
Người bạn giáo chức một thời xa xưa từ Canada ghé thăm ngôi
nhà lạc lỏng của chúng tôi trên vùng sa mạc mà không phải bạn bè nào cũng bỏ
công tìm tới. Hữu bằng tự viễn
phương lai, bất diệc lạc hồ? Dĩ nhiên là vui. Chuyện trò lan man
đầu Ngô mình Sở cuối cùng người bạn ngỏ ý muốn giới thiệu con đường nghệ thuật
mà anh đương đi mấy chục năm nay, có thể là đã nửa thế kỷ, nghệ thuật mới Thư-Ảnh, với giới
thưởng ngoạn nơi thủ đô tỵ nạn Việt Nam của nước Mỹ.
Ờ thì con đường mới nào lại chẳng chông gai, Robert Frost nói có hai con đường,
con đường lạ chưa ai đi là con đường chông gai, đơn độc nhưng đặc biệt với
những khám phá và kỳ bí, bước vô lối mòn thì là chuyện thường tình. Tôi lờ mờ
hiểu Thư-Ảnh là sự kết hợp giữa Thi Ca và Ảnh chụp nghệ thuật. Kết hợp hai thể
loại khác nhau để tạo nên một thể loại mới nhiều tính chất nghệ thuật hơn. Như
hiện nay người ta thường kết hợp bài hát với những hình ảnh minh họa, thường là
phong cảnh đồng quê, thiếu nữ hay một vài sinh hoạt để bài ca bắt tai bắt mắt
hơn. Tôi nhớ tới những bức tranh Tàu bên góc trái thường có lạc khoản để đề
ngày tháng nhưng họa sĩ thường thêm khi thì bài thơ, khi thì vài ba câu cảm
khái. Nhưng đó không phải là sự kết hợp Thư-Ảnh, bức họa có thể thay thế
Ảnh nhưng lạc khoản quá nhỏ nhoi và không có mục đích nghệ thuật trong cách
viết, không thể đại diện cho Thi, càng không đại diện cho Thư, vốn là Thi nhưng
nét bút bay bướm, vũ lộng tài năng vẽ chữ của người viết. Nhìn bức tranh với
lạc khoản dù lớn cách mấy ta thấy chỉ một mặt: Bức họa mà thôi, phần chữ viết,
thi ca bị chìm khuất.
Người nghệ sĩ ngồi trước mặt tôi nhỏ nhẹ giải bày đại ý là
mình phối hợp hai thứ nghệ thuật: Ảnh chụp và Thi Ca, không có thứ nào trội bật
hơn thứ nào, chúng ‘hòa điệu sống’
để thoát ra khỏi chính mình và tạo nên một tác phẩm mới. Nhưng điều quan trọng
là Thi Ca phù hợp với đề tài của bức ảnh đã đành, Thi ca phải được viết bằng cả
một nghệ thuật, kể cả lựa chỗ trên bức ảnh chớ không ở góc trái trên cùng như
tranh Tàu.
Tôi nói cho vui khi hình ảnh chợt bùng lên trong trí: Hình
như anh muốn tạo một ly cà phê sữa ngon lành từ hai thứ có sẵn là cà phê và
sữa.

Vâng, có thể nói như vậy cho dễ hiểu. Tác phẩm mới được ưa
chuộng nếu sự pha trộn theo liều lượng nào đó mà hương vị thành phần vẫn
còn trong khi tạo ra sản phẩm đặc trưng mới. Ngó
xuống một vài bức ảnh anh giở ra trước mặt chúng tôi nãy giờ tôi chú ý đến bức
Thư-Ảnh ‘Ngày Sau Sỏi đá cũng cần
có nhau’, câu trích trong bài ca của nhạc sĩ họ Trịnh. Người nghệ
sĩ chắc đã bỏ nhiều tâm huyết khi thực hiện: Bức Ảnh nằm trong khung trái tim,
trái tim lại nằm trong cái thế nghiêng như khi ở trong lồng ngực. Và sỏi đá
chung quanh tranh. Và sỏi đá nhiều cặp trong hình. Và sỏi đá nhìn chung có
đường rãnh phân cách như sự cãi cọ giận dỗi của bất kỳ cặp tình nhân nào. Nhưng
rồi xa xa kia là đôi vợ chồng. Nghiêng dựa nhau. Quàng vai nhau. Cùng có nhau.
