Mới đây, có một bản tin nhỏ của Úc
phát đi, mà có lẽ ít ai lưu tâm, đó là chuyện Bộ Tư lệnh Biên giới Hàng hải của
Úc (Maritime Border Command – MBC) cho biết họ đã tăng cường gắt gao trên toàn
bộ các vùng biển của Úc, liên tục tuần tra suốt 24g/ngày để chống lại nạn xâm
nhập vùng biển (Australian Fishing Zone) của họ và đánh cá lậu. Thủ phạm chính
gây lo ngại, là ngư dân Việt Nam.
Từ giữa năm ngoái đến nay, những
chiếc tàu cá tội nghiệp từ Việt Nam đi thật xa và đến tận Úc để đánh bắt như
vậy ngày càng nhiều hơn.
Cơ quan quản lý Ngư nghiệp Úc (Australian Fisheries
Management Authority – AFMA) nói rằng họ sửng sốt vì số lượng ngư dân Việt xuất
hiện với mật độ dày đặc. Có đến 13 vụ xâm nhập bị phát hiện trong 11 tháng, 161
người bị bắt, còn bao nhiêu thoát được thì chưa biết. Những cuộc bắt giữ và
thẩm tra đều có một kết quả chung: các thủy thủ phần lớn là mù chữ và nghèo
khó. Lý do đi tận đến Úc để đánh cá, theo lời khai của họ vì bởi khu vực quần
đảo Trường Sa vốn là nơi họ vẫn đánh bắt cá những năm qua, nay đã bị Trung Quốc
kiểm soát và không còn an toàn để ra khơi nữa.
Người Úc cũng buộc phải lạnh lùng
như người Trung Quốc. Họ đã làm mọi điều để chặn các ngư thuyền Việt Nam đến
Úc. Hầu hết các ngư dân đều phải chịu án tù, phạt tiền, bị chứng kiến toàn bộ
tài sản của mình là thuyền và ngư cụ bị phá hủy. Bộ Ngoại giao Úc đã bay sang
Việt Nam và nhờ đưa ra những thông báo nghiêm ngặt về việc léo hánh đến vùng
biển của Úc.
Ấy vậy mà, điều đó vẫn không giảm.
Dự kiến con số ngư dân bị tù và bị bắt vẫn sẽ tăng lên trong năm 2017 này. Bởi
một hiện thực đắng cay là ngư dân Việt phải chạy xa khỏi ngư trường của mình,
lênh đênh tìm một lối thoát khác ít hiểm nguy hơn và có thể mưu sinh được.
Biển Việt Nam được học trong sách
giáo khoa là tài nguyên, là sinh lực của quốc gia. Nhưng hôm nay, mọi bài học
đều đã bị phản bội bởi hiện thực trên đất nước xã hội chủ nghĩa kèn trống. Từ
tháng 4/2016 đến nay, sau khi Formosa xả chất độc ra biển, không chỉ hơn 200km
biển chết dần, mà khắp nơi cũng ngập ngụa cá chết, ô nhiễm và sự bất lực chủ ý
và hiển nhiên của nhà cầm quyền.
Đã vậy, không cần đi quá 12 hải lý
thuộc chủ quyền của mình, ngư dân Việt vẫn có thể chết, có thể bị hủy hoại tài
sản hoặc mất tích với những lý do mơ hồ như đang sống trong một đất nước vô chủ.
Ngày 8/4, chiếc tàu QNA 09191 bị một
tàu vỏ sắt lao tới, cố ý đâm chìm. Điều đáng kinh ngạc là nơi tài Việt Nam bị
đâm chìm, chỉ cách bờ 1 cây số, rất gần khu vực cảng Tiên Sa, Đà Nẳng. Ngư dân
sống sót phải bơi trong đêm vào bờ.
Trước đó, vào tháng 3, tàu QNg 96677
TS ở Lý Sơn lại bị một tàu vỏ gỗ nổ súng tấn công bất ngờ trong đêm, một ngư
dân trúng đạn tử thương. Tàu “lạ” bắn xối xả nhưng không rượt đuổi, không áp
sát tấn công. Mục đích là khủng bố. Nhưng khi về đến đất liền, thuyền trưởng
Nguyễn Văn Mười cùng 12 ngư dân khác được mớm cung là “cướp biển” để điền nhanh
vào biên bản.
Bất ngờ hơn nữa, vào ngày 12/4, tàu
cá PY 95003 TS đang neo đậu ở vùng biển Phú Yên, Việt Nam, đột nhiên bị
một tàu “lạ” ập đến bắt cả tàu và toàn bộ thủy thủ mang đi mất tích trong sự tê
liệt của lực lượng biên phòng. Không chỉ ở khu vực miền Trung, tháng 1 năm nay,
cũng đã có tàu “lạ” xông vào tận vùng biển Vũng Tàu và cố ý đâm chìm hoàn toàn
tàu cá Việt Nam mang số hiệu BV 7804 TS.
