Năm 1977, nhà nước đẩy 5 thằng sinh
viên vừa tốt nghiệp 2 năm chính trị lên Buôn mê thuột làm việc tại các ngân
hàng thị xã và huyện. Sở dĩ gọi là “đẩy” vì chẳng ai muốn lên cao nguyên bắt
đầu sự nghiệp mới trong xã hội mới cả. Lý lịch của tôi không được “trong sạch”
vì có cha là công chức thuộc chính quyền cũ, lại “bôi bẩn” lý lịch thêm vì đạo
công giáo và dân di cư 1954 nên bị đày lên vùng cao nguyên là điều dễ hiểu.
Suốt 2 năm làm việc tại ngân hàng huyện Buôn Hồ (Krông Buk), tôi nghiệm ra nhiều
sự thật về xã hội cộng sản, rồi băn khoăn mãi về vận mệnh của đất nước, của
chính mình, rồi thở dài ươm mơ và tìm mọi cách đạt cho bằng được ước mơ đó để
sống cho đúng nghĩa con người.
Khoảng thời gian này, cả nước đói.
Sau vài lần đổi tiền, sau những chuyến bay, loại vận tải cơ khổng lồ C130, bụng
dồn cứng hàng xa xỉ phẩm, sau những chuyến xe đò chất đầy hàng hóa cao nghễu
nghện trên nóc, và sau những lần chuyển hàng bằng bất cứ phương tiện di chuyển
nào… tất cả đều trực chỉ miền Bắc vốn đói khổ đã lâu năm, dân chúng miền Nam
thật sự đói meo. Cơn đói tàn khốc hiện diện trong bữa cơm của mọi gia đình. Đói
vì hầu hết lương thực bị vơ vét để trả nợ, sau nữa là tích trữ lúa gạo để chuẩn
bị đánh Kămpuchia. Buôn Hồ, một huyện khá hẻo lánh, lại trông càng nghèo nàn và
khốn khổ hơn bất cứ địa danh nào trên vùng cao nguyên. Buôn Hồ buồn hiu hắt.
Đúng ra phải gọi là Buôn Huyền… Buồn. Phố huyện dài chừng 100 mét, lác đác dăm
cửa hàng nhà nước, lưa thưa người mua, vì tiền phải để dành cho bao tử. Riêng
chợ huyện luôn luôn sầm uất, nhiều kẻ bán hơn người mua. Vơ vét hết của nhà đem
bán để lấy miếng ăn. Tôi ăn 2 cái Tết ở huyện, vì lẽ tự nhiên là tiền lương để
dành không đủ để về quê ăn Tết. Bình thường Buôn Hồ đã buồn, Tết nhất lại càng
buồn tẻ hơn.
Tôi làm việc, cố “nín thở qua sông”,
và âm thầm thực hiện kế hoạch bỏ nhiệm sở về lại đồng bằng để tìm cách vượt
thoát bằng đường biển. Suốt 2 năm đó, tôi chẳng thiết tha gì, bóng tối bao phủ
con đường trước mặt, tôi mò mẫm bước, dọ dẫm từng bước chân. Bây giờ nghĩ đến 2
năm ở Buôn Hồ, tôi chẳng có gì luyến tiếc về đoạn đường đầu tiên khi vừa trưởng
thành, nhưng phải cám ơn quãng đường ngắn ngủi đó vì tôi đã học được quá nhiều
bài học về cuộc sống, về thân phận con người, và hiểu được sự cuồng vọng của
một chủ nghĩa (mãi sau này sống ở nước ngoài tôi hiểu chính chủ nghĩa cuồng
vọng này đã đưa dân tộc tôi đến bờ tuyệt vọng). Đôi lúc tôi muốn quên đoạn
đường 2 năm này. Quên hẳn. Dĩ vãng chẳng còn gì ngoài tình thân với vài người
bạn đồng cảnh ngộ, và con đường choèn choẹt lớp bùn đỏ lấm bê bết dưới chân như
cuộc đời lầy lụa của tôi. Nếu nhớ, tôi xin nhớ đến một chút tình cảm còn sót
lại với cô bé miền sơn cước, và hình ảnh cô bé độ trăng tròn năm đó vẫn mãi lẩn
quẩn trong trí nhớ của tôi vốn đã hao mòn nhiều theo tuổi đời chồng chất.
Tôi nhớ mãi H’Lem. Người sơn nữ
Rađê.
Cô gái lớn lên giữa núi rừng miền
cao, hấp thụ nền văn hóa kinh, và có vẻ quyến luyến nếp sống tỉnh thành. Tuy
vậy, H’Lem không hề quên cội nguồn, nàng vẫn mặc váy, áo cánh cũn cỡn như mọi
cô gái thượng khác, vẫn nói sõi tiếng Rađê, và bập bẹ tiếng Việt. Bộ váy tuyền
thống của người dân tộc lúc nào cũng khoác trên tấm thân mảnh mai, ẻo lả như
liễu duyên dáng bên bờ hồ. Đừng nghĩ người nàng nhỏ nhắn mà không biết việc
nặng nhọc đồng áng. Có lần tôi gặp H’Lem trên đường làng, gùi nặng trĩu những
khúc củi trên lưng, xếp cao vượt quá đầu nàng. Tôi bước ngược đường, nàng cắm
cúi bước không để ý một ai chung quanh, người hơi chồm về phía trước để giữ
thăng bằng, bước chân vững chãi bám chặt mặt đường. Đến gần, tôi gọi nhỏ tên
nàng. Chân vẫn bước, H’Lem ngẩng đầu nhìn thấy tôi, và nở nụ cười để lộ hàm
răng xếp đều như hạt bắp non. Đường xa từ cánh đồng bên kia đồi bước về, gùi
nặng trên đôi vai gầy như cánh chim, tôi nghe hơi thở mệt nhọc của nàng. Tôi
nhìn sững khuôn mặt H’Lem, đôi mắt đen lay láy thơ dại của người thiếu nữ vừa
qua tuổi mười sáu. Ráng chiều phủ lớp ánh sáng thoi thóp cuối ngày lên khuôn
mặt ướt đẫm mồ hôi trông rực rỡ như được thoa một lớp phấn hồng. Những giọt mồ
hôi trên khuôn mặt nàng lung linh như hồng ngọc, trong đó tôi thấy cả một bầu
trời cao nguyên lãng đãng sương mù, chập chờn vây bủa núi rừng linh thiêng
huyền bí và đầy ướt át lãng mạn. Chân đi chậm lại khi thấy tôi, H’Lem gật đầu
cười nhẹ, rồi cúi mặt lầm lũi bước. Chúng tôi không dám đứng lại giữa đường trò
chuyện, vì phong tục Rađê không cho phép một người con gái đứng giữa đường nói
chuyện với người khác phái. Ngày hôm sau, tôi hỏi nàng tại sao phải gùi nhiều
củi nặng nề thế, nàng bảo con gái khi đi rẫy thì gùi không nhưng lúc về để gùi
trống thì cha mẹ mắng, họ hàng chê không tiếc lời. H’Lem bảo đó là con gái xấu.
Tôi hiểu ý nàng muốn nói là con gái hư. Nếu hư thì khó cưới được chồng, nàng
bảo thế. Số vốn tiếng Việt của nàng ít ỏi, đủ để nói chuyện bâng quơ, còn tôi
hiểu lõm bõm tiếng Rađê, nói bập bẹ tiếng dân tộc nên thật khó khăn cho tôi khi
nàng muốn diễn tả một vấn đề phức tạp nào đó liên quan đến phong tục tập quán.
Cần nói thêm địa bàn hoạt động của
tôi khi được bổ về huyện Buôn Hồ. Tay thủ trưởng gốc Nghệ an, lùn loắt choắt,
mắt sâu, mũi quặp, lưỡng quyền cao, giọng ồ ồ vì nghiện thuốc lào kinh niên họp
tất cả 5 sinh viên chúng tôi lại và ra lệnh về các làng mạc xa xôi để đòi nợ.
Những nợ cũ của dân chúng mượn từ Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp của chế độ
cũ đều phải trả cho nhà nước. Tiền dân gửi vào ngân hàng thì tên thủ trưởng
bảo, “thằng Thiệu đem đi hết rồi.” Hắn dằn mạnh chữ “thằng” trong câu nói. Đó
là cái sốc đầu tiên của tôi khi vừa nhận nhiệm sở. Riêng tôi được điều về làng
mạc của người dân tộc, ở đó có ông chủ tịch xã nói tiếng Kinh khá sõi. Xã (tôi
quên mất tên) nằm sâu cách quốc lộ 14 chừng vài cây số. Phương tiện di chuyển
duy nhất là đôi chân, may mắn mới có xe bò đi nhờ. Nằm dọc theo quốc lộ là 3 xã
toàn dân công giáo; Hà Lan A, B, và C. Thuở mới di cư vào Nam, dân Nghệ Tĩnh
Bình được tổng thống Diệm cấp phát ruộng đất kéo nhau lên đây canh tác. Thời
đấy gọi là dinh điền. Dân số ban đầu tụ tập tại Hà Lan A, sau đông dần nên lập
thêm Hà Lan B, và cuối cùng là Hà Lan C.
Công việc của tôi rất đơn giản, mỗi
ngày đi đến từng gia đình còn vướng nợ với ngân hàng cũ đòi cho bằng được.
