 3 năm sau nghe tin anh Vi chết ở Buôn Hô vì bệnh lao.
*
Tháng ba, tôi đi qua những hàng cà phê đứng gió. Đôi chân với
gai mắc cỡ đâm sâu từ đêm qua vẫn còn râm râm nhức. Tôi đi qua vùng kỷ niệm của
những buổi trưa trốn học tiết đầu, rủ nhau đạp xe đạp vào những đồn điền cà phê
bắt ve sầu, nằm ngửa mặt đón những tia nước đái giống như mưa phùn của hàng
nghìn con ve mà chắc chỉ ở nơi này mới có.
Buổi chiều cả đoàn được dừng lại nghỉ qua đêm. Bác chủ đồn
điền tốt bụng đem gạo và nồi nấu ra cho. Người con gái khoảng cùng tuổi cho tôi
một cái mền xanh của quân đội Mỹ. Tôi ôm nồi xuống suối tắm và lấy nước nấu
cơm. Vừa kịp vắt xong cái áo thì ầm ầm, tiếng bom như xé nát bên tai. F5 của
không quân VNCH! Tiếng người la ơi ới. Chiếc phản lực bay với tốc độ vượt âm
thanh nên tiếng bom đến trước tiếng động cơ theo sau. Tôi ôm nồi nước chạy vắt
giò lên cổ. Bụi đỏ ngập bầu trời. Không kịp thở tôi về đến chỗ tập trung, nhìn
lại nồi nước hình như không đổ một giọt. Sợ đến nỗi chạy trối sống trối chết mà
vẫn vô thức giữ cho nồi nước còn nguyên. Lần đầu tiên trong đời, tôi biết thế
nào là sợ đến té đái trước biên giới tử sinh. Tôi mất cái áo ở bờ suối. Tối hôm
đó, nhớ má quá tôi quyết định trốn về.
*
Đi ngang qua nhà số 94 đường Lê Văn Duyệt nhìn vào tôi biết
ôn, má và các em tôi không ở đó. Dì Vinh bán bánh căn đầu đường, má thằng Cứt bạn
tôi, nói má con lúc ở chùa bả khóc quá chừng khi con bị mất tích. Cả nhà con
bây giờ đang ở bên cậu Tương. Dì Vinh lấy một cái áo của thằng Cứt cho tôi mặc.
Con ở trần về má con thấy bả còn khóc dữ. Về nhà cậu, má tôi ôm tôi bù lu bù
loa. Ôm má, tôi nhìn ôn quẹt nước mắt. Lần đầu tiên trong đời tôi nhìn được giọt
nước mắt của ôn. Còn tôi không hiểu sao tôi không có được một giọt nước mắt. Và
ba tôi vẫn biệt tăm.
Ngày hôm sau tôi theo má và ôn đi tìm ba. Con đường dẫn đến
trường Trung học Tổng hợp nồng mùi xác chết. Trời Ban Mê giữa trưa tháng ba đã
hầm hập gió mùa. Ôn, má và tôi đi suốt từ suối Đốc Học, đến tiểu khu Mai Hắc Đế,
về phi trường L19 và dọc theo đường Hùng Vương. Những xác người sình căng giữa
ngọ. Những con đường chết với đàn ruồi vo vo bay lên đáp xuống. Mỗi xác chết là
mỗi bước phân vân, lưỡng lự. Mỗi xác chết ôn tôi rón rén đến gần nhìn. Mỗi xác
chết nằm sấp ôn tôi lật ngữa. Mỗi xác chết ôn tôi cười mếu máo - không phải thằng
Hai!. Mỗi xác chết má tôi cười theo sau làn nước mắt. Lần đầu tiên trong đời,
tôi cười trên những xác người.
Một tuần sau ba tôi trở về với chiếc quần xà lỏn và cái áo
may ô đen đủi. Đó là hình ảnh cuối cùng của người lính VNCH trong tôi. Ba tôi
ôm ôn tôi khóc trước khi ôm má tôi.