Biển chết, ngư dân chết. Vậy người
Việt Nam còn lại gì? Ắt hẳn chỉ còn lực lượng hải quân anh hùng và các chính
sách ngoại giao hãnh tiến với những lời hữu nghị.
Biển ôm trong lòng nó vô vàn điều bí
ẩn. Anh Phê-rô Lành, một ngư dân ở Nghệ An ra biển, kể rằng anh nhìn thấy tàu
Trung Quốc bủa vây khắp nơi và tập bắn mỗi ngày trên biển. Hầu hết tàu cá Việt
Nam đều hoảng hốt và né tránh, dạt đi nhiều nơi khác để toàn mạng sinh sống.
Và trong mọi câu chuyện kể, người ta
vẫn hỏi vậy tàu kiểm ngư, hải cảnh, hải giám… của Việt Nam ở đâu?
Tháng 3/2017, trong một ghi nhận của
giáo sư Ryan Martinson tại Trường Hải Chiến Mỹ (US Naval War College), ông nhận
thấy có một sự bất thường về việc phát hiện qua vệ tinh, rất nhiều tàu đánh cá
của Việt Nam xuất hiện ở bãi Scarborough – một ngư trường tự do của nhiều nước
như Philippines, Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan… dựa theo phán quyết của tòa La
Haye hồi tháng 7/2016 (đoạn 807). Dĩ nhiên, ngư dân Việt không tự mình liều
lĩnh đi đến vùng đánh bắt hết sức xa xôi này, và lại đầy hiểm nguy giữa sự
tranh chấp của Philippines và Trung Quốc. Từ bất thường đó, nhà phân tích Euan
Graham (Viện nghiên cứu Lowy – Úc) phát hiện ra rằng Hà Nội đã có một chiến
thuật mới là chiêu dụ và đưa ngư dân đến vùng biển này để duy trì giá trị phủ
nhận đường 9 đoạn của Trung Quốc của tòa án Hà Lan, La Haye, như một phương
thức sống còn để bám lại, trong lúc đang mất dần biển.
Cũng lại là ngư dân. Mưu sinh tự
thân hay mưu sinh phất cờ cho chính phủ thì rủi ro và bạc phận vẫn thuộc về
nhân dân, trên bàn cờ chính trị nào đó. Nhiều năm trước, truyền hình và báo chí
Nhà nước từng tung hô ngư dân Mai Phụng Lưu với biệt hiệu “sói biển”, bởi ông
liều mình ra Hoàng Sa đánh bắt, với 4 lần bị Trung Quốc phá tàu, bắt giam và
đánh đập. Ngay cả con sói biển ấy giờ cũng mệt mỏi. Cũng như hàng ngàn người Việt
đang vật vã mưu sinh trên biển lúc này, giờ thì chắc anh Lưu cũng đã nhận ra
rằng tổ quốc – lòng yêu nước thật sự thì ở trong tim mình, chứ không phải là
trong những lá cờ mới may được tặng để đi biển hay những lời vinh danh của
những kẻ đeo cà vạt luôn bám bờ.
Trong một bài phân tích về việc
Trung Quốc đang thôn tính biển Đông, ông Gregory Poling, giám đốc của Sáng kiến
Minh bạch Hàng hải Á Châu (Asia Maritime Transparency Initiative) có viết một
bài phân tích rằng “Liệu chúng ta có mất biển Đông chưa?” (Have we already lost
the South China Sea?), ông nói rằng việc nói thẳng và tố cáo những âm mưu của
Trung Quốc lúc này hết sức quan trọng để làm chậm lại những hành động điên
cuồng sắp tới, và quan trọng là để cho cả thế giới cùng nhìn thấy.
Hãy quay trở lại với Việt Nam. Hãy
đặt câu hỏi đó, rõ hơn “Chúng ta đã mất biển – hay mất nước chưa?”. Nếu những
điều đen tối vẫn đang ở thì tương lai, thì điều quan trọng là lúc này, người
Việt cũng cần thấy nhà cầm quyền của mình cũng cần tập biết nói thẳng và tố cáo
những âm mưu của Trung Quốc trên biển và đảo và đối với sinh mạng ngư dân Việt
Nam.
Không có một chính quyền nào đủ sức
biện bạch rằng vì việc lớn nên phải chấp nhận hy sinh biển, đảo, đất nước hay
tính mạng công dân của mình. Như mọi triều đại cam tâm hiến tế con người hay
sản vật để bảo vệ cho quyền lợi riêng, sự sụp đổ sẽ đến là điều hiển nhiên cho
mọi hình thái tà quyền như vậy.
Lúc này, biển Việt Nam đang ôm giữ
biết bao nhiêu bí mật về vận mệnh của đất nước và con người. Những bí mật của
thời đại rồi cũng có lúc phải mở ra, cho thấy một chính quyền có cơ may tồn tại
vững mạnh hơn cùng với nhân dân, hoặc cũng có thể là lý do khiến nhân dân mình
đứng lên và từ chối mãi mãi.
Tuấn Khanh