Không trả ít thì trả dần. Không có tiền thì bán gia súc để trả nợ. Chỉ thị rõ
ràng từ tay thủ trưởng ngân hàng. Chuyện đòi nợ đối với tôi chẳng đặng đừng vì
thấy gia đình nào cũng nghèo. Gia tài họ có vài sào ruộng, trồng lúa và ngũ
cốc. Dưới nhà sàn thả rông dăm con gà chạy lăng xăng kiếm mồi; nếu nhà khá giả
thì có thêm vài con heo mọi chạy sục sọi kiếm cùi bắp hoặc bất cứ cái gì có thể
nuốt để nhét cho đầy bụng. Họ chăm lo canh tác trên mảnh đất riêng, dứt khoát
không vào hợp tác xã. Thời chiến tranh, họ vỡ đất, cày bừa loanh quanh xã chừng
độ 4-5 cây số. Đi xa hơn rất nguy hiểm vì sẽ gặp quân FULRO (Front Unifié pour
la Libération des Races Opprimées, Mặt Trận Thống nhất Giải phóng các Dân tộc
bị Áp bức), một lực lượng đòi tự trị vùng Tây nguyên do thực dân Pháp để lại,
và nhất là gặp bọn việt cộng chính quy miền Bắc. Khi hết chiến tranh, đất rừng
bạt ngàn nên dân làng cứ tha hồ vỡ đất mới để canh tác, cương quyết không chịu
làm ăn chung theo chính sách của nhà nước. Nói mãi không nghe, nhà nước răn đe
bằng cách tịch thu đất cũ của họ. Lấy đất cũ thì họ lại đi xa hơn, vỡ đất mới.
Cứ thế họ cuốc bộ hơn chục cây số đường rừng để canh tác. Mùa gặt tới, họ đem
lúa cất trữ trong nhà, ngũ cốc đem bán ở chợ Hà Lan đổi lấy cá mắm. Phần đông
dân làng làm vừa đủ ăn, thì lấy đâu dư tiền để trả nợ mà họ vay mượn trước đây.
Biết thế, nhưng tôi phải thu cho
được vài trăm tiền nợ để mỗi tháng đem về nộp cho ngân hàng. Đó là chỉ tiêu của
tay thủ trưởng đặt ra cho mỗi đầu người. Thường tôi cầm danh sách nợ đến gặp
ông chủ tịch xã, và đi với ông đến nhà nào trông có vẻ dư dả và nhờ ông giải
thích với họ. Tôi chìa danh sách nợ, cho họ xem số tiền nợ cả nghìn, xin họ trả
nợ chừng vài ba chục, và thường họ đồng ý ngay. Mỗi tháng tôi đi chừng chục
nhà, thế là đủ số tiền nộp. Bản tính người dân tộc không thích dây dưa với
chính quyền, kể cả trước và sau 75, nếu không nói là sợ. Họ chỉ muốn yên thân
làm bạn với nương rẫy, sống cuộc đời giản dị, ngày canh tác, tối rượu cần theo ngày
tháng trôi. Họ nhìn nhân viên nhà nước với ánh mắt e dè, ngại ngùng tiếp xúc.
Thấy nét mặt nhăn nhúm của họ khi ông chủ tịch giải thích số tiền nợ là tôi
hiểu ngay. Họ không thích tôi, họ tránh thấy tôi, chỉ vì tôi mang tai họa đến
cho cả gia đình. Thật khổ cho nghề đòi nợ thất đức của tôi. Bởi thế, theo ông
chủ tịch xã đi đòi nợ là một cực hình mà tôi cắn răng phải làm đôi lần trong
tuần.
Và tôi gặp H’Lem lần đầu khi theo
ông chủ tịch xã đến nhà một người dân tộc khá giả trong làng.
Ông chủ nhà người tầm thước, độ 50.
Ông ăn mặc theo lối người Kinh, áo sơ mi quần tây trông lịch sự. Theo giấy nợ
tôi cầm trên tay, ông nợ ngân hàng cũ khoảng hơn 300 đồng. Tôi tính rợ nếu mỗi
tháng ông trả nợ chừng 30, thì gần năm tôi sẽ thu hết số nợ này. Gia đình ông trông
dư dả, căn cứ vào bầy heo mọi hơn chục con chạy rông kiếm ăn dưới nhà sàn; chưa
kể đàn gà kêu quang quác đang rượt đuổi nhau giành mồi, góc vườn quây một hàng
rào tre thấp thoáng mấy con dê đang lặng lẽ nhai cỏ. Nhà sàn cao hơn mặt đất
chừng hơn mét, chủ nhà phải bước xuống mấy bậc thang gỗ để gặp ông chủ tịch
đang gọi tên ông ơi ới. Tiếng dân tộc tôi đang học, nghe lõm bõm và bập bẹ nói
được vài câu ngắn nên không hiểu hai ông nói với nhau những gì. Chắc chắn ông
chủ tịch đang giải thích lý do tôi có mặt buổi sáng sớm hôm nay. Chủ nhà gật
gù, rồi đưa hai tay phần trần. Trong cả trăm tiếng dân tộc nghe lạ tai, tôi
chợt bắt được một chữ tiếng Pháp quen thuộc (d’accord) mà ông chủ nhà cứ gật gù
chêm vào sau mỗi câu nói của ông chủ tịch. Ban đầu tôi nghĩ là tiếng Rađê,
nhưng cách phát âm khá chuẩn của ông chủ nhà khiến tôi buột miệng hỏi:
– Parlez-vous francais?
Ông chủ nhà quay ngoắt sang tôi, ánh
mắt tỏ vẻ ngạc nhiên:
– Oui… oui… et vous?
Tôi cười gượng:
– Un peu.
Tôi nói thật. Số vốn Pháp văn từ
trường La San suốt mấy năm trung học đã bị rỉ sét từ lâu. Học mấy năm đại học
chỉ toàn tiếng Anh, vì là ngôn ngữ thời đại. Buổi sáng hôm đó không hiểu số vốn
tiếng Pháp của tôi chợt bừng sống dậy. Có lẽ nghe vài chữ Tây của ông chủ nhà
đã kích hoạt một góc trí nhớ ngoại ngữ trong đầu. Tôi hứng khởi lạ lùng. Ở một
nơi lạ lẫm không một ai quen biết, giữa một bản làng lụp xụp nghèo nàn, nếp
sống dân làng còn đượm nét hoang sơ, được đối thoại với người đàn ông xa lạ
bằng vài chữ tiếng Pháp tôi bỗng thấy thấp thoáng ánh sáng văn minh thành thị.
Chắc chắn tôi sẽ moi bằng hết vốn liếng tiếng Pháp của tôi để nói chuyện với
ông chủ nhà, cũng là một cách gây thiện cảm hay nhất. Không gì bằng đối thoại
và hiểu được người đối diện. Hàng rào ngôn ngữ là bức tường ngăn cách với mọi
người, khiến tôi khó hoàn thành được nhiệm vụ. Đầu óc tôi rộn ràng với nhiều ý
nghĩ…
Ngay lúc đó, tôi nghe tiếng sột soạt
bên hông và tôi ngoảnh mặt lại.
Một cô gái trẻ măng đẩy cửa liếp từ
căn nhà nhỏ bước ra ngoài, trên vai khoác một túi xách nhỏ. Cô ngẩng mặt lên
nói một câu ngắn với chủ nhà mà tôi đoán là cha cô. Ông gật đầu và cô quay đi,
bước ra đường và tiến về phía trụ sở xã. Điểm đặc biệt đầu tiên tôi nhận ra là
da cô trắng nõn như cánh sen. Suốt hơn năm ở bản, tôi chỉ thấy đàn ông đóng khố
trần che đủ cái cần che, da ngăm đen nổi mốc meo do phơi nắng cả ngày và biếng
tắm rửa; con nít đen đủi, bụng ỏng đít teo, trần truồng dang nắng và chạy lông
bông khắp xóm; phụ nữ quấn hờ cái váy, vải yếm sơ sài không đủ che ngực để lộ
làn da nâu sần sùi đóng vảy. Lần đầu tiên tôi thấy một cô gái Thượng nước da
trắng đến lạ lùng. Một màu trắng tinh khôi, gợi cảm cuốn hút sự chú ý của mọi
người. Trên người cô là bộ quần áo truyền thống dân tộc màu đen, điểm những sợi
chỉ đủ màu chạy viền quanh. Thoáng một cái, cô quay người đi nên tôi chưa nhìn
rõ mặt. Còn tôi mê mải nhìn theo dáng đi uốn lượn của cô đến nỗi không nghe
tiếng ông chủ tịch gọi rộn bên tai.
Tôi ngượng ngùng quay lại. Chủ nhà
nói với tôi là ngày chủ nhật đến gặp ông để lấy tiền nợ. Tôi hiểu được chữ “chủ
nhật”, còn nguyên câu thì tôi chỉ đoán. Tôi gật đầu cám ơn ông, cả ông chủ tịch
và ra về. Cả mấy ngày, tôi cứ ngóng ngày chủ nhật đến, không phải vì số tiền nợ
ông chủ nhà hứa, nhưng chỉ muốn gặp lại cô bé hôm nọ.
Hôm chủ nhật, tôi đến khá sớm. Đang
gọi tên ông chủ nhà thì cửa liếp lại mở, và cô bé hôm nọ bước ra. Thấy tôi, cô
nhoẻn miệng cười:
– Anh muốn gặp ama?
Đúng như tôi đoán, chủ nhà hôm đó là
ba cô. Tôi gật đầu:
– Ba cô có nhà chứ?
Cô vẫy tay:
– Chờ em.
Tiếng Việt cô phát âm khá sõi. Cô
vén nhẹ tà váy, thoăn thoắt bước lên nhà sàn, kéo tấm cửa chắn và bước vào
trong. Dáng cô nhỏ nhắn, khuôn mặt khá xinh, và đặc biệt làn da trắng. Ở cái xứ
bụi đỏ mù trời, phần lớn dân chúng cày sâu cuốc bẫm, dầm mưa dãi nắng nên khó
giữ cho được làn da nuột nà. Cô gái lại là người dân tộc mà giữ được làn da
trắng nuốt phải kể là một kỳ công. Hay là cô bé lai Tây không chừng, tôi nghĩ
thầm.
