
Đi làm về ông Kim được vợ cho hay và
dặn:
– Con Ly vừa gọi điện thoại, nó nói
có thư gởi cho anh về địa cũ, nó đang giữ, nhớ lại lấy.
Địa chỉ cũ là cái nhà vợ chồng ông
Kim đã bán lại cho cặp vợ chồng người Do Thái cách đây hai năm. Ly là em gái
của vợ ông Kim, ở cạnh nhà cũ của ông. Trong mấy tháng đầu, sau khi bán nhà,
chủ mới thỉnh thoảng vẫn đưa cho Ly những thư từ của vợ chồng ông Kim nhờ trao
lại. Tròn cả năm nay không còn thư từ nào gởi về địa chỉ cũ nữa. ông Kim ngạc nhiên
sao hôm nay lại có thư? Nhưng sau khi nghe vợ nói thêm là Ly cho biết thư gởi
từ Việt Nam thì ông Kim không còn thắc mắc sao thư lại gởi về địa chỉ cũ mà
thắc mắc ai ở Việt Nam gởi cho ông lá thư đó vì từ lâu ông không còn họ hàng
thân thích nào ở Việt Nam để liên lạc.
Kính thưa ông Chủ Tịch
Tôi xin tự giới thiệu tôi là Nguyễn
Văn Quý, trước 75, là binh nhất biệt động quân, bị thương ở mặt trận Long
Khánh. Trưa ngày 30 tháng 4 cộng quân chiếm Sàigòn, tất cả thương bệnh binh bị
đuổi ra khỏi Tổng Y Viện Cộng Hòa. Tôi chạy về nhà cha mẹ với vết thương ở mặt
chưa lành. Lúc bị thương tôi mới 21 tuổi. Tuy còn trẻ nhưng vì là một người tàn
phế thuộc chế độ cũ, tôi cũng như bao nhiêu anh em thương phế binh khác, bị hất
ra bên lề xã hội. Cuộc sống do đó thật vất vả. Riêng tôi, vết thương đã tàn phá
mặt tôi (xin ông xem hình đính kèm) khiến tôi ban ngày không dám ra đường, sợ
gặp mặt mọi người, để khỏi mang mặc cảm tạo giật mình cho kẻ khác với bộ mặt
biến dạng xấu xí của mình.
Còn trẻ nhưng một thời gian khá lâu
tôi phải sống nương tựa vào gia đình vì chưa biết làm gi để tự kiếm sống. Cuối
cùng thì cha mẹ và hai chị của tôi cũng giúp cho tôi học được một cái nghề tại
gia: nghề thợ may. Chồng của một trong hai bà chị tôi, trước 75, là chủ một
tiệm may. Sau khi Sàigòn đổi chủ, ông anh rể tôi vẫn tiếp tục nghề may nhưng
phải đổi kiểu may quần áo cho hợp với thời thế để sống. Thay vì còm lê, vét
tông, bây giờ ông đổi sang may quần áo kiểu bình dân như bà ba đen, trắng, áo
bốn túi màu vàng hay màu cứt ngựa. Ông còn treo bảng nhận cắt sửa quần áo, cắt
xén những chiếc áo dài của phụ nữ trước đây thành những chiếc áo ngắn cụt tay.
Chị tôi mang quần áo về nhà, tập cho tôi đơm nút áo rồi tập may, khởi sự bằng
cách tập viền những lai quần, lai áo.
Phấn đấu để sống còn đã cho tôi một
cái nghề và thưa ông, nhờ tôi có được chút khéo tay, nên không bao lâu tôi
thuần thục nghề may để có thể may rành rỏi mấy thứ quần áo “thời thượng” của xã
hội chủ nghĩa trong thời gian đầu. Nhưng tôi chỉ là một tay nghề ở hậu trường,
không bao giờ dám chường mặt ra để gặp mặt khách hàng. Bước sang thời kỳ ” đổi
mới”, tiếp theo đó là thời kỳ “đại gia”, nghề may của ông anh rể tôi khởi sắc
trở lại nhưng khả năng của tôi sau bao nhiêu năm quen thuộc với các kiểu áo “vô
sản” không theo kịp để đủ tay nghề thực hiện y phục của thời “áo vét quần bò”
nữa.
Đã ba mươi năm trôi qua, sau cái
ngày bị đuổi khỏi Tổng Y Viện Cộng Hòa với vết thượng quái ác ở mặt chưa lành,
tôi vẫn còn phải sống độc thân. Với bộ mặt dị dạng, sứt mũ, sứt môi, tôi có bao
giờ dám tơ tưởng đến chuyện lập gia đình. Cũng hơn mười năm sau 75, ban ngày
tôi mới dám ló mặt ra đường, nhờ sự biến thể của Sàigòn. Sàigòn, hòn ngọc của
Viển đông xưa, nay trở thành kinh đô của bụi bặm. Ra đường phải mang khẩu
trang. Với ai khác, ra đường phải mang khẩu trang là một phiền toái, với tôi là
một cứu cánh. Nhờ mang khẩu trang, ra đường tôi không bị ai để ý.