Con người cũng như sỏi đá.
Có một sự lựa chọn tính toán từng chi tiết, không có sự
ngẫu nhiên. Thư thì được đặt ở vị thế dễ thấy, không luốt so với toàn tác phẩm.
Một bức khác: Hình bàn tay xoay trái đánh rơi đóa hoa
hồng đẹp tươi, trong tay chỉ còn lại một bông hoa tàn héo. Câu thơ đi theo là
câu nổi tiếng của nữ sĩ Tuệ Mai, ái nữ của nhà thơ Trần Tuấn Khải: Như có tay mà không rành bắt giữ, nên phần
riêng cũng tuột khỏi tay mình. Một lời than về thân phận, về khả
năng về định mạng đem đến thiệt thòi cho người thơ. Những gì đẹp sang, cao quý
rời khỏi tay đi về đâu không biết, còn trong tay thi sĩ là sự héo úa, tàn tạ
của nghèo khó cô đơn.
Người nghệ sĩ Tăng Hưng đã làm cho hai câu thơ rõ nghĩa
hơn. Tạo thêm tính cách bi đát vốn hàm chứa trong đó. Tôi nói với mình: Tác
dụng của Thư-Ảnh là đây: Người thực hiện hiểu câu thơ thế nào thì diễn tả cụ
thể, một cách giải thích, bằng hình chụp, có thể là tự nhiên như trường hợp
trước, có thể là dàn dựng như trường hợp sau. Và như vậy người đọc câu thơ sẽ
thấu đáo hơn.

Những trường hợp tương tợ như bức Nắng Sàigòn anh đi mà chợt mát,
với câu thơ của Nguyên Sa, hay bức Nhớ em tóc xõa bờ vai, Nửa đêm da thịt quên cài áo khuya,
với câu thơ của Hoàng Trúc Ly. Một là tự nhiên một là dàn dựng.

Nhìn chữ viết, tôi nhớ tới những bức thư pháp tiếng Việt
của Thi sĩ Đông Hồ treo ở nhà sách Yiểm Yiểm Thư Trang trên đường
Kitchener đầu thập niên 50 độ nào mà tôi rất nhiều lần khi tan giờ học, băng
qua đường, vô mua sách vở thì ít mà ngắm nghía thưởng ngoạn thì nhiều. Tôi gọi
đó là thư pháp Đông Hồ. Loại chữ viết ngó vô là biết nét chữ Đông Hồ, cao ốm thon thon của nét xuống
chữ g, chữ y, của nét lên chữ h, chữ l. Để cho nét thư pháp của mình đặc biệt
hơn, thi sĩ Đông Hồ đã cho những nét cong của chữ n, d, h, a, đ được kéo xuống nhiều,
và ngòi bút lông được điều khiển sao chữ đều đặn mà như bay nhảy.
Phân tích sự yêu chuộng trong nét thư pháp Việt, chắc ai cũng
đồng ý co sóụ hiện diện của đặc tính tính thanh thoát, dễ đọc, không cầu kỳ để
người xem phải bóp trán giải bài toán tích phân cao cấp. Tôi cho rằng người
viết thư pháp Vũ Hối, cũng đạt được điều nầy. Những ‘thư pháp gia’ lề đường Sàigòn
trong những ngày giáp Tết thường trọng về tính chất bay bướm, đố chữ
tạo được sự ưa thích của người mua chữ bằng sự hiếu kỳ, nhưng hiếu kỳ của người
mua là yếu tố nằm ngoài nét chữ không tạo nên nghệ thuật bên trong nét chữ.