Tôi kiên nhẫn đứng chờ. Cha mẹ ở nhà
sàn, nhưng cô gái lại ở riêng nhà trệt như người Kinh. Căn nhà nhỏ dựng gần
bên, mái và vách lợp tranh trông khá vững chắc. Từ bậc thang dẫn lên nhà sàn,
qua khoảnh sân lót gạch là đến tấm cửa liếp của căn nhà trệt. Hai lần tôi thấy
cô từ trong căn nhà nhỏ bước ra. Mấy hôm trước và hôm nay.
Một lát sau, ông chủ nhà xuất hiện,
vẫy tay gọi tôi lên. Tôi leo lên mấy bậc thang gỗ, theo ông vào nhà. Nhìn
thoáng, tôi đếm được ba bếp dùng để nấu nướng. Theo phong tục của người Rađê,
con cái và dâu rể vẫn có thể ở chung một nhà sàn. Căn cứ vào bếp nấu ăn, mỗi
bếp là một gia đình, người ta biết có bao nhiêu gia đình chung sống. Đôi lúc
một nhà sàn dài hun hút chứa hơn chục gia đình gồm mấy chục người chen chúc
sống. Chỉ vào chiếc ghế thấp chân cạnh bếp, ông ra hiệu tôi ngồi. Ông đi về
phía góc nhà, mở nắp rương, lấy ra vài chục bạc trao cho tôi. Tôi nhận tiền,
viết biên lai đưa cho ông. Ngồi trên chiếc ghế đối diện, ông niềm nở hỏi chuyện
tôi. Tôi dùng hết số vốn tiếng Pháp còn nhớ để diễn tả, chữ đực chữ cái. Tôi
thật sự không theo kịp ông nhưng cũng đủ diễn tả một phần những điều ông muốn
biết về tôi. Nhà tôi ở miền xuôi, lên đây làm việc, tôi nói với ông. Ông nói
tiếng Pháp suôn sẻ, giọng khá chuẩn. Tôi ngồi nghe ông nhiều hơn nói, mà nghe
cũng chẳng hiểu hết ý. Câu chuyện sôi nổi dần, ông kể chuyện thời ông làm phụ
tá cai đồn điền cho Tây, rồi về làng lấy vợ. Ông nói thêm, ông có 3 con, cô con
gái lúc nãy là con đầu lòng. Ông bảo thêm, elle s’appelle H’Lem. À ra thế, tôi
nhủ thầm, tên cô bé là H’Lem.
Mải nói chuyện, tôi không để ý H’Lem
đang ngồi xéo bên hông nhặt sạn, rổ gạo nằm gọn giữa 2 bàn chân. Được một lát,
nàng kéo ghế đến gần bếp, nhóm lửa. H’Lem đổ bầu nước vào ấm, ngồi chờ sôi. Chỗ
nàng ngồi chênh chếch ngay phía sau ba cô. Khuôn mặt nàng nhìn nghiêng nghiêng,
mái tóc bồng bềnh chấm vai, sống mũi thẳng, miệng chúm chím như nụ hoa. Sau làn
khói bếp, buổi sáng hôm ấy hình ảnh H’Lem chập chờn mờ ảo như một nàng tiên
trong truyện thần thoại.
Cô hóng chuyện, tôi nghĩ thế. Từ lúc
biết H’Lem ngồi bên cạnh, tôi cố hỏi chuyện nhiều hơn, gặng hỏi nhiều chi tiết
thật ra không cần thiết. Tôi muốn khoe chút vốn liếng tiếng Pháp của tôi. Chẳng
biết ba cô có hiểu tôi hỏi gì không nữa, nhưng ông linh hoạt hẳn ra khi thấy
tôi lắng tai nghe và hào hứng theo dõi câu chuyện. Ông say sưa nói gần như độc
thoại, còn tôi hiểu lơ tơ mơ. Có lúc bắt gặp cô liếc nhìn về phía tôi, khẽ
nhếch môi cười, ánh mắt rạng rỡ vui. Rõ ràng cô bé tỏ vẻ cảm phục tôi nhiều.
Giữa câu chuyện, ông vồn vã mời rượu
cần. H’Lem khệ nệ mang đến một chóe rượu cao tầm đầu gối đủ cho 2 người đối ẩm.
Muốn uống, người ta lấy nước suối đã cất sẵn trong bầu đổ vào bình, chờ cả
tiếng cho rượu ngấm. Cần trúc dài hơn sải tay đã được phơi khô, thông ruột nhét
đầy trên vách. Cắm cần vào bình, kéo ngược đầu kia xuống, và hút mạnh một hơi
rồi trao cho khách. Rượu theo sức hút rót vào miệng. Ngoài vấn đề vệ sinh thường
thức, tôi lại không quen uống rượu, nhất là giữa ban ngày. Ông vỗ vai tôi, cười
cười nói, “sois un jeune…” Tôi vẫn lịch sự từ chối, hứa với ông một buổi chiều
nào đó sẽ thù tạc với ông. Chủ nhà hiếu khách lại mời cơm, tôi cũng xin khất,
viện lẽ có việc phải đi chợ Hà Lan mua vài thứ cần dùng.
Ông tiễn tôi ra tận cửa. Bước xuống
mấy bậc thang, tôi vẫy tay chào ông. Ông nhắn theo, “à bientôt”. Tôi gật đầu
lập lại lời ông. Bẵng đi mấy ngày, tôi không nhớ gì đến chuyện H’Lem vì phải về
ngân hàng nộp tiền. Nghỉ ở cơ quan được chừng tuần rồi phải trở lại bản làng.
Thật sự tôi vẫn thích đi công tác hơn là ở cơ quan, vì được ăn cơm trắng. Cơm
nước ở cơ quan theo đúng tiêu chuẩn, nghĩa là độn khoai sắn, chỉ vỏn vẹn mấy ký
gạo cho cả tháng. Khẩu phần gạo vốn ít oi từ sau 75 vì bị nhà nước thu vét để
trả nợ nay lại càng vơi đi vì đúng thời điểm tích trữ lúa gạo để đánh
Cămpuchia. Bữa ăn, xới được nửa lưng bát cơm trắng là may lắm. Còn lại nhai
trệu trạo mớ khoai sùng và hột bobo cứng như sắt đến long cả răng, lở cả lợi.
Những ngày ở cơ quan, ăn không đủ no nên tiền lương bọn sinh viên chúng tôi đem
nướng hết ở mấy hàng quán. Tiền lương không đủ trả cơm hàng cháo chợ nên sổ nợ
lúc nào cũng chi chít những con số. Hễ lãnh lương là đem trả nợ rồi ký sổ tiếp.
Về làng, tuy an ninh không bảo đảm (đã có lúc quân Fulrô đánh vào làng), nhưng
lại được ăn cơm trắng. Cơm gạo mới của người dân tộc dẻo quánh, chỉ cần chan
nước mắm dằm ớt hiểm thì tôi ăn một lúc bốn bát là thường.
Một lần tôi ghé vào trụ sở xã để tìm
ông chủ tịch. Đứng ở cửa trụ sở xã nhìn sang trường tiểu học bên hông, tôi bỗng
thấy H’Lem. Hóa ra cô gái là giáo viên. Trường xã chỉ có từ mẫu giáo đến lớp 3,
do một giáo viên từ miền bắc điều vào làm hiệu trưởng. Tôi lẩn thẩn bước qua
trường, tò mò nhìn vào lớp học của H’Lem. Bầy con nít cỡ chừng hai chục đứa
đang hát theo cô giáo, một bài dân ca tiếng Rađê. Giọng H’Lem cao vút, hai tay
múa nhịp nhàng. Bầy con nít áo quần xốc xếch vây quanh cô giáo ê a hát theo,
thân hình lắc lư như đang lên đồng. Nhìn đám con nít đen đủi, tôi chợt nghĩ đến
Bạch Tuyết và 7 chú lùn trong truyện cổ tích. Nàng nhoẻn miệng cười khi thấy
tôi đứng lấp ló bên ngoài. Tôi vẫy tay chào, H’Lem chào lại. Đứng nhìn một lúc
tôi dợm quay đi thì thấy nàng chạy vội ra ngoài. Đến gần, H’Lem bảo:
– Anh muốn đến nhà H’Lem không?
Tôi nghĩ ngay đến số tiền nợ nhưng
nếu đến tôi cũng chỉ nói chuyện bâng quơ với ông chủ nhà. Một chút tình cảm nào
đó bắt đầu nhen nhúm khiến tôi sẽ không đủ can đảm mở miệng đòi. Ngượng ngùng,
tôi nói nhỏ:
– Tháng sau tôi mới đến gặp ba cô.
– Anh đến nhà H’Lem, không phải nhà
ama.
Tôi hơi ngạc nhiên, chỉ tay vào
người cô:
– Cái nhà bên cạnh phải không?
– Dạ.
Tôi ngơ ngác hỏi tiếp:
– Cô mời tôi đến nhà cô?
Khuôn mặt H’Lem rạng rỡ, giọng vồn
vã:
– Dạ. Mời… em mời… mời anh đến nhà.
Lấy lại được bình tĩnh, tôi hứng
khởi:
– Chắc chắn tôi đến. Khi nào thì
tiện?
– Thứ bảy. Trưa anh đến. Em có bạn
nữa.
H’Lem biết tiếng Việt khá nhiều,
nhưng ghép lại thành câu cú thì cô bé vẫn chưa thạo. Tuy lờ mờ hiểu được ý của
nàng, tôi vẫn ngạc nhiên về sự bạo dạn của H’Lem. Không hiểu có phải tập tục
của người Rađê cho phép con gái đi trước con trai một bước. Tôi bỗng thấy yêu
tập tục này quá. Hơn tuần, tôi mong gặp lại H’Lem nhưng không dám đường đột.