Thưa ông Chủ Tịch,
Kể lể hơi dài dòng về cuộc đời và
nỗi bất hạnh của tôi, chỉ cốt phần nào giải thích cơ duyên nào tôi được dịp mạo
muội gởi lá thư này đến ông. Bị đẩy vào cuộc sống ẩn dật, tôi tìm thú vui trong
việc tập tễnh làm thơ. Buồn thì nhiều, vui hầu như không có, mơ ước chỉ như
thoáng mây trôi, tôi trút tâm tư của mình và tìm được an ủi trong những vần thơ
vụng dại, non nớt của mình. Một hôm tôi bạo dạn đưa cho bà chị thứ hai của tôi,
trước là giáo viên, đọc bài thơ ưng ý nhất của mình. Chị tôi đọc xong bài thơ,
nhìn tôi với đôi mắt ngỡ ngàng: “Chị không ngờ em lại có tâm hồn thi sĩ!”. Rồi
chị ghé tai tôi nói nhỏ:
– Bài thơ này em cho phổ biến trong
nước thì công an nó hỏi thăm em ngay. Chị coi trên mạng biết được ở hải ngoại
có Hội Văn Nghệ Sĩ Quốc Gia. để chị kiếm cho em địa chỉ , em gởi bài thơ ra cho
họ, biết đâu họ sẽ đăng thơ em.
Thưa ông Chủ Tịch,
Tôi không dám mong bài thơ tôi gởi
kèm theo đây đạt được trình độ để quí vị cho đăng trên diễn đàn của quí vị, chỉ
mong ông hiểu cho niềm hân hoan của tôi khi nghe lại được hai tiếng “quốc gia”,
sau bao nhiêu năm tắt tiếng ở trong nước, vẫn âm vang nơi hải ngoại. Tôi chỉ
mong được bày tỏ tinh thần và niềm tin quốc gia của một thương phế binh VNCH
đang sống lầm lủi dưới chế độ Cộng Sản
Kính thư
Nguyễn Văn Quý
T.B. Địa chỉ ngoài phong bì là địa
chỉ nhà một người quen cùng cảnh ngộ như tôi.
Kèm theo lá thư là hai tấm ảnh và
một bài thơ. Tấm ảnh nhỏ loại căn cước là hình một người lính biệt động quân
mặc quần áo hoa, đội mũ nâu; tấm ảnh lớn hơn chụp một người đàn ông trạc ngoài
năm mươi tuổi, mặc chiếc áo thun đen, với khuôn mặt bị tàn phá nặng nề: chiếc
mũi bị bay mất phần dưới để lộ một lỗ hổng và môi trên bị mất phần giữa nhìn
thấy cả răng. Nhìn tấm ảnh ông Kim thầm nghĩ giá mà ông ta ở được bên Bắc Mỹ
này thì khoa giải phẫu tái tạo hàm mặt chắc chắn đã giúp ông ta có một khuôn
mặt dễ nhìn hơn. Ông Kim đọc bài thơ có tựa đề: Phận nước đời trai. ông xúc
động trước cái tứ bi phẫn của bài thơ trong đó nổi bật mấy câu:
Than ôi! Nát một đời trai!
Tủi cho phận nước an bài từ đây
Từ đây mộng ước hao gầy
ôm riêng mối hận biết ngày nào nguôi …
Đọc cái tái bút, ông Kim hơi thắc
mắc sao ông thương phế binh Quý này không lấy địa chỉ nơi ông ở mà lấy địa chỉ
của một người đồng cảnh ngộ? ăn cơm tối xong ông Kim gọi điện thoại cho bốn
thành viên trong Ban Chấp Hành bàn thảo về lá thư bất ngờ của người thương phế
binh biệt động quân. Cuối cùng Ban Chấp hành đồng ý trích quỹ 100 mỹ kim gởi
tặng ông Quý, coi như một món quà Xuân, đồng thời chuyển lá thư cùng hình ảnh
của ông Quý đến Hội Cựu Quân Nhân để được cứu xét giúp đỡ hàng năm.