*
Tháng Tư trở về ngôi nhà hương hỏa
con chó già nằm ngủ thiên thu
Minô, Minô gốc ổi vàng yên giấc
chiếc võng buồn tênh
không người đưa...
Tôi trở về nhà. Bàn yên, ghế lặng, sách vở nằm im. Mười ba
tuổi tôi đã cảm nhận được cuộc bể dâu. Hai anh em sinh đôi thằng Sinh thằng
Sáng lớn hơn tôi 3 tuổi đi sùng sục khắp xóm với băng đỏ trên tay. Bác Khuê tài
xế sát nhà làm tiệc mời hàng xóm tới nhậu oang oang để mọi người biết bác đang
ăn mừng cách mạng về. Nhà thằng Khánh có ba nó làm lớn trong tòa tỉnh trưởng
đóng cửa kín bưng. Ba tôi lính quèn nhưng nhờ nhậu giỏi nên quen biết lớn, sau
một ngày đi mất tiêu, trở về nhà nói với má tôi chắc cả nhà ông tướng Cảnh, đại
tá Quang đã đi rồi. Mình cũng phải đi thôi. Má tôi khóc lóc không biết nên đi
hay ở, để lại mệ ngoại cho cậu Tương, má không đành. Ngày hôm sau, tin đồn người
di tản chết như rươi trên quốc lộ Số 1 giải quyết mọi đắn đo của má. Còn tôi,
tôi ra sau nhà, đào đất chôn Minô dưới gốc ổi.
*
Mỗi tối ngồi nghe đài, ôn tôi lại mừng rỡ nói với cả nhà:
Nha Trang mất. Pleiku mất. Đà Lạt mất… Mỗi địa danh thất thủ là mỗi gánh nhẹ được
gỡ bỏ khỏi nỗi lo âu nặng nề của ôn. Ôn nói với má là ôn sợ nếu chỉ có Ban Mê
Thuột bị mất giống như Phước Long mấy tháng trước đó thì đời thằng Hai sẽ tàn.
Thôi thì mất hết là hết chiến tranh, thằng Hai, thằng Cu Em không phải bị bắt
đi lao công chiến trường. Ôn tôi, một người làm cu li cho Tây, không biết đọc,
biết viết chỉ nghĩ đơn giản như thế cho kết cục của một cuộc chiến 21 năm. Ngày
30 tháng 4 Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Ôn thở phào nhẹ nhõm.
Lúc đó tôi đang ngồi viết lại những tờ khai lý lịch của ôn, mệ, ba và má. Mỗi
lý lịch khoảng 10 trang. Mỗi người phải có ba bản sao. Tờ nào có một chữ sai phải
viết lại cả trang.
Ngày 30 tháng 4, cả nước lo âu hay cả nước mừng rỡ tôi không
biết. Tôi ngồi chửi thề vì phải viết tay gần 100 trang bản khai lý lịch gia
đình.
*
Sau ngày giải phóng, má tôi đóng cửa tiệm buôn bán, chia tay
đời sống tiểu tư sản và mua lại từ người bạn một đồn điền cà phê nhỏ để góp phần
xây dựng đất nước. Má tôi dặn các em tôi ai hỏi phải nói như vậy. Được một năm
má gần hết vốn. Cà phê thu hoạch được phải bán cho nhà nước với giá bèo nhưng
phân bón phải mua giá chợ đen. Má tôi biểu chặt bớt cà phê để trồng khoai lang
và khoai mì. Hì hục chặt được đâu mấy trăm cây thì cán bộ gọi lên phường bắt
đóng tiền phạt. Cà phê là tài sản của nhân dân không được phá hoại. Không đủ tiền
chăm sóc thì cà phê chết và lại bị phạt, má làm đơn xin dâng đồn điền cho nhà
nước. Nhà nước không nhận vì đó là tài sản của nhân dân.
Một đêm tối, má lặng lẽ dắt các em tôi trốn về Sài Gòn. Ôn về
Đà Lạt ở với O tôi. Ba tôi đi cải tạo vẫn mù tăm. Còn tôi ở lại, lang thang bụi
đời và đi buôn lậu cà phê tuyến đường Sài Gòn - Ban Mê Thuột.