Lời hứa với ông bố sẽ thù tạc một lần với ông nhưng tôi vẫn ngại ngùng. Nợ thì
phải chờ tháng sau tôi mới dám mon men đến nhà. Chưa biết làm thế nào để gặp
lại cô thì H’Lem đã mạnh dạn ngỏ lời mời đến nhà. Tôi hoan hỉ gật đầu.
Y hẹn, tôi đến. Đứng ngoài cửa liếp,
tôi nghe tiếng lao xao trong nhà. Tôi gõ nhẹ lên nẹp tre, gọi nhỏ tên cô. Cửa
mở, H’Lem xuất hiện ở ngưỡng cửa, nét mặt rạng rỡ. Cũng khuôn mặt trẻ măng và
làn da trắng nuốt như bao lần, H’Lem trông rực rỡ dưới ánh mặt trời gay gắt vào
buổi trưa hôm đấy.
Cô đưa tay mời tôi. Vừa bước vào,
tôi nhận ra một cô gái đang ngồi trên giường cười cười nhìn tôi. H’Lem bảo bạn
em, H’Ngăm. Tôi nhận ra ngay sự tương phản giữa hai cô gái. H’Lem trắng bao
nhiêu thì H’Ngăm đen bấy nhiêu. Một màu da đen sạm quen thuộc của các cô gái
dân tộc. Thân hình H’Lem nhỏ nhắn, còn H’Ngăm thì to lớn, đẫy đà. Mái tóc đen
nhánh của H’Lem phủ chấm vai, còn H’Ngăm thì búi tó như một bà già bắc kỳ chính
hiệu.
Căn nhà nhỏ hoảnh bằng bàn tay, vừa
đủ kê một chiếc giường, bên trái là chiếc tủ khá cao, bên phải là chiếc bàn
chiếm gần nửa chiều dài của chiếc giường. Trên bàn đặt bộ ấm trà và ba bốn tách
xếp ngay ngắn, bên cạnh là bình tích đựng nước sôi. Trên vách, một dãy móc áo
treo vài bộ quần áo màu đen dân tộc truyền thống. Thấy tôi nhìn quanh một vòng,
H’Ngăm nheo mắt:
– Anh thấy nhà con gái dân tộc ra
sao?
H’Ngăm phát âm tiếng Việt khá sõi
như H’Lem. Tôi thật tình:
– Ngăn nắp không thua gì con gái
Kinh.
H’Lem chỉ tay vào chiếc ghế đặt gần
bàn, giọng nhỏ nhẹ:
– Anh ngồi đi.
H’Lem ngồi xếp bằng trên giường. Bên
cạnh là H’Ngăm, cô gái ngồi thòng chân đong đưa theo câu nói. Còn tôi ngồi đối
diện, cách nhau là chiếc bàn dài. H’Lem vỗ vỗ vai bạn:
– H’Ngăm dạy mẫu giáo giống em.
Tôi nhìn cô gật đầu và lẩm bẩm cái
tên mới nghe lần đầu:
– Tôi nói tên đúng giọng dân tộc
không?
H’Ngăm vỗ tay:
– Đúng giọng rồi. Anh giỏi lắm.
H’Lem nói anh giỏi.
– Tôi mà giỏi gì. Hai cô mới giỏi.
Hiếm người dân tộc làm cô giáo.
– H’Lem nói ama thích anh vì anh
biết tiếng Pháp.
– Tôi quên hết tiếng Tây rồi. Bây
giờ tôi chỉ muốn học tiếng dân tộc để nói chuyện với hai cô.
– Tiếng dân tộc không hay đâu.
Tôi đáng trống lảng:
– Thế cả trường có mấy cô dạy mẫu
giáo?
Lại cũng H’Ngăm:
– Có hai đứa này thôi.
H’Lem xen vào:
– Anh uống trà?
Tôi gật đầu. H’Ngăm cười:
– Bọn này biết người Kinh thích uống
trà.
– Thế người dân tộc thì sao?
– Người dân tộc chỉ uống nước suối,
uống rượu cần, không thích uống trà.
H’Lem đứng lên, mở bình tích, đổ
nước vào ấm. Cô mở hộc bàn, lấy ra một bịch trà, dán nhãn Bảo Lộc. Bốc một
nhúm, nàng bỏ vào ấm. Tất cả thao tác pha trà của H’Lem trông thuần thục. Tôi
tò mò:
– Thế hai cô cũng thích uống trà.
H’Ngăm luôn nhanh nhẹn cướp lời.
H’Lem có vẻ trầm tĩnh ít nói hơn. Hoặc giả cô bé nể nang, nhường cho bạn làm
chủ câu chuyện.
– Bọn này thích uống trà như người
Kinh.
Trong câu chuyện, H’Ngăm luôn so
sánh những sinh hoạt của hai cô với người Kinh. Cuối câu, tôi thường nghe cô
nói, giống người Kinh hoặc như người Kinh. Tôi có cảm giác hai cô rất hãnh diện
sự Kinh hóa của mình. Ngay cả đôi xăng đan cô đi dạy cũng có quai hậu, trông
lịch sự chứ không đi chân đất hoặc mang dép lẹp kẹp như bao cô gái dân tộc
khác. H’Lem nhìn tôi, đôi mắt trong veo:
– Anh ăn kẹo?
Giọng tôi hớn hở:
– Có gì hai cô cứ dọn ra, tôi ăn
hết.
H’Ngăm lại cướp lời:
– Bọn này chỉ có kẹo thôi.
Số vốn tiếng Việt của H’Ngăm và
H’Lem vừa phải, đủ để ghép thành một câu chuyện nhỏ. Lối đặt câu của hai cô
giáo đôi lúc ngây ngô, buồn cười. Thỉnh thoảng, H’Ngăm trộn vào một chữ dân tộc
khi không tìm ra chữ Việt để diễn tả. May thì tôi hiểu, không thì phải hỏi lại
và nàng giải thích thêm. Đối với tôi, trình độ ngoại ngữ của hai cô như thế là
nhất làng, hoặc có thể nhất huyện. Ăn ở dầm dề hơn năm nhưng tôi chưa gặp một
cô gái dân tộc nào nói tiếng Việt thạo như H’Ngăm và H’Lem. Cứ thế, chuyện trò
lan man về làng xóm, phong tục, thời tiết chừng mươi lăm phút. Bình trà cạn
dần, kẹo lạc vơi gần hết. Tôi quay lại chuyện tiếng Việt:
– Hai cô nói tiếng Kinh hay lắm. Tôi
cứ tưởng là người Kinh.
H’Ngăm nhanh nhẩu trả lời. Tôi có
cảm giác H’Ngăm đóng vai người chị, lúc nào cũng muốn bảo vệ đứa em gái H’Lem.
– Bọn này không hay đâu.
– Hay mà.
H’Lem chỉ ngồi cười cười, thỉnh
thoảng góp một vài câu rồi phá lên cười nắc nẻ. Giọng cười H’Lem dòn tan, nghe
róc rách bên tai như dòng suối chảy len lỏi qua bản làng.
– Dạy mẫu giáo khó không?
– Dễ lắm. Cả ngày chỉ hát thôi.
– Nhưng làm sao biết dạy?
– Tôi và H’Lem đi học ở tỉnh ba
tháng.
– Ba tháng?
– Bọn này học đến lớp 5 ở Hà Lan.
Cán bộ đến làng chọn bọn tôi rồi bảo đi học ở tỉnh.
Tôi tò mò:
– Tiền lương làm sao các cô đủ sống?
H’Lem khoát tay:
– Em thích dạy con nít, còn tiền
lương không nhiều.
Tôi hiểu ý cô nói yêu nghề đi dạy
chứ chẳng trông mong vào tiền lương. H’Ngăm giải thích thêm:
– Buổi sáng dạy, còn buổi trưa bọn
này phải đi rẫy. Làm rẫy mới có tiền, đi dạy không có tiền.
Tôi thắc mắc:
– Làm rẫy cho cha mẹ thì làm gì có
tiền.
H’Ngăm giải thích:
– Làm cho cha mẹ rồi cha mẹ cho tiền
cưới chồng.
Tôi nhớ ra dân tộc Rađê theo mẫu hệ.
Con gái đi cưới chồng. Nhà trai thách cưới thì cha mẹ nhà gái phải bán gia súc
mới đủ tiền. Có gia đình cưới chồng cho con cái xong bỗng sạt nghiệp. Dãy nhà
sàn trống hoác vì bán sạch sành sanh. Người dân tộc chuộng con trai hơn, vì
sinh con gái rất tốn kém khi chúng lập gia đình.
– H’Lem mười sáu tuổi nên lấy chồng
được rồi.
Vừa nghe đến đó, H’Lem lấy tay đập
thùm thụp vào vai H’Ngăm. Mặt nàng đỏ ửng. H’Ngăm phá lên cười, né người sang
bên và nói một tràng tiếng dân tộc với H’Lem. H’Lem vùng vằng, mặt xụ xuống. Cô
quay mặt đi, nói lại một câu dài. Cô bé không bằng lòng câu nói đùa của bạn.
Đúng ra, H’Ngăm nói chẳng sai. Con gái 16 ở buôn làng có thể cưới chồng. Chỉ
tội cô lấy H’Lem làm ví dụ. Tôi vội giảng hòa:
– Tôi có người bạn lấy chồng năm 17
tuổi. Người dân tộc lấy sớm hơn một năm. Cũng gần giống con gái Kinh.
Một người bạn học của tôi học dở
dang lớp 12 vội bỏ trường lớp đi lấy chồng. Tuổi 17 quá non nớt để gánh vác
trách nhiệm của một người vợ, và một người mẹ. Còn con gái dân tộc 16 tuổi đã
vững chãi với sương gió, khí hậu khắc nghiệt, và công việc đồng áng. Lớn lên
giữa núi rừng, miệt mài trên nương rẫy từ lúc còn đỏ hỏn bú mớm, những cô gái ở
lứa tuổi 16 hầu như đã sẵn sàng để gầy dựng một thế hệ tương lai. Mỗi ngày của
H’Lem bắt đầu với bầy con nít, trưa nắng trùm kín người chỉ chừa mặt, khoác gùi
trên lưng ra nương rẫy, chiều xuống gùi nặng trĩu trở về nhà xong một ngày thật
mệt nhọc. Tuổi H’Lem mười sáu. Nàng đã trưởng thành.
