Thành phố này đông người
Việt cư ngụ, vì thế có đền Thánh Mẫu thờ Bà Chúa
Liễu Hạnh làm tại tư gia của người “giữ đền,” để phục
vụ nhu cầu tâm linh của người Việt thế hệ thứ nhất.
Thời điểm này, khỏang Tết Ta, là lúc
mẹ tôi hay bảo tôi đưa bà đi đền Thánh
Mẫu, để bà “cắt sao” cho gia đình. Thời điểm tháng
3, đầu mùa xuân, là lúc đại học có “Spring
Break,” và tôi được nghỉ dạy, vì thế tôi nghiễm
nhiên trở thành người con đưa mẹ đi “cắt sao.”
(Từ nhỏ đến lớn tôi vẫn giữ nhiệm vụ chở mẹ đi
công việc hay thăm viếng. Ở Saigon trước 75 tôi chở mẹ bằng
xe Honda PC, qua Mỹ thay thế bằng xe hơi.)
Mẹ tôi
là phụ nữ có học, đã từng làm cô giáo. Nhưng
trải qua bao thảm cảnh ở đời, bà đâm ra mê tín như bao
mẹ già Việt Nam khác. Nếu “tuổi” các con
bà có hạn sao xấu, thì bà thành khẩn vào đền cầu an
và gieo quẻ, nhằm cắt bỏ ảnh hưởng những ngôi sao
xấu để bảo vệ người thân. Niềm tin ấy dựa trên
một vũ trụ thiêng liêng, có sự liên đới giữa các ngôi
sao với tính mạng và số kiếp con người, chỉ giải thoát được
bằng sự cầu khẩn với tất cả lòng thành và tình thương bao la,
nhằm thay đổi được tiền định huyền bí ấy.
Tin hay không tin, khoa học vẫn chưa
cắt nghĩa được thế giới huyền bí, vì thế tôi kiên nhẫn ngồi
trước bàn thờ bà chúa lên đồng để cắt sao cho
gia đình như mẹ muốn. Có lúc ngồi cả buổi tối
gieo quẻ vẫn chưa cắt được hết các sao xấu. Mẹ tôi buồn rầu,
thở vắn than dài. Nhưng nếu tiếp tục gieo quẻ và cầu xin
thì trước sau gì quẻ cũng hiện ra (theo xác
suất) để trừ khử đi những ngôi sao xấu.
Mẹ tôi không những cắt sao cho
gia đình, mà bà còn nhận lời gửi gắm cắt sao luôn cho bạn
bè và người quen. Bà cắt luôn cho người dưng nước
lả. Đã có lần tôi phải gắt lên, vì làm sao tôi có đủ thời
giờ ngồi lây lất ở đền cho bà cắt sao, hay tự tôi phải
ngồi cắt sao để phụ giúp bà.
Khi tất cả các sao
xấu đã bị trục xuất, mẹ tôi hỷ hả ra
về thì trời đã tối đen.
Chưa hết, tôi còn phải nhận
“lộc” ở đền Thánh, thường thường là xôi, chuối và các
thứ hoa quả khác. Tôi lãnh nhiệm vụ đậu xe, rồi dắt mẹ đi
bộ trong đêm (không khôn ngoan chút nào về an
ninh ở Mỹ, nhưng mẹ tôi muốn như thế). Hai
mẹ con đem thả trôi sông các “lộc Thánh” cho các
cô hồn khắp thập phương ăn nhờ chút “lộc”.
Ở trung tâm
thị tứ nước Mỹ làm gì có sông, cho nên mẹ tôi
hướng dẫn tôi lái xe đến con rạch hệ thống thải nước của thành phố.
Tôi nghe lời mẹ len lén trốn cảnh sát, đậu
xe ở đầu đường, rồi trong bóng đêm, hai mẹ con
tôi đứng trên cầu con rạch, thảy “lộc” xuống nước để chia
xẻ cho các cô hồn không nhà không cửa, không người thờ cúng.
Đó là thủ tục cắt sao đầu
năm. Sao La Hầu, Sao Kế Đô, vân vân và vân vân, những sao xấu
sẽ bị cắt, cho con cháu và người quen của
bà được an tòan hạnh phúc.
Quá nửa đêm trời tối mịt hai
mẹ con mới về đến nhà. Sau đó tôi lại phải
về nhà riêng. Công cuộc cắt sao là cả một
vấn đề tốn thì giờ và lao lực.
Việc cắt sao đem đến cho
mẹ tôi sự an tòan về tâm lý trước những nghịch cảnh
trớ trêu. Cho nên tôi lấy sức khỏe tinh thần của
mẹ làm điều an ủi khi phải ngồi trong hương khói lên đồng,
mà gieo quẻ cắt sao phụ mẹ. Rồi lại phải cúng tiền cho đền
Thánh nữa chứ.
Để khỏi tức bực phải trốn cảnh
sát đi đổ “lộc” xuống rạch nước cho mẹ tôi vui lòng, tôi
ngước mắt nhìn bầu trời tối đen để ví von độc thoại với
những vì sao lấp lánh. Tâm hồn nghệ sĩ giàu tưởng
tượng của tôi cho tôi mường tượng thấy hình ảnh
mẹ tôi – một bà già yếu đuối nhỏ bé nhiều
bệnh tật, xanh xao, với đôi mắt hiền từ và nụ cười thân
thiện, mò mẫm trong bóng đêm giữa một vũ trụ hằng
hà sa số, rón rén đến gõ cửa những ngôi sao xấu, đem lòng
thương yêu mà cầu xin cho các ngôi sao đó bỏ đi không còn
chiếu mạng con cháu hay người quen của mình.