Chừng một tháng sau khi gởi tiền về
theo địa chỉ ông Quý cho, ông Kim nhận được hồi âm. Trong thư ông Quý viết rất
mừng rỡ nhận được quà, cám ơn Trời Phật rồi chúc lành ông Kim cùng toàn thể hội
viên. Ông Quý cho biết thôi làm nghề thợ may vì trong nước bây giờ tràn ngập đồ
trung quốc và đồ “ngoại”. Bây giờ ngày ngày ông ra ngồi phụ một người bạn cùng
cảnh ngộ làm nghề vá và bơm xe đạp. Phía Hội Cựu Quân Nhân cũng cho biết sẽ gởi
tiền hàng năm vào dịp Tết giúp ông Quý. Nhưng ông Kim vẫn chạnh lòng trắc ẩn
khi hình dung bộ mặt bị chiến tranh tàn phá của ông Quý, ở vào tuổi thanh xuân
nhất của cuộc đời. Một hy sinh chưa được đền bù, mà trái lại, bị vùi dập, lãng
quên bởi số phận không may phải nằm phía bên kẻ thua cuộc. Ông quyết định hằng
năm không trích quỹ của hội nữa mà cá nhân ông sẽ tiếp tục giúp đỡ ông Quý.
Cứ thế đều đặn trong bảy năm, mỗi
đầu xuân, một món quà hiện kim gởi đi, một lá thư hồi âm cảm tạ tri ân. Ở hải
ngoại ông Kim cũng đã ngoài bảy mươi và ông Quý ở trong nước cũng phải gần sáu
mươi. Cách nhau gần cả chục tuổi, nhưng ông Kim nghĩ nếu bây giờ đem so hình
hai người, chưa chắc ai đã cằn cỗi hơn ai. Đất nước đã thống nhất, yên bình mấy
mươi năm rồi sao lầm than, nghèo đói vẫn không thụt lùi, sao còn có người chết
phải bó chiếu chở trên xe gắn máy chạy giữa đường!
Bỗng một hôm, vào giữa tháng năm,
ông Kim nhận một lá thư gởi từ Sàigòn. Dù địa chỉ không thay đổi, nhưng nét chữ
ngoài phong bì không phải nét chữ của ông Quý và tên người gởi là một tên lạ:
Trần Thanh Phong.
Kính thưa bác,
Cháu xin tự giới thiệu cháu là Trần
Thanh Phong, 25 tuổi. Cha cháu là Trần Quốc Hiệp, bạn của bác Nguyễn Văn Quý,
người thường hay liên lạc và nhận quà hàng năm của bác từ hải ngoại gởi về. Lý
do cháu gởi bác lá thư này là để giải bày một uẩn khúc kéo dài từ hai năm nay
khiến cháu rất khổ tâm. Hôm nay cháu xin trình bày hết sự việc cho lòng được
giải tỏa và để mong được bác cảm thông. Cha cháu từng là một phục viên trong
quân đội nhân dân miền Bắc. Cha cháu bị thương hôm lực lượng tấn công chiếm kho
xăng nhà Bè năm 75. Cha cháu dẫm phải mìn, bị cưa chân phải, quá đầu gối. Sau
khi Bắc Nam thống nhất, cha cháu được giải ngũ. Mẹ cháu ở Bắc vào và hai người
quyết định ở lại miền Nam sinh sống vì thấy trong Nam đời sống kinh tế cao hơn.
Cháu là đứa con thứ ba trong một gia đình bốn anh chị em, hai trai hai gái.
Cháu hiện là nhân viên của một hãng ngư nghiệp chuyên về hải sản đông lạnh để
xuất cảng. Tiền trợ cấp thương phế binh của cha cháu không đủ nuôi gia đình nên
cha cháu phải làm thêm nghề bơm vá xe đạp và xe gắn máy. Cháu không rõ cha cháu
và bác Quý quen nhau lúc nào, vào dịp nào; cháu chỉ nghe nói bác Quý là thương
phế binh của phía bên kia. Có một lần cháu nghe cha cháu khen:
– Thằng Quý dân Ngụy mà tốt bụng. Nó
sửa quần áo cho tao mà không lấy tiền.
Rồi một lần khác cháu nghe cha cháu
chưởi thề:
– Mẹ kiếp! “Ngụy” như thằng Quý hay
“giải phóng” như tao cũng chỉ là những con chốt thí! Nó nát mặt, tao cụt giò,
giờ đây tao với nó được gì? Thống nhất, độc lập từ lâu mà đất nước có khá lên
đâu, tụt hậu thêm nữa là đằng khác!
Bây giờ cháu đã khá lớn. Sau khi
nghe câu chưởi thề của cha cháu, cháu bắt đầu suy nghĩ. Chuyện bác Quý lấy địa
chỉ của nhà cháu để nhận tiền từ hải ngoại gởi về là để tránh sự dòm ngó của
công an phường. Dù gì gia đình cháu cũng thuộc diện có công với cách mạng, với
nhân dân. Theo cháu biết, mỗi lần nhận tiền từ hải ngoại gởi về, bác Quý cũng
chia một phần tiền cho cha cháu. Khoảng tiền mà có lúc vui miệng bác Quý nói là
“chi phí bảo vệ”.