Từ khi quen H’Lem, ngày tháng vẫn
lặng lẽ trôi với công việc đòi nợ nhạt nhẽo nhưng trong tôi rộn rã một niềm
vui. Giữa bản làng nghèo nàn cô quạnh, tôi đã có một người bạn, một người em
gái nhỏ. Cuối tuần, tôi ghé nhà chào hỏi ông chủ nhà lấy lệ, rồi kiếm cớ hỏi
han H’Lem. Tôi giữ lời hứa uống rượu cần với ông. Ông hào sảng tiếp tôi và mấy
người bạn của ông với một chóe rượu cần ngon nhất chôn dưới đất đã hơn năm.
H’Lem tiếp nước đổ vào chóe. Cô bé không dám đến ngồi gần, vì toàn bậc cha chú.
Chuyện lan man, uống mãi đến khi rượu nhạt thếch. Say khướt. Ông chê tôi. Tôi
cười gật đầu chấp nhận kém tửu lượng. Vài lần váng vất cơn say, tôi còn đủ tỉnh
táo không dám bước vào nhà riêng của H’Lem, sợ men rượu ép men tình. Và nếu có
chuyện đáng tiếc xảy ra, chắc chắn sẽ gây tai tiếng không hay. Cho cả tôi lẫn
H’Lem.
Quen biết H’Lem là một hạnh ngộ bất
ngờ ngoài sự mong ước của tôi. Cả năm, mảnh đời buồn tẻ của tôi trôi lững lờ
với nhiều đăm chiêu về cuộc sống, mơ ước một tương lai khác, suy nghĩ lung về
một khung trời mới. Ngày hôm qua với những ước mơ. Ngày hôm nay cũng với ước mơ
đó, và tôi biết chắc ngày mai niềm ước mơ của tôi vẫn là mơ ước. Ngày tháng ở
buôn làng của tôi trôi chầm chậm một cách nhàm chán, buồn tẻ đến tuyệt vọng.
H’Lem đến như một hạnh phúc nhỏ mà tôi nâng niu, trìu mến. Cuộc sống chợt hứng
khởi hơn mỗi khi bước ngang trường học thấy H’Lem quấn quýt bên bầy trẻ nhỏ.
Tuy vậy, tôi vẫn cố giữ một khoảng cách để giữ tiếng thơm cho nàng, một người
con gái đẹp thùy mị. H’Lem hiếm hoi như một nhánh lan khoe sắc gửi thân trên
vách đá lởm chởm rêu xanh. Cô bé như một đóa hoa rực rỡ giữa một rừng cây khô
cháy, lá úa tàn. Tôi mới ngoài hai mươi. H’Lem tròn trăng, tuổi có thể cưới
chồng. Bóng dáng tôi lảng vảng ở nhà riêng của cô bé sẽ không tránh khỏi những
con mắt tò mò của các chàng trai dân tộc. Tôi mong sự quen biết của tôi sẽ
không ảnh hưởng gì đến chuyện cưới hỏi về sau của H’Lem. Vì H’Lem phải ở lại
buôn làng để cưới chồng, và tôi phải về lại đồng bằng, tìm cách vượt thoát cho
một tương lai tươi sáng hơn.
Lúc nào nàng tiếp tôi tại nhà riêng
đều có mặt H’Ngăm. Chưa bao giờ tôi ngồi riêng với cô bé trong căn nhà nhỏ. Mỗi
sáng chủ nhật, tôi đều cuốc bộ ra nhà thờ Hà Lan tham dự thánh lễ (một điều tôi
không làm được khi ở cơ quan vì tay thủ trưởng răn đe cấm cản), lòng vòng ở chợ
mua vài món lặt vặt rồi quay về làng. Đôi lúc mua được một vài món trang sức
thủ công nho nhỏ, tôi đều tạt ngang biếu H’Lem. Nếu thấy chỉ có mỗi cô bé, tôi
đưa quà rồi lên nhà sàn gặp ba cô. Ngược lại, nếu thấy có cả H’Ngăm thì tôi ở
lại chuyện vãn. Đôi lúc cô bé hiểu sự ngại ngùng của tôi nên thế nào cũng gọi
bạn đến chơi. Tôi biết thế vì đôi lần sau khi chuyện trò với chủ nhà và từ giã
ra về, xuống nhà sàn ghé mắt nhìn vào nhà cô, đã thấy H’Ngăm ngồi cạnh cô bé
đang vẫy vẫy tay mời tôi vào.
Tôi nhớ mãi một lần. Hôm đó, tôi đến
thăm H’Lem như bao lần khác, tình cờ gặp cô bé đang giã gạo. Trước mặt H’Lem là
cái cối gỗ cao cỡ nửa thước, tầm trên đầu gối. Cô cầm cái chày dài vượt quá
đầu, ở giữa đẽo lõm vào cho dễ nắm. Hai tay nắm chặt eo chày, cô đưa lên cao và
dập xuống lòng cối. Thao tác đưa chày lên cao rồi giã xuống nhịp nhàng, uyển
chuyển như một điệu múa nhà nghề trên sân khấu. H’Lem đứng giữa sân, váy ngắn
buộc hờ tuột sâu dưới eo ôm gọn lấy đôi mông tròn mẩy, đôi chân trần mũm mĩm
trên nền gạch, áo cánh ngắn cũn cỡn. Chiếc áo cô mặc quá ngắn như không thể nào
ngắn hơn được nữa, kiểu áo “đình chiến”, phủ vừa đôi vai để lộ đôi cánh tay
thuôn thuôn trắng nuốt, vạt áo thả hờ qua bộ ngực căng đầy rồi đứng khựng lại
lưng chừng, phập phồng theo nhịp giã. Khuôn mặt đỏ hồng của H’Lem lấm tấm mồ
hôi, mái tóc buộc gọn sau gáy, chùm tóc mai cong vút phất phơ theo ngọn gió nhẹ
ban mai.
H’Lem đẹp lạ lùng vào buổi sáng hôm
ấy. Một nét đẹp hoang dã của nụ hoa đồng nội, đơn sơ, vụng dại nhưng đầy ma lực
sơn cước quyến rũ. Hai tay cô bé cầm chày đưa lên cao, kéo xốc theo vạt áo, để
lộ cả một vùng da thịt trắng ngần đập vào mắt tôi. Khoảng giữa phần thịt da lồ
lộ, giữa cái eo nhỏ nhắn, cái rốn tròn tròn nằm lả lơi hút chặt ánh mắt đờ đẫn
của tôi. Tôi đứng ngây người nhìn cái rốn sâu sâu của cô bé. H’Lem đứng cách
tôi chừng vài mét, bụng lẳn thóp vào theo nhịp thở, cái rốn nhún nhẩy theo nhịp
giã của cô. Mảng da bụng lõm vào, và lỗ rốn trông như cái hố trũng cơ hồ nuốt
hút hết cả khối nước khổng lồ. Tôi chợt nhớ câu nói cảm khái của Phạm Thái
trong “Tiêu Sơn Tráng Sĩ” về mối tình bi thảm với nàng Trương Quỳnh Như tài
sắc, “…chí lớn trong thiên hạ không chứa đầy đôi mắt mỹ nhân.” Ngây
người ngắm H’Lem giã gạo, tôi cũng cảm hoài mượn câu nói của người xưa, “…chí
lớn trong thiên hạ không chứa đầy lỗ rốn mỹ nhân.”
Thấy tôi đứng như trời trồng, H’Lem
nhận ra ánh mắt tội lỗi của tôi. Khuôn mặt hồng của cô bé bỗng đỏ rực:
– Đừng nhìn em.
– Đứng đây mà không nhìn H’Lem thì
nhìn ai?
Vạt áo của H’Lem vẫn kéo xốc lên một
cách trêu chọc. Tôi ngồi bệt xuống sàn gạch, dựa lưng vào vách nhà, ánh mắt
không rời khoảng da bụng trắng hồng. Cái rốn sâu chỉ bằng nửa ngón tay út nhưng
tôi có cảm giác nó sâu thăm thẳm đủ chôn vùi tương lai của tôi. Lần đầu tiên
trong đời, tôi thoáng nghĩ đến một cuộc sống vĩnh viễn ở vùng rừng núi, quanh
quẩn bên nương rẫy và chợt quên đi những ước mơ nhen nhúm từ hơn nửa năm nay.
Quen biết H’Lem đã hơn nửa năm. Mỗi
lần gặp cô, chuyện nói hoài không hết, ánh mắt và nụ cười như gia vị đậm đà cho
câu chuyện thêm thú vị. Mỗi lần gặp là một nỗi vui riêng biệt. Vậy mà có một
lần cô bé giận tôi. Hôm đó, tạt ngang trụ sở xã tôi bỗng thấy H’Ngăm từ trường
chạy vội sang. Đến gần, cô nói nhỏ, “thỏ đổi lông”. Tôi ngơ ngác chẳng hiểu gì.
Nhăn mặt, lắc đầu, tôi hỏi ngược:
– Cái gì?
Nét mặt H’Ngăm nghiêm nghị hẳn:
– Thỏ đổi lông. H’Lem thấy thỏ đổi
lông.
– Thỏ nào? Đổi lông làm sao? Tôi
chẳng hiểu gì cả.
N’Ngăm chỉ tay về phía nhà H’Lem:
– Anh đến nhà, H’Lem nói cho biết.
– Sao H’Lem không cho tôi biết ngay
bây giờ?
– H’Lem giận anh.
– Giận tôi?
– Đúng, thỏ đổi lông.