Mẹ tôi là người đi tìm, đi đuổi, đi trừ sao
xấu trong vũ trụ của màn đêm, cùng với Bà Chúa Liễu
Hạnh đã “vượt biên” qua
Mỹ trụ trì ở đền Thánh “dã chiến,” và người
lên đồng là tác nhân – cái gạch nối — giữa
vụ trụ siêu hình đó với trái tim người mẹ nhân ái
của tôi. Bà Chúa Liễu Hạnh sẽ là Thánh mang những lời cầu
khẩn của mẹ tôi chỉ đường chỉ lối cho mẹ tôi đến tìm
sao trong cái vũ trụ huyền bí kia …
May mắn hay kém may mắn, tôi
là đứa con gái đầu lòng, được đi cắt sao với mẹ lần
cuối cùng. Đó là năm ngóai, khi mẹ tôi chưa gặp nạn, vẫn còn
khỏe đủ để đi đứng bình thường. Không có năm nào
mẹ tôi quên đi cắt sao cho con cháu và người quen…
Khoảng bốn tháng sau lần cắt
sao cuối cùng thì mẹ tôi bị xuất huyết trong não…
Bây giờ, tôi
e rằng mẹ tôi sẽ chẳng bao giờ khỏe đủ để đi cắt
sao ở đền Thánh với tôi nữa.
Nước mắt tôi lưng tròng mà nghĩ về những
kỷ niệm với mẹ của quá khứ. Cách đây trên 40 năm, cũng vào
dịp lễ Tết, ở Sài Gòn, tôi
chở mẹ tôi đi xem ciné “The Sound of Music” ở rạp
Rex
và sau đó là “Toute
La Vie Danse” … Tiếng hát của Julie Andrew và đại sảnh của giới
quý tộc thành phố Vienna nhảy luân vũ (điệu valse) lúc ấy
trở thành thần tượng và mơ ước của
tôi. (Mãi đến năm 28 tuổi, tôi mới có đủ cơ hội học
hỏi để biết rằng nếu theo nghề ca hát, thì tôi cũng leo
lên được nấc thang cao nhất cuả âm thanh, độ cao âm nhạc cuối
cùng cho giọng nữ, như Andrew; và năm 40 tuổi, thì tôi mới
có dịp đi dự cuộc nhảy valse của giới quý tộc thành
phố Vienna, nhưng lại từ chối không đi.)
Tôi chưa được nói với mẹ tôi điều này: Thật
ra, Andrew hát nhạc thời trang bằng giọng nữ trung
(mezzo-soprano), thành ra nốt cao nhất cuả bà mà quần chúng biết đến
thường thường là note DO, C-6 (high C), trong
khi các sopranos cuả sân khấu opera có người
đạt đến mức tuyệt đỉnh cuả giọng nữ, ở note
Fa bên phải cuả phím trắng dương cầm, mà các nhà kỹ thuật gọi
là F6). Không phải là ca sĩ chuyên nghiệp, tôi cũng đã đẩy
mình đi lên đến độ cao cuả C6, nhưng ngay
cả giấc mộng Hoa Kỳ (The American Dream) cũng không cho tôi cơ hội mơ tưởng đến F6. Riêng về khung cảnh
sàn nhảy luân vũ của Vienna (chỉ tổ chức một năm một lần),
thì tôi cũng chẳng còn hứng thú, vì trong tầm tay hạn hẹp,
tôi không tìm đâu ra đối tác.
Bốn mươi năm trôi
qua ở Mỹ, tôi đã quên không nói chuyện với mẹ tôi
về những gì đã xẩy ra cho mơ mộng đầu đời – điệu
luân vũ của Vienna va giọng hát của Julie Andrew, mà chính
mẹ tôi là người đã vun xới trong đầu óc của tôi
những ngày tấm bé… Bà đã trồng cho tôi cái mầm để tôi leo dốc
thang âm, đến một nơi chốn không còn thực thể — ở đó, tôi hiểu ra rằng giá trị tuyệt đối của cái đẹp
và sự trường tồn của âm nhạc không nằm trong khung cảnh thời thượng
của một buổi khiêu vũ, cho dù đó là buổi khiêu vũ bên bờ sông Danube
của thành phố Vienna, trong thế giới sáng tạo của Johann Strauss…
Tôi mất đi dịp nói chuyện với
bà về khám phá này. Tôi không còn được nghe câu trả lời qua giọng nói trong trẻo của mẹ…
Và bây giờ, thì hình như tất
cả đều đã muộn.
Ở thời điểm này,
tôi đã bỏ nghề nghiệp, bỏ những ước mộng cao
vời, để trở về với mẹ. Chưa kịp cười nói, san
xẻ với mẹ niềm vui, từ mua sắm thường tình cho đến bài hát, câu văn, thì định mệnh
oái ăm và các ngôi sao xấu nào đó trong
vũ trụ đã quyết định không dung tha tấm thân
nhỏ bé và tâm hồn nhạy cảm của mẹ tôi.
Than ôi, số phận …
Hồi tưởng lại năm ngóai khi
mẹ tôi còn khỏe, tôi giật mình nhận ra: Hình như trong những buổi cắt
sao, mẹ tôi quá bận rộn nghĩ đến người mà không cắt sao cho
chính mình thì phải??? Hình ảnh của mẹ tôi làm kẻ độc
hành đi mò mẫm giữa màn đêm huyễn hoặc của vũ trụ bao
la đầy rẫy những vì sao kia — người phụ nữ đi tìm
sao để ngăn chận ảnh huởng các ngôi sao xấu chiếu mạng con cháu
mình, mà chẳng thiết gì đến ngôi sao chiếu mạng chính mình,
là hình ảnh tuyệt vời của kẻ cho đi mà không nhận lại,
với trái tim hy sinh tuyệt đối.