Lần ghé Ấp Ánh Sáng ở Đà Lạt thăm ôn, ôn hỏi bây giờ con làm
gì? Dạ con đi buôn cà phê. Ôn nhìn tôi buồn rầu không nói. Đêm tôi chào ôn trước
khi về lại Ban Mê, ôn ngồi hút thuốc cẩm lệ và kể cho tôi nghe cuộc đời làm đầy
tớ, cu li, thất học của ôn. Kể chuyện đời ôn, nhìn đứa cháu đích tôn buôn lậu bụi
đời, ôn nói ngày 30 tháng 4 ôn vui mừng vì chỉ biết lo cho ba con và con, bây
giờ ôn mới thấy đó là một ngày khốn nạn. Trước khi tôi đi ôn giúi vào tay tôi
chiếc nhẫn vàng hai chỉ và ôn khóc.
Đó là lần cuối tôi gặp ôn. Hai năm sau, ôn mất. Tôi không về
nhìn ôn lần cuối và thắp được nén nhang trước mộ của ôn. Lúc đó, tôi đang bắt
chước anh Vi chui nhủi ở Gò Công để trốn nghĩa vụ quân sự. Ngày ôn chết tôi
không hay.
*
Năm tháng trôi. Người lính VNCH quần xà lỏn áo may ô lần cuối
tôi nhìn bây giờ lụ khụ ở nhà giữ cháu cho con. Anh bộ đội cụ Hồ ở chợ Đê ngày ấy
bây giờ còn hay mất? Cũng đang lủi thủi giữ cháu như tên lính ngụy cùng thời?
Đã qua rồi những nòng súng chĩa vào nhau. Đã mất hút theo thời gian những ngày
khói lửa Trường Sơn, Đại lộ Kinh hoàng và Mùa hè Đỏ lửa. Nhưng vẫn còn đó một
cuộc chiến tàn khốc giữa độc tài và những kẻ bị trị. Tử vong, tự hủy hoại và mất
mát của 42 năm thời bình đã vượt xa nhiều lần so với 21 năm chinh chiến. Đất nước
này vẫn triền miên trong một cuộc chiến không bom đạn.
42 năm trôi qua. Những đứa bé ngày xưa bây giờ đã quá nửa đời
người. Con đường gian nan tưởng đã chấm dứt từ 42 năm trước, từ thời đại của thế
hệ đàn anh, nay vẫn còn tiếp diễn và kéo dài qua thế hệ đàn em.
Ba mươi tháng tư. Một buổi tối năm nào ngồi nhậu trước chung
cư, lũ chúng tôi cùng nhau say với quá khứ. Tính sổ ra mới biết cuộc đời của mỗi
thằng chẳng có gì đáng kể từ cái ngày năm ấy. Bạn tôi say mèm nốc gọn chai bia
và đọc hai câu của một nhà thơ nào đó:
Chuyến tôi đi xe đò đứt thắng
đ. mẹ đời đ. má tương lai.
Ba mươi tháng tư. Một ngày với nhiều tên gọi. Đại thắng mùa
xuân, ngày giải phóng, ngày thống nhất, ngày quốc hận, tháng tư đen... Cuộc chiến
không bom đạn lại được thêm giáo thêm gươm bởi những danh xưng định vị tư tưởng
và lằn ranh ta-địch. Có nghĩa lý gì về tên gọi cho một ngày của quá khứ 40 năm.
Tên của nó chỉ chính xác bằng bóng hình qua tấm gương soi của thực tế hiện tại.
42 năm sau, túm gọn cuộc đời của nhau bằng 2 câu thơ bạn tôi
đọc, nhìn thực tại trần ai của đất nước để đo lường giá trị của mốc điểm lịch sử,
tôi thấy cái tên gọi mà ôn tôi, một cu li không biết đọc không biết viết, đặt
cho nó vào đêm cuối cùng tôi ngồi bên ôn là chính xác: 30 tháng 4 - ngày khốn
nạn.
Vũ Đông Hà