Tôi đưa hay tay lên trời:
– Lại nữa, thỏ đổi lông là sao?
– Không nói, để H’Lem nói.
– Khi nào?
– Chiều.
Nói xong, H’Ngăm ngoe nguẩy quay
ngược về lớp. Thú thật, tôi chẳng hiểu gì về chuyện “thỏ đổi lông.” Chắc chắn
đây phải là một thành ngữ Rađê, và ngụ ý thế nào thì tôi phải gặp H’Lem mới
hiểu rõ. Chiều xuống, tôi đến nhà đã thấy hai cô gái ngồi yên vị trên giường.
Không ngồi vội, tôi hỏi ngay:
– Thỏ đổi lông là sao?
H’Ngăm đưa hai tay ra phía trước,
thân hình nhún nhẩy, lẩm nhẩm hát theo nhịp của một điệu nhạc vô hình nào đó:
– Thỏ đổi lông. Thỏ đổi lông… a… ha…
thỏ đổi lông.
H’Lem không thèm nhìn tôi:
– Anh ngồi xuống.
Tôi nhẫn nhịn ngồi, và một lần nữa
lập lại câu hỏi:
– Nào, cho tôi biết chuyện gì?
H’Lem quay lại, nhìn thẳng vào mắt
tôi, nét mặt buồn buồn:
– Em thấy thỏ đổi lông ngày hôm qua.
H’Ngăm bồi thêm:
– Tôi cũng thấy luôn… thỏ đổi lông.
– Là sao?
H’Lem nhỏ nhẹ:
– Hôm qua đi chợ Hà Lan, em thấy anh
đi với một cô Hà-lan.
Rồi cô cúi đầu, giọng buồn bã:
– Anh đổi lông?
Tôi chợt nhớ ra ngày chủ nhật, ở nhà
thờ ra, tôi lang thang vào chợ Hà Lan. Sát hông chợ là một cửa hàng thương
nghiệp. Tôi tạt ngang mua gói thuốc lá. Cô bán hàng trẻ măng xinh xắn, biết tôi
là cán bộ ngân hàng nên liều bán cho tôi một gói (thường phải có giấy giới
thiệu mới mua được, vì thuộc loại xa xỉ phẩm). Thấy cô vui tính dễ mến, tôi
đứng lại, vừa hút thuốc vừa tán chuyện. Tính tôi vậy, lợi khẩu, khéo léo nói
vài câu là chuyện kể ra không hết. Cô lắng tai nghe, ra chiều thích thú. Lan
man một lúc, cô phải tạm đóng cửa để đi chợ mua thức ăn. Tôi giở thói nịnh đầm,
xin theo cô lang thang vào chợ. Cô đồng ý ngay. Thế là tôi và cô lẩn thẩn đến
chợ, gây sự tò mò của kẻ mua người bán. Đến hàng rau hàng cá, cô trả giá, tôi
tần ngần đứng bên. Mua xong, bỏ gói cá vào giỏ rồi tạt sang hàng rau. Tôi sánh
vai với cô rảo khắp khu chợ xổm. Những năm đó, xã hội còn khép kín, nhất là ở
huyện xã khỉ ho cò gáy lại còn nhiều điều cấm kỵ, một cặp trai gái không phải
vợ chồng xách giỏ đi chợ là điều rất ngạc nhiên. Tôi phớt lờ vì cá nhân tôi
chẳng có tăm tiếng gì phải giữ. Trước sau gì tôi cũng rời bỏ mảnh đất bụi đỏ
này. Nhưng không ngờ là H’Ngăm và H’Lem đi chợ, và chắc chắn đã thấy tôi.
Bây giờ tôi hiểu được nghĩa của câu
“thỏ đổi lông”. Cô hỏi tôi, anh đổi lông? Được hiểu như thay lòng đổi dạ? Đúng
ra, tôi chưa là gì với H’Lem và tôi xem cô bé như một đứa em gái. Chưa bao giờ
hứa hẹn, và cũng chưa hề nói một câu tỏ tình. Tình cảm của tôi đối với H’Lem,
nếu có, bước xa hơn bình thường một chút nhưng vẫn luôn trong vòng lễ giáo. Thế
mà cô bé tỏ vẻ khó chịu khi thấy tôi đi với một người con gái khác. Nói “thỏ
đổi lông” trong trường hợp của tôi thì khắt khe quá, nhưng tôi hiểu ra một khi
con gái dân tộc có cảm tình với ai, họ muốn một sự trung thành tuyệt đối. Lòng
trung trinh của người dân tộc thật tuyệt vời.
Nét mặt cô buồn hẳn. Cô ngồi bó gối,
ủ rủ như con chim mắc mưa trong cơn bão. Nhìn thật tội. H’Ngăm im lặng, vẻ mặt
đăm chiêu, ngồi nhìn mông vào tấm vách. Căn nhà bỗng chìm vào một sự yên lặng
nặng nề. Tôi nghĩ sánh vai với cô gái ở chợ Hà Lan chẳng là gì, chỉ là một cơn
bốc đồng. Đấy là quyền tự do của tôi và H’Lem chẳng có quyền gì ngăn cấm. Vì
một lẽ tự nhiên cô bé chưa là gì trong tim tôi. Nếu có, chỉ là một thoáng tình.
Nhưng tôi lại không đủ can đảm nói
thẳng điều tôi nghĩ với H’Lem. Quan niệm của cô bé khác hẳn quan niệm về tình
cảm của tôi. Bao bọc bởi núi rừng bát ngát và nương rẫy bao la, nếp sống chân
chất của người dân tộc khiến họ suy nghĩ thật đơn giản. Trắng, đen rõ ràng,
không thể có một màu xám xám lưng chừng. Tôi nghĩ phóng khoáng hơn, và sự cởi
mở trái ngược với lối suy nghĩ bảo thủ của cô bé. Nói thật chắc chắn sẽ làm cô
đau hơn, và tôi thật không nỡ.
Tôi nhỏ nhẹ:
– Cô ta làm ở cửa hàng thương
nghiệp. Anh nhờ cô trả giá vài món đồ. Chỉ vậy thôi.
Tôi phải nói khác đi, kể ngắn gọn
lại vì càng nhiều lời cô càng không hiểu hết ý, không khéo lại gây thêm hiểu
lầm. H’Lem ngước đôi mắt thơ dại nhìn tôi:
– Anh không đổi lông?
Tôi nói xuôi:
– Nhờ người ta mua vài món đồ không
có nghĩa là đổi lông.
Nước mắt long lanh, giọng cô trầm
hẳn xuống, hình như để chỉ mỗi tôi nghe:
– Em buồn khi thấy thỏ đổi lông.
Rồi cô nắm chặt lấy tay tôi (lần đầu
tiên chúng tôi có sự đụng chạm), giọng tha thiết hơn bao giờ:
– Anh đừng đổi lông.
Nếu không có H’Ngăm, tôi đã ôm cô bé
vào lòng, vuốt tóc an ủi cô đôi lời. H’Ngăm ngồi đó, đuôi mắt sắc lẻm khẽ liếc
nhìn bàn tay của H’Lem, nét mặt nghiêm nghị như một quan tòa sửa soạn đọc bản
án “thỏ đổi lông” trừng phạt tôi. Mặc dù trấn an H’Lem nhưng tôi không dám hứa
hẹn gì thêm sợ lấn sâu vào chuyện tình cảm. Lời nói của tôi nếu gieo nhiều hy
vọng thì sau này sẽ gây hậu quả thật không hay khi tôi rời bỏ mảnh đất bụi đỏ
mù trời này. Tôi chỉ muốn H’Lem hiểu lưng chừng, bằng lòng với sự quen biết đơn
sơ để tránh khỏi sự tuyệt vọng, nếu có, về sau.
Vậy mà có lần tôi suýt vướng lưới
tình và tưởng sẽ vùi thân nơi đất khách. Hôm đó H’Ngăm nhắn tin H’Lem đau và
muốn gặp tôi. Lại cũng H’Ngăm, cô gái luôn đóng vai con nhạn đưa tin. H’Ngăm
cho biết cô bé đã nghỉ dạy 2 ngày. Cơm chiều xong, lúc trời vừa sẩm tối, tôi
khoác chiếc áo măng-tô dày cộm rảo bước đến nhà. Tôi phải đợi trời tối để tránh
ánh mắt tò mò của dân làng. Đêm xuống nhanh. Trời mùa đông lạnh se sắt. Tôi đến
nhà H’Lem lén lút như một kẻ trộm. Đến nơi, đứng ở cửa, tôi khẽ gọi tên cô bé.
Có tiếng thều thào trả lời. Tôi khẽ đẩy cửa liếp bước vào. Ngọn đèn dầu leo lét
đặt trên bàn đêm tỏa ánh sáng mờ mờ nhưng đủ để tôi thấy H’Lem đang nằm trên
giường, tấm khăn mỏng đắp ngang hông. Kéo cái ghế sát vào thành giường, tôi
ngồi xuống, nắm bàn tay cô bé. H’Lem không cưỡng lại, để tôi nắm tự nhiên. Bàn
tay cô bé mềm mại thịt da, và tôi cảm thấy một luồng hơi nóng truyền sang tay
tôi. Hóa ra cô bé bị sốt. Bóp nhẹ bàn tay của H’Lem, tôi hỏi nhỏ:
– Em uống thuốc gì chưa?
Khuôn mặt cô bé đỏ hồng dưới ảnh
hưởng của cơn sốt, H’Lem gật gật đầu, giọng mệt nhọc:
– Amĭ (mẹ) cho em uống thuốc dân
tộc.