Chao ơi, công việc “cắt
sao”! Màn đêm và vũ trụ các
vì sao, của mẹ tôi!
Những ngày tháng này mẹ tôi
là người liệt giường liệt chiếu. Bà không ăn được bình thường,
và không đi đứng được. Tôi trở thành kẻ hầu
hạ mẹ giỏi hơn người trợ tá được cấp bằng ở các
viện dưỡng lão. Những giấc mộng cao vời và cuộc đời bay nhảy ngày
xưa, bây giờ tôi thu hẹp lại vào đôi mắt xót xa nhìn bờ môi run
run của mẹ khi bà gắng nuốt, và nỗi mừng rỡ khi
bà thải được chất cặn bã ra ngòai với hệ thống tiêu
hóa đã gần như kiệt quệ …
Tôi bắt đầu nằm mơ thấy
bà ngọai, quay trở về đứng bên cạnh
cửa để giúp đỡ tôi, cho mẹ tôi chóng lành. Bà ngọai
sẽ đem đến sự nhiệm mầu của các vì sao tốt
và mẹ tôi sẽ bình phục đi đứng trở lại như xưa. (Bà ngọai tôi qua đời ở Việt Nam, trong cảnh
nghèo đói thiếu ăn, trước khi Việt Nam mở cửa “đổi
mới”, 37 năm trước đây.)
Khi tôi tỉnh dậy
thì hình ảnh bà ngọai biến mất đi, chỉ còn mẹ tôi nằm
cô độc thiêm thiếp trên chiếc giường nhỏ bé.
Mẹ tôi vẫn hiểu, vẫn
cố gắng nói, vẫn cố gắng ăn, thỉnh thỏang bà vẫn cười.
Có lần tôi viết xuống trên trang giấy: Me ráng ăn đi để sống
với con. (Theo phong cách của người Huế ở tỉnh thành, tôi
gọi mẹ bằng “Me,” như chữ “mère”.)
Bà viết xuống câu
trả lời:Ừ!
Tóc bà bạc trắng (tôi đem
cắt ngắn), nét mặt đã đổi vì sự thụt lùi của sức khỏe,
nhưng nước da mịn màng và đôi mắt vẫn long lanh buổi sáng.
Bà đẹp như chưa bao giờ đẹp như thế.
Và tôi bám víu hy vọng vào các nhân viên vật
lý trị liệu cho bà cử động thân thể, dần dần biết
đâu y khoa sẽ cho mẹ tôi hồi lại sức sống bình thường … Nếu
không được 10 phần thì tôi xin Trời Phật cho 4, 5…
Mẹ tôi hay tát vào mặt tôi khi
tôi phải bồng bế bà. Vì bà quá yếu, cái tát của
bà chẳng khác chi lời mắng yêu. Tôi không đủ sức lực hay tầm
vóc để bồng bế mẹ tôi lên như bế em bé cho
bà khỏi phải đau đớn. Tôi chỉ có thể vòng tay kéo
lê hay nhắc bà lên, theo lời y tá chỉ dẫn, cách ấy làm
cho bà ê ẩm bắp thịt và xương cốt. Nhưng đành chịu vậy.
Ngôi sao xấu
nào đó đã chiếu xuống bà? Tôi tự hỏi.
Bà cau mặt lại, không bằng lòng khi
thấy tôi nhỏ nước mắt … Để khỏi buồn thảm, tôi
giả vờ đóng vai Marilyn Monroe cho bà xem, bà lắc đầu
tỏ ý không bằng lòng.
A
kiss on the hand is far too sentimental
But
diamonds are a girl’s best friend…
Bỏ tất cả,
trở về thành phố để được gần mẹ, tôi cứ tưởng mình
sẽ được đem mẹ đi mua kim cương, cho mẹ chút niềm vui vật
chất ở tuổi 80, sau một đời khổ cực, làm vợ một giáo
sư thanh bạch, và làm mẹ một người con gái mang hòai bão
ngoài đời sống bình thường như tôi…
Diamonds
are a girl’s best friend…
Các vì sao trong màn đêm huyễn hoặc,
không phải cái nào cũng là viên kim cương hiền lành sáng long lanh trên
bàn tay những phụ nữ nhiều may mắn hơn
mẹ tôi … Có những vì sao trông thì đẹp nhưng
đầy ác tính, như mảnh lụa bị đốt cháy trở thành ngọn lửa cuồng nộ của một
vũ trụ không công bằng…
Tôi lại miên man tự hỏi: Tại
sao vũ trụ đã thiếu công bằng với người mẹ mang hết lòng
thành đi cắt sao cho các con cháu, và cắt luôn cho tha
nhân đã nhờ vả bà – Vâng, rất nhiều người không
có thì giờ hay…làm biếng nên đã đến nhờ vả lòng thành
của bà – bà sẵn sàng cầu nguyện và cắt sao cho bất cứ ai
cần tấm lòng thành của bà để họa may hóan chuyển định mệnh của
tạo hóa.
Ban ngày mẹ tôi hay
thiếp đi. Tôi phải cố lay bà dậy để nhân viên vật
lý trị liệu tập thể dục, làm bà đau đớn. Bà lại
tát vào má tôi bằng những ngón tay gầy yếu.
Tối đến, sau khi làm
vệ sinh, đo áp huyết, tôi hay nằm bên cạnh bà để cho
mẹ tôi khép mắt ngủ yên. Đây là những dịp hiếm hoi
tôi được ôm thân thể gầy ốm của mẹ. Tôi hay hỏi
bà:
— Me ơi, hai tay của
me đâu???