Kính thưa bác,
Hôm nay cháu xin tiết lộ với bác một
điều: bác Quý từ trần đã hai năm nay. Bác Quý ngã chết bất thình lình lúc đang
phụ cha cháu khiêng một thùng đồ nghề. Bác sĩ ở nhà thương nói bác bị đứt gân
máu não. Bác Quý mất rồi, mỗi khi có tiền ở hải ngoại gởi về, cha cháu vẫn an
nhiên lãnh thế, vì người giao tiền biết mặt cả bác Quý lẫn cha cháu. Bác Quý
còn dặn người giao tiền, khi bác vắng mặt, thì cứ giao tiền cho cha cháu. Cháu
rất bức xúc vì việc làm không phải của cha cháu nhưng không dám ngỏ lời ngăn
cản khi thấy cha mẹ cháu cũng túng thiếu. Nhờ quà của bác gởi cho, ngày xuân
gia đình cháu có thêm chút không khí Tết.
Nhưng hôm nay cháu viết thư này để
xin bác từ nay đừng gởi quà Xuân cho bác Quý nữa. Bởi lẽ cha cháu từ trần được
cả tháng nay. Cha cháu mất vì bệnh viêm gan cấp tính. Cha cháu đi rồi cháu
không còn lý do gì để tiếp tục nhận quà của bác, một món quà đã làm ray rứt
lương tâm cháu. Càng ngày cháu càng thấy con người của xã hội này trở nên vô
cảm, kể cả người thân của mình. Chua xót là ở chỗ đó. Rồi thế hệ của cháu, nếu
mọi người cũng sẽ trở nên như thế hệ của cha cháu, thì tương lai đất nước này
sẽ đi về đâu ? Con người ngày càng mất lương tri, xã hội ngày càng lụn bại đạo
đức, trong khi đó lãnh hải ngày càng thu hẹp, chủ quyền đất nước đang dần rơi
vào tay ngoại bang.
Kính thưa bác,
Ở trong nước hiện nay, những người
vào lứa tuổi của cháu, đang trăn trở về đất nước, về giá trị con người, không
nhiều nhưng không phải là không có. Một hạt cát thì rất nhỏ, nhưng nếu nhiều
hạt cát tụ lại sẽ trở thành một nhúm cát và nếu nhiều nhúm cát có cơ hội dồn
lại, nhờ gió, nước bồi đắp thêm, sẽ có cơ may trở nên một bãi biển trắng đẹp.
Cháu ao ước được làm một hạt cát cứng cáp và trắng tinh cho một bờ biển tương
lai của dân tộc.
Kính thư
Trần Thanh Phong
Ông Kim ngồi lặng im nhìn những dòng
chữ rắn rỏi đậm nét trên mặt giấy. Một niềm vui lẫn một nỗi đau dấy lên trong
lòng ông. Vui vì giới trẻ trong nước không phải tất cả đều là những thành phần
thủ phận, buông xuôi, vô cảm hay bị đầu độc bởi giáo điều. Đau vì ở hải ngoại
còn có kẻ vứt bỏ căn cước tị nạn của mình, trở về ăn chơi thụ hưởng mà không
cần biết đến nỗi lầm than của đại đa số thành phần dân tộc. Tệ hại hơn nữa, dăm
ba kẻ, trước đây vỗ ngực xưng mình là quốc gia, chống cộng, trở về Việt Nam,
gặp lại vài thân thuộc xa xưa thuộc bên kia, nay là thành phần cốt cán của chế
độ, được họ ve vuốt chiêu dụ, trở ra hải ngoại cầm loa, dóng trống ca tụng chế
độ! Ông Kim dìm nỗi đau, nghĩ đến niềm vui cho lòng phấn khởi. ông lấy giấy bút
ra viết trả lời người thanh niên tên Phong:
Cháu Phong,
Bác tin cháu và các bạn cháu sẽ là
những hạt cát tinh khôi của bờ cõi đất nước. Các cháu sẽ không đơn độc. Các bạn
của các cháu ở hải ngoại, đủ mọi lứa tuổi, sẽ là gió, là nước bồi đắp cho các
cháu. Bác hứa sẽ không gởi quà Xuân cho gia đình cháu nữa. Nhưng cháu và các bạn
cháu sẽ nhận đều đặn niềm tin và phương tiện cần thiết để vun xới niềm tin đó
lên thành một cơn bão quét sạch mọi cặn bã, ô nhiễm đang tàn phá đất nước.
Trang Châu
Montréal 14-10-2016
Montréal 14-10-2016