Người dân tộc hái lá cây trong rừng,
tự sắc thuốc chữa bệnh. Cùng đường, tuyệt vọng mới đem ra bệnh xá. Thời đó cả
nước chỉ có mỗi loại thuốc phổ thông tên ‘xuyên tâm liên’ trị bá bệnh; từ sốt
đến tiêu chảy, từ phù thủng đến đau dạ dày. Nếu thuốc nam không chữa được, ra
bệnh xá thì cầm bằng cái chết, vì y tá xem qua loa rồi lại cấp phát cho vài viên
“thần dược” xuyên tâm liên. Bước ra khỏi bệnh xá, người nào trên tay cũng cầm
một loại thuốc, mặc dù bệnh tình hoàn toàn khác nhau. Đã hai ngày mà cơn sốt
không giảm, có lẽ phải đưa H’Lem đi bệnh viện tỉnh. Bệnh xá xã trông ọp ẹp và
bẩn thỉu đến rùng mình. Đặt tay lên trán cô bé, tôi ghé sát mặt H’Lem, hơi thở
nóng hừng hực phả vào mặt tôi:
– Em đỡ chưa?
Cô gật đầu nói em bớt nhiều. Vầng
trán lấm tấm mồ hôi, cánh tay cô luỗi hẳn, không còn sức lực, nặng trĩu trên
tay tôi. Mấy ngón tay thon thon ngoan ngoãn để tôi vuốt ve. H’Lem nhìn tôi,
giọng trìu mến đầy cảm động:
– Anh đến nhà em…
– H’Ngăm nói, anh mới biết.
Dưới ánh đèn dầu vàng nhợt nhạt,
khuôn mặt H’Lem như một hấp lực kéo sát tôi lại gần. Tôi định hôn lên đôi môi
khô nứt nẻ của cô bé nhưng không hiểu sao tôi ngưng ngay ý định đó. Tôi ân cần:
– Em uống chút nước nhé?
H’Lem khẽ gật đầu. Tôi nâng đầu cô
dậy, lấy chiếc gối dài kê lên cao. Bầu nước để gần bên, tôi đổ ra ly, và múc
từng thìa mớm cho cô uống. H’Lem nhếch môi, khó khăn uống từng hớp nước. Được
hai ba thìa nước, tôi bỗng thấy nước mắt cô bé chảy dài lên má.
– Sao vậy?
Giọng H’Lem nghe như muỗi kêu:
– Cám ơn… anh.
– Không sao, em nằm nghỉ đi.
Nhẹ nhàng đặt đầu cô bé xuống chiếc
gối êm. Bỗng H’Lem hơi rướn người, nắm chặt tay tôi:
– Anh ở lại nhà em.
– Ừ, anh ở lại chứ. Em cứ nằm nghỉ
cho khỏe.
Cô nhoẻn miệng cười, nụ cười trong
cơn sốt trông méo mó như đôi môi bị lệch sau cơn động kinh:
– Em khỏe nhiều lắm.
H’Lem nằm yên dưới cơn sốt đến rồi
đi, mắt nhắm nghiền, hơi thở mệt nhọc. Tôi ôm bàn tay nóng sốt của cô bé, lặng
lẽ vuốt mái tóc bê bết mồ hôi, vỗ về cho cô ngủ. H’Lem ngủ hiền lành như một
mèo nhỏ, chìm vào giấc ngủ bình yên không mộng mị. Tôi ngồi lâu lắm, cũng chìm
đắm vào những suy nghĩ về một tương lai mù mịt. Ngoài kia, bóng đêm phủ kín
buôn làng. Cả một không gian tĩnh lặng đổ ập lên mọi sinh vật, chỉ còn tiếng
côn trùng rỉ rả nghe như một khúc nhạc đơn điệu, buồn não lòng.
Bỗng H’Lem trở mình, và choàng tỉnh.
Tôi nghe tiếng lao xao vọng đến từ xa. Thính giác bén nhạy của một cô gái sơn
cước phân biệt được hầu hết mọi tiếng động trong đêm tối. Tôi chợt nhận ra
tiếng chân người. Cô bé nhìn tôi, đưa ngón tay lên miệng ra hiệu yên lặng. Đồng
hồ tay chỉ gần nửa khuya. Đêm hôm khuya khoắt, chỉ có đám du kích đi tuần quanh
bản. Tôi biết tay du kích trưởng là người Kinh, được bổ về làng chỉ huy khoảng
7-8 thanh niên dân tộc, với nhiệm vụ giữ an ninh cho làng xóm.
Nên hiểu tình trạng an ninh vào
những năm vừa mất nước. Tất cả mọi sự đi lại đều phải được sự chấp thuận của
chính quyền, kể cả thăm viếng ngủ qua đêm. Sau giờ giới nghiêm, ở làng xã
thường bắt đầu từ sẩm tối, ai về nhà nấy, không được tụ họp, hoặc ngủ lại mà
không có giấy phép. Thời gian đó dân chúng đã sống như trong một nhà tù lớn, ai
ở xà lim nấy. Tôi đến công tác ở xã, ông chủ tịch đã chỉ định cho tôi trú ngụ
tại một nhà cố định. Dĩ nhiên, ban đêm tôi ngủ lại ở một nhà khác cũng phải có
giấy phép. Trai chưa vợ, gái chưa chồng, ban đêm ở chung một nhà có thanh minh
mấy cũng chẳng ai tin. Tình ngay lý gian là thế. H’Lem là giáo viên, tôi là cán
bộ ngân hàng, nếu bị phát hiện cả hai ở trong một căn nhà quá giờ giới nghiêm
thì khó mà biện hộ cho sự ngay thẳng. Nếu đám du kích ập vào bắt quả tang và
lập biên bản (có thể bị ghép tội hủ hóa) thì tôi chẳng còn mặt mũi nào làm việc
ở xã này thêm một ngày nào nữa. Nhưng điều tai hại nhất là để lại tai tiếng cho
H’Lem. Trước mặt chính quyền xã cô phải giải thích sao cho xuôi, và nhất là sự
xấu hổ khi cô bé phải đối diện với phong tục tập quán của bản làng. Lệ làng lắm
lúc nặng nề gấp nghìn lần hình phạt của luật pháp. Làm sao tôi gỡ tai tiếng cho
H’Lem đây.
Tôi vội vặn nhỏ ngọn đèn dầu. Bước
chân xôn xao tiến đến gần, tiếng xì xào nói chuyện nghe rõ dần. Nhìn quanh bốn
bức vách bằng tranh, tôi chợt run lên. Vách tranh mỏng, người tò mò chỉ cần khều
khều lớp rạ là đủ thấy cảnh vật trong nhà. Bọn du kích biết căn nhà này của
H’Lem, nếu một đứa đứng lại chòng ghẹo cô bé cũng đủ nguy. Hình như H’Lem cũng
nhận ra sư nguy hiểm cận kề, cô bé giật tay tôi:
– Tắt đèn… anh, tắt đèn…
Tôi che tay, thổi phụt ngọn đèn. Căn
nhà chìm hẳn trong bóng đêm. Bọn du kích bước đến ngang nhà. Một đứa nghịch
ngợm cất tiếng gọi tên cô bé. Bàn tay H’Lem lạnh ngắt, run bần bật, không hiểu
vì sợ hay vì cơn sốt. Tim tôi đập thình thịch. Cả hai nín thở, chờ đợi. Gọi mãi
không thấy ai lên tiếng, toán du kích phá lên cười hô hố rồi bỏ đi. Tiếng chân
xa dần rồi mất hẳn.
Tôi hoàn hồn. Bàn tay của H’Lem vẫn
giữ chặt cánh tay tôi. Cô bé vẫn chưa hết sợ. Bóng tối dày đặc như hũ nút. Có
tiếng thạch sùng tặc lưỡi đâu đó trên mái nhà. Tôi nghe ngóng thêm một lúc nữa.
Tất cả yên ắng trở lại. Cảnh vật chìm dần vào giấc ngủ nửa khuya về sáng. Khi
biết chắc chắn sự nguy hiểm đã qua, tôi gỡ nhẹ bàn tay cô bé, nói nhỏ:
– Để anh thắp đèn.
H’Lem giữ chặt tay tôi:
– Đừng anh… đừng… nó trở lại…
H’Lem lo xa, và tôi thấy không hẳn
là vô lý. Sự nguy hiểm vẫn rình rập chúng tôi. Nỗi lo sợ bị bắt quả tang còn
vương trong tâm trí. Tôi ngồi yên trong bóng đêm lâu lắm, nghe bước thời gian
hình như chậm lại, uể oải, mệt nhoài sau cơn căng thẳng của đầu óc. Cả hai im
lặng đồng lõa trong bóng đêm quyến rũ. Hình như chúng tôi cố tìm đọc ý nghĩ của
nhau. Anh đang nghĩ gì về em, và không biết em đang muốn gì nơi tôi. Chỗ tôi
ngồi ngang tầm ngực của H’Lem, nghe rõ hơi thở phập phồng của nàng. Tôi linh
cảm một cái gì đó mới mẻ, lớn lao đang sửa soạn xảy ra. Đêm mệt mỏi trôi nhưng
ướt át đợi chờ. Thời gian cũng kiên nhẫn đợi. Tôi cũng thế, trong tôi đang chờ
một điều gì đó sẽ xảy ra, và chắc chắn sắp xảy ra.
Chung quanh tôi là một màu đen đặc
quánh. Thị giác mù lòa, nhưng tôi vẫn cảm nhận được mùi hương da thịt quyện lẫn
với hương đêm nồng khứu giác. Người tôi chồm về phía trước, mặt suýt chạm vào
bộ ngực căng tròn của H’Lem. Bóng tối xúi dục, đầy cám dỗ. Đầu óc tôi chợt nhen
nhúm một ý nghĩ tội lỗi chiếm đoạt. Lúc nãy, tim tôi đập thình thịch vì sự nguy
hiểm, bây giờ con tim lại rộn rã trong lồng ngực. Trong bóng đêm, tôi cúi mặt
sát vào thân hình nóng sốt của H’Lem. Hơi thở của H’Lem bỗng trở nên gấp gáp,
đứt quãng như lực sĩ chạy đua gần đến đích. Bàn tay của nàng bấu chặt cánh tay
tôi, siết nhả theo từng hơi thở dồn dập. Năm ngón tay thuôn thuôn bỗng trở nên
mạnh mẽ lạ thường, cắm phập vào cánh tay tôi như móng vuốt của loài thú dữ giữ
chặt con mồi. Tôi không sao cựa mình thoát ra được. Sức lực của cô gái mười sáu
không thua gì sức bẻ gãy sừng trâu. Cánh tay tôi đau buốt. Một cơn đau dịu
dàng, phấn kích.