Mẹ tôi trả lời bằng
sự giao động của những ngón tay …
Mẹ tôi nhắm mắt, nhưng
hai bàn tay gầy yếu của bà mò mẫm nắm giữ lấy tấm chăn.
Bà nắm giữ lấy sự yên bình êm ấm của đời
sống, do tấm chăn mang đến. Thỉnh thỏang bà nắm lấy những ngón tay
của tôi. Tôi tìm tay mẹ dưới tấm chăn.
Khỏang 3 giờ sáng,
mỗi đêm, tôi đều thức dậy để chăm sóc vệ sinh cho
bà. (Đây là tiêu chuẩn của các viện dưỡng lão.)
Đi về phía giường của bà,
có một hôm, đột nhiên tôi rùng mình lạnh buốt …
Tôi thảng thốt nhận ra,
trong ánh đèn lờ mờ, tôi đã bắt gặp ánh mắt nhìn
chăm chú của mẹ tôi. Ánh mắt buồn rầu như muốn nói lên trăm
nghìn chữ mà không nói được. Ánh mắt sâu như màn đêm bên
ngòai.
Tôi run lên, đau đớn suốt thân mình. Me tôi không ngủ được suốt đêm?
Hay bà chỉ mới vừa thức giấc? Bà nghĩ gì? Muốn
gì? Trong màn đêm, tâm hồn và trí nhớ của
bà đã du hành những đâu?
Đây không phải
là màn đêm của những buổi tối đầu năm trong thủ tục cắt sao
khi mẹ con tôi lái xe đi tìm rạch để đổ lộc Thánh cho
cô hồn.
Đây là một màn đêm khác.
Tôi muốn mắt tôi xuyên thủng
màn đêm ấy. Tôi muốn đi vào
bóng đêm ấy để đuổi cho hết những ngôi sao
xấu đã tạo nên nỗi đau thuơng của mẹ. Trời hỡi, làm sao tôi lay
chuyển được, quay ngược được bánh xe của số phận? Chữ hiếu
của Mục Kiền Liên ư? Nhưng mẹ tôi nào phải là người mẹ hung ác
của Mục Kiền Liên?
Ở đây, khép đời sống
còn lại vào chiếc giường sắt chung quanh có “hàng rào” giống như giường
bệnh viện, mẹ tôi có còn đi tìm những vì sao
xấu, để tấm lòng thành đẫy rẫy thương yêu của bà tìm cách
ngăn chận ảnh hưởng của những vì sao ấy, cho người chung quanh?
Nhìn vào mắt bà, tôi thấy hết màn đêm của
bà, trong những ngày tháng này.
Tôi có thấy màn đêm,
mà không hiểu được màn đêm ấy chứa đựng những gì.
Trong màn đêm của những ngày
tháng này, tôi cố gắng mà không thể nào biết thật rõ, hay hiểu
hết được tất cả những ước nguyện, những kỷ niệm hồi tưởng
ngày xưa, hay những ý niệm của tương lai trước mắt, của mẹ tôi…
Màn đêm ấy là một
vũ trụ bí mật, ngòai tầm tay với
hay tri thức của tôi.
Mẹ tôi ở trong
thế giới của riêng mình?
Ôi, màn đêm của
mẹ tôi …
Tôi không có câu trả lời
tại sao — ngôi sao nào đã quá độc ác với người mẹ hiền
lành của tôi, nhưng sáu tháng vừa qua, tôi ở bên mẹ và nhìn
thấy một hình ảnh màn đêm khác, trong thế giới
của riêng mẹ tôi, với sự thóai
hóa sức khỏe và tuổi già của bà.
Thế giới mới của
mẹ tôi, thế giới chật hẹp quay chung quanh giường bệnh.
Mới hay cũ, tôi
cố nhìn màn đêm ấy trong tuyệt vọng. Tôi không còn muốn
tưởng tượng, như đã tưởng tượng ra vũ trụ bao la
trong đó mẹ tôi bước những bước nhẹ nhàng rón rén đi
tìm sao, những lúc tôi đi đổ lộc Thánh xuống con rạch thành
phố để làm vui lòng người mẹ hiền lành, học thức, sâu sắc nhưng
mê tín vì bà đã chịu khổ quá nhiều
trong đời, cho nên cảm thấy bất lực trước số mệnh và phải đi tìm
một thế giới tâm linh ngoài phạm vi minh chứng của khoa học.
Nhưng rút
cục thì tôi vẫn phải đối diện với màn đêm ấy, như chuyến tàu chuyên
chở những hồi tưởng của mẹ tôi.
Bà là giáo sư Việt Văn
và là người rất yêu thơ, mớm cho tôi không biết bao kiến thức văn hóa
và văn học nguồn cội. Bà yêu thuơng cái đẹp của “lối xưa
xe ngựa hồn thu thảo” của “cỏ cây xanh ngắt một màu xinh sao“.
Trong thế giới văn chương của bà, có hình ảnh của
màn đêm. Của ánh trăng. Của thơ văn Hàn Mặc Tử một
ngày “về thăm thôn Vỹ“.
Bà xa xót cái không may của
Thúy Kiều và bà chỉ nổi giận khi có ai khen tặng tôi “tài
sắc.”
Bà thích tôi ca hát
như Jennette McDonald, như Thanh Nga, hơn là cãi vã lý luận
trước tòa án, trong chính trường, chắc
nịch, đanh đá như bà Ngô Đình Nhu.