Ờ mà sao thư pháp Đông Hồ lại tái hiện trong Thư-Ảnh của
Tăng Hưng? Nghệ nhân thú nhận rằng mình thích cách viết của thầy Đông Hồ, nên
khi học với thầy ở chứng chỉ Văn Chương Quốc Âm tại trường Đại Học Văn Khoa
Sàigòn, đã mon men nhờ thầy chỉ dẫn trong khi đó mình đã có tay nghề khá vững
về bộ môn nhiếp ảnh rồi. Thầy đã vui lòng chỉ cách cầm bút lông và nhấn
mạnh trên việc tạo chữ hình lá trúc. Trong nhiều sinh viên nghe giảng hôm đó,
Tăng Hưng là một trong số rất ít người sau đấy mần mò tới tư gia thầy ở khu chợ
Tân Định để học thêm và phát triển kết hợp thư pháp Đông Hồ
với ảnh của Tăng Hưng.
Tôi cười vui trong lòng. Vậy thì thi sĩ Đông Hồ đã để lại
cái bóng của mình dầu đã quy tiên từ lâu. Trong bao nhiêu người sinh viên ngồi
ở giảng đường trường Đại học Văn Khoa nghe ông giảng về Văn Học Hà Tiên, có bao
nhiêu người nhớ, nhưng vài phút giảng về thư pháp của mình thi sĩ đã để lại
được một truyền nhân, đã mở đầu cho một nghệ thuật mới. Có thể nghệ thuật nầy
phát triển vút cánh bay cao với những tác phẩm lẫy lừng của nhiếp ảnh gia tài
ba có thêm tay nghề thư pháp. Có thể môn nầy sẽ không tồn tại vì lý do nầy
khác. Biết đâu? Ai nắm bắt được tương lai?
Hỏi thêm về kinh nghiệm làm việc và những khó khăn gì khi
gặp phải, nghệ nhân Tăng Hưng nói giọng hiền lành cố hữu của người thầy giáo
nay đã tới tuổi tám mươi: Có hai trường hợp: Hình chụp được rồi đi tìm thơ,
nghĩa là khi chụp được một số hình ảnh đẹp đắc ý thì sau đó phải cố lục lọi tìm
thơ thích hợp để đưa vào.
(Chụp hoa súng có chuồn chuồn đậu, tìm mãi mới được câu ca
dao miền Nam tương ứng. Chụp cảnh Sông Hương Núi Ngự có con thuyền, nghĩ mấy
tháng mới đưa được câu thơ của Hàn Mặc Tử vô. Chụp phong cảnh biển, phong
cảnh núi có dòng suối chảy, sau đó mới tìm được câu thơ… (ảnh số 21, Sóng
biển, ảnh số 19, Buồn Trông, ảnh số 23 Tống Biệt.. ).
Ngược lại, thấy câu thơ bài thơ hay ho của ai đó, mình đắc
ý thì phải cố gắng săn tìm, chụp thật nhiều ảnh, chọn lựa đến khi vừa ý
mới đưa thơ vào (số 13, Áo Trắng Bay v.v… )
Về ảnh chân dung, dành thực hiện cho người nào đó, phải có
ảnh thật của nhân vật,
phải tham khảo kỷ lưỡng tiểu sử, cuộc đời, sự nghiệp (liên
quan đến lãnh vực văn hóa nghệ thuật.. ) rồi chọn lọc, tìm kiếm những gì tiêu
biểu của riêng người đó để ghép vào ảnh, cho thấy tính cách nổi bật của nhân
vật đó. (các bức về Đông Hồ, Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư…)
Thấy cuộc đời có những điều ngộ nghĩnh, tôi nói với bạn làm
vui. ‘Không được hân hạnh học với thi sĩ Đông Hồ, nhưng khi tôi về trường thì
quyết định dạy môn Văn học Miền Nam như môn dạy của ông trước đấy. Như vậy thì,
nói theo cách nào đó, mình và bạn cũng là cái bóng của thi sĩ Đông Hồ vì đã
bước theo chân ông, dầu chỉ là một phần nhỏ…
Nguyễn Văn Sâm
(Victorville, CA, May 03, 2017)