Đột nhiên, tôi nghe tiếng H’Lem rót
nhẹ vào tai:
– Anh… anh…
Giọng nàng ướt sũng như ánh trăng
vàng dẻo quánh trong đêm rằm. Tim tôi đập nhanh như trống thúc quân. Người tôi
rạo rực hơn bao giờ. Đang luống cuống chưa biết phản ứng thế nào thì H’Lem cầm
bàn tay tôi đặt nhẹ lên ngực nàng. Tôi thở hắt ra như bị hụt nhịp tim. Hít vào
một hơi thật đầy, tôi lụp chụp úp bàn tay lên hai quả đồi vun đầy nhọn hoắt.
Bầu ngực săn cứng dưới làn vải mỏng. Không hiểu sao đêm hôm đó, tôi lóng cóng
như một cậu con trai mới lớn, lần đầu tiên khai phá vùng đất cấm. Tôi ngơ ngác,
vụng về, hoàn toàn ở thế thụ động. Bất chợt, sự ham muốn của thân xác sung mãn
ở lứa tuổi thanh niên trỗi dậy như nước lũ từ thượng nguồn đổ ào ạt xuống đồng
bằng, cuốn trôi hết mọi đạo lý thường tình. Giọng H’Lem nhừa nhựa trong đêm
vắng:
– Nằm… nằm…với em…
Giọng nói nhẹ như tơ của H’Lem đêm
hôm đó vừa tha thiết, vừa cứng rắn như lệnh truyền. Tôi nghe một chút nài van,
nhưng ngầm chứa ma lực của một nữ thần sơn cước. Đầu óc tôi ngầy ngật, lâng
lâng như đang trong cơn say. Bàn tay H’Lem kéo chúi thân hình tôi về phía nàng.
Lý trí không đủ sức cưỡng lại sự mê hoặc của một thân hình trắng nõn. Tôi nghe
tiếng sột soạt trở mình. Mắt đã quen với bóng tối, tôi lờ mờ thấy H’Lem nằm sát
vào một bên giường, đủ chỗ cho tôi nằm nghiêng ngắm nhìn khuôn mặt nàng trong
bóng đêm.
Trong một thoáng, đầu óc tôi đủ tỉnh
táo để nghĩ đến một tương lai mà tôi đang mơ ước, những dự định của tôi phải
thực hiện. Tôi khẽ rùng mình nghĩ đến sự huyền bí của núi rừng tây nguyên, của
bùa ngải, thư ếm… những điều ma quái tôi biết được qua báo chí, sách vở mà khoa
học không giải thích được. Chuyện kể về một người miền xuôi lỡ lời hứa với một
cô gái Thượng bị thư ếm vật lạ trong bụng. Bùa ngải cũng có quyền lực riêng, đủ
sai khiến, và hành hạ nạn nhân đến chết. Ma xó, người dân tộc thường nuôi trong
nhà để bảo vệ và trả thù, nếu cần. Những quyền lực vô hình nhưng đầy uy lực.
Từng ấy ý nghĩ quay cuồng trong đầu với một tốc độ chóng mặt. Tôi choáng váng
như vừa trải qua cuộc giải phẫu với liều thuốc mê quá mạnh. Thời gian chỉ mất
vài giây đủ cho tôi ôn lại những ý nghĩ và đủ nghị lực cưỡng lại được ma lực
của xác thịt.
Tôi ngã chúi theo sức kéo của H’Lem
nhưng không nằm xoài bên cạnh nàng. Ôm lấy khuôn mặt H’Lem, tôi nói nhỏ vào tai
nàng:
– Chật lắm, không đủ anh và em nằm.
H’Lem thở hắt một hơi dài, vội nhả
cánh tay tôi. Loài dã thú đã thu móng vuốt, trả tự do cho con mồi thoát thân.
Nàng sửa lại thế nằm, lặng lẽ quay mặt vào vách. Căn nhà lại chìm vào yên lặng.
Lòng tôi nguội dần theo cơn gió đông thổi lạnh lùng qua tấm cửa liếp. Không
biết H’Lem ngượng hay giận dỗi, tôi vỗ về:
– Em ngủ đi. Anh ngồi đây với em.
Không thèm trả lời, H’Lem kéo vội
tấm khăn đắp lên người. Cuối chân giường, tấm chăn bông xếp ngay ngắn. Tôi xũ
ra, đắp thêm lên người cô bé. H’Lem để yên, không nói gì. Tôi ngồi xuống, suy
nghĩ mông lung. Quá mệt mỏi, tôi ngủ gà ngủ gật trên ghế mãi đến gần sáng. Tôi
choàng tỉnh khi nghe tiếng gà gáy. Nhìn ra ngoài, trời còn tờ mờ chưa đủ rõ mặt
người. Tôi rón rén đứng dậy. H’Lem vẫn còn ngủ say, hơi thở đều đặn. Tôi lặng
lẽ bước ra cửa, về nhà.
Sau này, mỗi khi nhớ lại đêm da thịt
đầy cám dỗ đấy, tôi biết nếu tôi không cưỡng lại được ma lực và nằm xuống bên
cạnh H’Lem, chắc chắn mơ ước của tôi cũng nằm lại nơi đất khách. Tôi không dám
nói tương lai bị chôn vùi nhưng tôi biết tôi phải nhận trách nhiệm của sự buông
thả quá trớn, chưa kể ma thuật huyền bí của người dân tộc… tất cả đủ để cầm giữ
tôi lại mảnh đất đó, mãi mãi. Một lần vượt được cơn cám dỗ, tôi về lại đồng
bằng và cũng vượt được cơn sóng dữ của biển cả trùng khơi, bắt đầu cuộc sống
mới nơi xứ người, đạt được ước mơ đã nhen nhúm từ lúc ngộ ra bản chất của một
xã hội giáo điều.
Cả mấy tuần sau, H’Lem tránh mặt
tôi. Ghé ngang trụ sở xã, nhìn qua trường, giọng cô bé vẫn ngân nga trộn lẫn
với tiếng nghêu ngao của bầy con nít. Tôi tránh bước đến cửa lớp. Phân vân
không biết có nên đến nhà thủ thỉ với H’Lem đôi lời chăng. Suy đi nghĩ lại, tôi
không dám, sợ sẽ lún sâu vào chuyện tình đã thấy trước sự chia ly.
Thật may mắn, chỉ hơn tháng sau, tôi
được lệnh đổi đi ngân hàng huyện Thuần Mẫn. Đây là huyện mới sáp nhập, nằm sát
biên giới cao nguyên Gia Lai, KonTum. Trước ngày đi, tôi ghé nhà H’Lem báo cho nàng
biết. Đôi mắt H’Lem thất thần:
– Anh đi xa?
– Ừ, có giấy chuyển công tác đây.
– Khi nào anh về?
– Không biết nữa. Huyện mới nhiều
việc. Anh sợ bận rộn lâu mới về thăm em được.
Cô bé nghe tiếng được tiếng mất,
chẳng biết có hiểu ý tôi không. Giọng H’Lem sũng buồn:
– Anh nhớ về… đến nhà em.
Tôi vội hứa cho cô bé yên lòng:
– Khi nào về Hà Lan, anh sẽ ghé thăm
H’Lem.
Không ngờ đó là lần cuối tôi nói
chuyện với cô bé. Ngày đầu gặp gỡ trong niềm vui. Ngày cuối cùng gặp mặt trong
nỗi buồn chia tay. Tôi phải dứt khoát với lòng mình, tránh bịn rịn chỉ thêm khổ
về sau, vì chuyện tình chẳng đi đến đâu. Tôi phải bỏ mảnh đất này, phải ra đi,
và quyết chí không để một vài thứ tình cảm vụn vặt làm cản trở ước mơ. Tôi nghĩ
thầm, giá tôi nhận H’Lem làm em gái thì hay hơn.
Làm việc tại huyện Thuần Mẫn chừng
vài tháng thì được tin của cha mẹ tôi. Thư gửi qua bưu điện, với mật ngữ ngày
tháng sẽ đi thăm bà dì ở Cam ranh. Trước ngày giờ định mệnh, tôi khoác túi vải
lên vai, cầm giấy phép đi đường đã được cạo sửa tinh vi, đón chuyến xe đò chạy
ngang Thuần Mẫn về thị xã Ban mê thuột, rồi từ đó về lại đồng bằng. Tôi ra đi
không ngoảnh mặt lại.
Xe đò chạy ngang Hà Lan, tôi nhìn
con đường đỏ quạnh dài hun hút dẫn đến bản làng mịt mờ trong tầm mắt, và hình
dung một H’Lem nhỏ nhắn, làn da trắng hồng, vẫn xinh tươi, sống động bên bầy
trẻ thơ. Một cô bé tập tễnh làm quen với văn hóa Kinh, và đã có lần tôi rón rén
bước vào làm quen trái tim cô. Tôi thầm gửi lời chào vĩnh biệt H’Lem theo gió,
và chợt quên đi lời hứa đến nhà thăm hỏi cô khi có dịp trở lại Hà Lan.
Ngồi trên chuyến xe đò rời vùng đất
đỏ vào buổi sáng hôm ấy, tôi cố quên đi tất cả, chỉ giữ lại trong tôi một
thoáng tình.
Hải Ngữ