Mẹ tôi là người con
gái mảnh mai của xứ Thần Kinh, mang theo tâm hồn giàu cảm lụy của xứ Huế và nỗi
buồn ảo não của bà ngọai tôi.
Mẹ tôi tốt với bạn hơn
chính bản thân mình, cho nên ai bà cũng quen biết
như “bà chủ nhật
trình” hay “bà chủ nhà giây thép” (ngôn từ mô
tả những phụ nữ giao tế rộng cuả xứ Huế,
khác hẳn với tôi, rất hài lòng với bản mệnh là sao Vũ Khúc (ngôi sao
chiếu mệnh mang tính cách độc lập của những kẻ thích sống một
mình).
Me tôi lấy chồng người Bắc di cư,
cho nên bà đã mang luôn nỗi buồn xa xứ của bà nội tôi, khi
người phụ nữ gánh gạo trên bờ đê phải rời bỏ ruộng lúa
của đồng bằng sông Hồng vì bản án oan ức của thảm
kịch “đấu tố” năm 1954.
Năm 1975,
mẹ tôi đã phải bỏ cha mẹ ở bên kia bờ đại
dương để theo chồng và các con vượt đường trường khi chiến
tranh chấm dứt. Những ngày giờ của cuộc sống
sau đó là những ngày giờ của nước mắt … Vậy
mà mẹ tôi vẫn cố cười vui với bạn bè bà con. Trong
những ngày tha huơng, bà lấy lòng thuơng yêu người
mẹ chồng đức độ để tự an ủi cho sự trơ trọi
của bản thân bà. Và lấy cái học của các con làm sự thôi thúc của
con đường đi tới trước mặt trong xã hội Mỹ.
Khi mẹ chồng nằm xuống,
mẹ tôi khóc mẹ chồng bằng bài điếu văn của đứa con dâu
có nghĩa và có tài văn học. Ai có lòng và biết
gia đình tôi đều phải sa nước mắt khi đọc bài điếu văn
này. Những ngày
mẹ tôi liệt giường liệt chiếu, tôi thu dọn phòng bà, và góp nhặt những tờ giấy rời, trong đó có bài điếu văn này: mẹ tôi viết cho
bà nội của tôi. Mẹ tôi, người con dâu làm nghề dạy
học, đã ghi lại thành văn những lời bà nội tôi hay nói khi bà còn sống. Tôi giật mình tìm thấy căn
bản đạo đức cho cả một văn hóa tha hương, nằm ngay trong lời nói
giản dị của người mẹ già đã từng gánh gạo
trên bờ đê Việt Bắc ngày xưa, rồi mất tất cả và bà gánh nước trên
hè phố Sài Gòn để nuôi đàn con đi học, những ngày đầu mới di cư vào
Nam:
“Mẹ ơi, lưu lạc
xứ người có bát cơm đầy nuôi thân là nhờ đức mẹ.
Đàn cháu thành người hữu dụng nơi
xứ người, là nhờ lộc bà…
Lời mẹ dạy:
“Giúp người ta, cho người ta, kẻo phải tội!” Vâng, nếu không giúp người,, tức
là có tội với trời.
Lời mẹ nói
về việc trông nom đàn cháu: Có hoa mừng hoa,
có nụ mừng nụ.” Vâng, nuôi dạy và lo cho con cháu bất
kể thân mình, đó là nhiệm vụ của
mẹ già như kẻ làm vườn: mừng hoa, mừng nụ của
trời đất ban cho…”
Khi mường tượng rằng tôi gặp việc bất như ý trên đường công danh,
không vui hay nản chí, mẹ tôi luôn nói:
–Con ơi, “mấy
kẻ biết anh hùng khi vị ngộ?”
Câu thơ Nguyễn Công
Trứ mà bà đã giảng trong lớp học ở Việt Nam
trở thành phương châm cho con gái bà. Tôi mang câu thơ ấy và lời
nói dịu dàng của mẹ để tiếp tục bắt đầu trở lại sau những
lần bỏ dở con đường công danh. Và tôi chua chát hiểu ra rằng,
hình như anh hùng chỉ có thật ở cõi
đời này khi họ còn… vị ngộ!
Để tránh cho bà sự lo
nghĩ và để…tiết kiệm thì giờ giải thích, tôi bắt buộc không
cho phép mình tâm sự nhiều với mẹ.
Trong kiếp di dân ở Mỹ,
sự xa cách giữa tôi và mẹ tôi là kết quả của
con đường công danh và những thử thách mà tôi chọn
lựa. Đến một lúc nào đó, mẹ tôi không hiểu và không biết
tôi làm cái gì, động cơ từ đâu, như thế nào. Khi gặp
tôi về thăm nhà, bà hay nói:
–Con ơi, làm người, có số!
Trong thế giới
rất “Việt Nam hải ngọai” của bà, bà theo dõi chính trường, chọn
những thế đứng rất rõ ràng về những vấn đề đạo lý.
Bà rất hay đi quyên tiền để giúp người nghèo ở Việt
Nam, một công việc làm nhiều người kính phục mà cũng làm rất nhiều người
khó chịu — ở đời này, ai là kẻ thích mở hầu bao
cho những người không quen biết
chỉ vì một bà cụ già (thay vì một đoàn
thể có tiếng tăm) đứng ra xin??? Dần dần thì thiên
hạ hình như ai cũng biết mẹ tôi là người… dễ sai
và hay đi làm việc…chùa. Ai cũng có thể đem
việc đến nhờ bà, và hình như chẳng bao
giờ bà từ chối. Không những thế, người ta nhờ một phần thì mẹ tôi vui vẻ mà làm…mười phần. Bà lấy việc giúp người làm căn bản cuộc đời
và làm niềm vui cho mỗi ngày trôi qua, dù rằng có rất nhiều ngày
bà vẫn khóc vì những tâm sự riêng tư không lối thóat.
Mẹ tôi hay khóc những
ngày giỗ ông bà trước bàn thờ tổ tiên.
Khi quay trở về thăm lại
quê cuối năm 1994 (năm tổng thống Clinton bỏ lệnh cấm vận của
Mỹ ở Việt Nam), sau gần 20 năm, bà mới được khóc trước
mồ cha mẹ. Đó là lần đầu tiên và sẽ là lần cuối
cùng. Đó cũng là kỷ niệm hiếm có giữa mẹ con tôi.
Y hệt như ngày mới ra
trường làm cô giáo ở Hội An,
mẹ tôi đã cởi áo len cho học trò nghèo, năm 1994,
mẹ tôi, ở tuổi 60, trong chuyến về thăm quê,
đã cởi áo ngòai, cởi đồng hồ, vòng đeo tay để cho
người nghèo ở Việt Nam trên bước đường du hành.
Bà cởi luôn đôi giày
Reebox cho người bà con xứ Huế trước
khi lên máy bay.
Về lại Mỹ, bà nhận
việc đi trông coi cô giáo cũ ở Đồng Khánh
Huế bị bệnh Alzeimer’s, công việc làm khong phải vì tiền mà là
vì tình nghiã. (Tôi chua xót tự hỏi: Ngày
nay, khi bà khắc khỏai trên giường bệnh, ai là kẻ ghé thăm
hay trông coi bà, như bà đã chăm sóc cô giáo của bà ngày xưa?)
Trong màn đêm, như cuốn
phim, như chuyến tàu đi ngược dòng thời gian, tôi
quay trở lại 1975.
Để nuôi
con nuôi chồng những ngày đầu đến Mỹ, mẹ tôi đã đứng sắp hàng
làm việc trong xí nghiệp, nai lưng bên cạnh với những con người xốc vác,
sức khỏe như lực sĩ vượt hẳn bà trong môi trường làm việc chân
tay. (Tôi vẫn nhớ hình ảnh mẹ tôi xanh xao đi bộ trên vỉa
hè trong mưa tuyết của tiểu bang Bắc Mỹ, sáng sớm mỗi khi tôi đậu xe lề
đường để bà vào xí nghiệp làm việc.)
Khi tôi tốt nghiệp cử nhân,
thì bà không còn phải làm việc chân tay ở xí nghiệp nữa. Tôi đi làm để bắt đầu dành
dụm tiền giúp bố mẹ mua căn nhà đầu tiên, và bắt đầu
theo đuổi công danh cho riêng mình, không còn sự che chở của mẹ.
Khoảng cách bắt đầu từ đó,
và mẹ tôi không còn nắm vai trò hướng dẫn công danh cho
tôi được nữa.
Không quay trở lại
nghề dạy học, mẹ tôi trở thành nhân viên Bộ Xã Hội,
một nghề nghiệp rất thích hợp với bà, cho đến khi bà mang bệnh
hiểm nghèo … Bà đi một mình vào nhà thuơng để làm
giảo nghiệm (biopsy), rồi từ đó bác sĩ giải phẫu mang
bà vào thẳng phòng mổ, một mình, không ai biết. Khi tôi biết
thì mẹ tôi vẫn còn hôn mê trong phòng hồi sinh. Tôi
là người đầu tiên đứng bên giường hồi sinh khi mẹ tôi
mở mắt. Hai dòng nước mắt chảy dài trên gương mặt hốc hác của bà khi
bà nhận ra tôi. Đó là những ngày tôi bắt đầu học luật
(và đi làm full-time, bước đầu theo đuổi công danh). Ngày
đầu tiên vào giảng đường lớp Luật đầu tiên là ngày
mẹ tôi rời phòng hồi sinh, và tối hôm đó, tôi gối đầu lên
cuốn sách luật ngủ dưới chân giường bệnh viện của mẹ.
Sau đó là những tháng ngày đau
khổ của mẹ tôi. Bà rụng hết tóc, không
còn đi đứng vững, nhưng mẹ tôi can đảm tự chăm sóc lấy mình
chống trả bệnh nan y, để con gái rảnh tay đi học. Tôi
là người dẫn mẹ đi mua tóc giả và các dụng cụ cần
thiết cho người bệnh. Ngày hạnh phúc đầu tiên là ngày tôi dẫn
mẹ đi ăn nem nướng ở một trong
những tiệm ăn Việt Nam đầu tiên của thành phố, sau một thời gian
dài bà nôn mửa không ăn được …
Suốt đời, mẹ tôi
can đảm chiến đấu với bệnh tật, với những tai nạn hiểm nghèo,
và mang trong tim nỗi đau đớn tinh thần, sự chịu đựng
của phụ nữ Việt Nam: đối với tôi, cuôc
chiến đấu của bà còn dũng cảm hơn võ sĩ của đấu trường
La Mã …
Sức khỏe èo uột, nhưng
mẹ tôi rất dai sức và có óc khôi hài. Bà nói chuyện
rất văn chương, thành thật, tinh ý, và nhạy cảm. Bà thông minh và
biết xoay xở tình thế, nhưng luôn luôn nhận chịu sự thua thiệt
vì bà không thể ăn thua với người chung quanh.
Khi nói về bố tôi,
có lần bà ngậm ngùi:
–Suốt đời,
chỉ còn lấy cái học để leo bước thang xã hội…
Tôi ớn lạnh toàn thân: bà nói
về chồng, hay nói về đứa con gái đầu lòng chính là tôi, hay
về nguyên cả một văn hóa nhược tiểu của nguồn cội, nguyên cả một quá trình lập nghiệp
và những mộng ước của số kiếp di dân?
Về những nỗi buồn tinh thần của
bà, thì tôi chỉ có thể nói một câu: Mẹ tôi rất ủy
mị, rất yếu ớt, nhưng cả đời, bà đã đưa tấm thân mảnh
dẻ cua mình ra nhận lãnh tất cả những ngôi sao xấu cho chồng
con, đến từ chồng con.
Tôi, đứa con gái hiểu cuộc đời
của bà nhiều nhất, biết tất cả những niềm đau của mẹ, cũng không
tránh được việc làm cho mẹ phải lo âu phiên não vì những
sự chọn lựa khác thuờng của tôi. Khỏang cách giữa tôi
và mẹ chính là nỗi buồn tôi đã mang vào đời mẹ,
tạo thành một phần trong màn đêm của mẹ.
Và mẹ tiếp tục lo lắng cho tôi: từ miếng ăn, sức khỏe, cho đến ngôi nhà bỏ hoang khi tôi đi
vắng, cho đến tiếng bấc tiếng chì trong cộng đồng di dân.
Nỗi lo lắng tiếp tục cho đến ngày
bà liệt giường liệt chiếu…
Tôi biết rằng, trước cơn hoạn nạn cuối cùng, kể từ 1975, hình như mẹ tôi mang
bệnh mất ngủ và gần như uống thuốc triền miên, dù bà vẫn
nói cười và hết lòng trong việc từ thiện …
Màn đêm của
mẹ tôi: hình ảnh người phụ nữ Việt Nam mang trái tim tha
thiết vì tha nhân, cặm cụi đi tìm tia chiếu của những ngôi sao
xấu, để mang tấm thân mình ra làm bình phong ngăn chận những tia
chiếu vô cùng hung hãn ấy. Lúc nào bà cũng chịu thiệt thòi cho
tha nhân được huởng phần hơn.
Và bà gọi đó là tình bạn, tình người ….
Những ngày tháng mẹ tôi liệt
giường liệt chiếu vẫn tiếp tục trôi qua. Những người đã chịu ơn
sự giúp đỡ của bà, người Mỹ có, người Việt có, lần
lượt đến thăm… Có người ghé thăm rồi thảng thốt và mủi
lòng đứng khóc. Nhưng rồi, càng
ngày càng thưa thớt đi, những thắm thiết và bịn rịn của mọi người chung
quanh.
Còn lại là màn đêm của
bà, và đứa con gái đầu lòng là nhân chứng bất đắc
dĩ của màn đêm ấy.
Mẹ tôi chỉ còn có 74
pounds, bà không thế gượng ngồi dậy một mình. Bà không
thể xoay đổi thế nằm. Phải có người bế, có người đẩy.
Nhưng khi được mang ra ngồi ở bàn ăn, mẹ tôi nắm lấy
cạnh bàn để ngồi cho thẳng. Rồi bà đan hai tay vào với
nhau, để ngay ngắn trên bàn — phong cách ngồi của một
cô giáo, không phải của người đầu hang trước sức khỏe èo uột, hay gục
ngã trước căn bệnh trầm kha.
Tôi vẫn làm người đầy
tớ trung thành cho mẹ. Vẫn chăm chú nhìn đôi môi run rẩy của
mẹ hé mở đón từng muỗng cháo, từng miếng trái
cây đã cắt nhỏ hoặc xay mềm. Vẫn mừng rỡ cho mẹ thải
ra được chất nhơ qua hệ thống tiêu hóa.
Tôi chống đỡ với
số mệnh. Tôi làm người “cắt sao” cho mẹ tuy không bước chân
vào đền thánh, không còn đeo mang “lộc
thánh” để chia xẻ với những linh hồn côi cút trong thế giới siêu
hình.
Và tôi vẫn bắt gặp, vẫn nhìn
thấy ánh mắt chăm chú hết gan hết ruột của mẹ trong màn đêm,
dưới ánh đèn mờ … ánh mắt thăm thẳm như cả một
vũ trụ đối diện người phụ nữ vì thuơng chồng con và hết
lòng với mọi người mà lần mò trong
bóng đêm để đi tìm những vì sao…
Ngày lại
ngày, mẹ tôi vẫn thường mở mắt lúc nửa đêm, hay lúc trời
tờ mờ sáng, những khi tôi phải thức dậy làm vệ sinh cho bà trong
ánh đèn leo lét. Đôi mắt bà nói lên cả ngàn lời mà tôi không nghe
được
Bà đã thao thức từ bao giờ? Màn đêm ấy bao phủ bà
như thế nào? Đâu là giải ngân hà bằng tâm thức?
Càng suy
nghĩ về mẹ tôi, tôi càng tin tưởng rằng: Trong kiếp này,
mẹ tôi đã tạo được cho chính bà một giải ngân
hà kết toàn bằng những vì sao thánh thiện, sẽ che
chở cho tấm thân nhỏ bé và trái tim vô cùng
vị tha của bà. Suốt cuộc đời, mẹ tôi chưa
hề làm ác hay hại ai bao giờ. Bà cho đi rất nhiều
mà nhận chẳng bao nhiêu. Nếu có trách móc ai, đó chỉ là lời
mẹ tôi than thở về định mệnh: số kiếp của những
kẻ giàu tri thức, giàu tình cảm, nghèo vật chất, có tất cả, mất tất
cả, hay cho đi tất cả, chung quy cũng chỉ là sự chịu đựng
tia chiếu của các sao Địa Không, Địa Kiếp!!!
Có chăng, chỉ là câu than thân
trách phận của người phụ nữ Việt Nam, khi phải một mình đi tìm cắt
những vì sao…
Rồi từ đó, từ khái
niệm của màn đêm, ở thời điểm
này, tự nhiên tôi bắt đầu đi tìm mua cho mẹ những
món đồ dùng hàng ngày có mang theo hình ảnh hoa hướng
dương: tôi chỉ có thể tìm thấy ít chén bát, khăn ăn,
khăn lau mặt…
Tôi loay hoay muốn
có hình ảnh của hoa hướng dương chung quanh thế giới cô đọng vào
chiếc giường bệnh của bà. …Tôi không muốn đi hái hướng
dương ở ngoài đồng hay mua ở tiệm, vì e rằng phấn hoa
có thể làm mẹ tôi bị khó khăn hay gây ô nhiễm đường
hô hấp. Tôi sẽ phải quay về với nhũng cánh hướng dương tưởng
tượng trong thế giới sáng tạo của hội họa.
Tại sao lại là hoa hướng dương?
Tôi suy nghĩ mãi
về màn đêm của mẹ tôi và cho rằng con đường của
mẹ tôi đi tìm những vì sao ác tính để cắt
bỏ chúng, bắt buộc phải có sự hướng dẫn của một nguồn ánh
sáng rực rỡ, trong lành. Tôi kết luận rằng nguồn ánh sáng ấy đến
từ trái tim vượt bực của mẹ tôi. Với nguồn sáng ấy,
màn đêm, sự lẫn lộn giữa sao ác và sao hiền trong
vũ trụ bao la dầy đặc một màu đen kia sẽ trở thành
vô nghĩa lý. Sự khác biệt hay ngăn chận giữa sao tốt, sao xấu
bằng một giải ngân hà tốt đẹp sẽ không còn cần thiết nữa nếu
mẹ tôi nương theo nguồn ánh sáng trong lành của mặt
trời để cắt bỏ tất cả những vì sao hung hãn.
Cánh hướng dương của mẹ tôi nằm ngay
trong tâm khảm của bà: ý niệm của lòng thành tuyệt đối, đã thôi thúc bà không quản ngại đi vào vũ trụ tối tăm để cầu xin sự buông tha của các
vì sao xấu, để ngăn chận những tai ương của định
mệnh, tất cả cho người chứ không phải cho mình.
Ấy thế mà trong những
chuỗi ngày mẹ tôi liệt giường liệt chiếu, như một định mệnh oan
nghiệt tạo ra bởi những vì sao xấu – những oái oăm tôi không
thể ngờ tới, những khúc quanh tôi không muốn giải nghĩa cho tha nhân
— tôi đã phải để mẹ tôi nằm một mình với màn đêm của
bà. Những vì sao độc vẫn còn ngự trị nhưng
mẹ tôi sẽ không còn hay biết nữa. Tôi
trở thành người chống đỡ tia chiếu của những ngôi
sao ác độc hướng vào bà và vào tôi – tôi biến tôi
thành tấm bình phong che chở, để bà được yên bình không biết
gì về những thầm kịch của cuộc đời chung quanh vẫn còn tiếp tục.
Thay vì khóc lóc, tôi chỉ còn biết đem đến để chung
quanh mẹ một vài món đồ mang hình ảnh đẹp của hoa
hướng dương.
Để tiếp tục bước đi,
tôi phải tự cho rằng mình là kẻ độc hành, kẻ mồ côi, không còn mẹ để chia
xẻ những đau đớn trong đời, dù rằng mẹ tôi vẫn
mở mắt nhìn đêm tối.
Những óai oăm, oan nghiệt của
cuộc đời ấy đang tiếp tục xảy ra chung quanh cái giường sắt kiểu bệnh
viện tại gia của bà. Nếu tôi ghi tất cả vào một cuốn nhật ký,
thì đó sẽ là cuốn nhật
ký cần đem đi đốt, để tro bụi của những trang
giấy bi thảm ấy sẽ không làm vướng bận đến giấc
ngủ và trái tim mang bông hoa hướng dương của mẹ tôi.
Tôi nghĩ rằng những khắc nghiệt bất
công của cuộc đời, những độc dược đến từ con người, chính
là mớ tro bụi ấy. Tôi sẽ không bao giờ để cho
mớ tro bụi ấy vướng lụy đến chỗ nằm thánh thiện của
mẹ tôi.
Và tôi vẫn tiếp tục cầu mong cho
mẹ tôi lành bệnh, được chừng nào hay chừng ấy. Tôi tin vào sức
sống bền bỉ của mẹ tôi (life force), tin chất mầu nhiệm của
sự nhiệm mầu (the miraculous nature of miracles). Và tôi vẫn tin
tưởng y khoa. Nhưng tôi cũng chấp nhận rằng, ở kiếp này, chắc tôi không bao giờ còn được dịp đưa
mẹ đi cắt sao buổi tối ở đền Thánh. Tôi không
còn được giúp mẹ đem thảy lộc Thánh vào con rạch giữa thành phố,
trong màn đêm.
Tôi chỉ còn
có thể nhớ mãi ánh mắt của mẹ tôi chăm chú nhìn
tôi khi tôi thức giấc làm vệ sinh cho
bà và đó sẽ là hành trang còn lại độc nhất trên
con đường thiên lý tôi đi. Trên con đường ấy, tôi
chỉ có thể giữ lại cho bà, và cho mình, cánh hướng
dương độc nhất. Cánh hướng dương không bao giờ tàn phai, vì ánh
sáng của nó là muôn thuở. Nụ hướng dương ấy nở tung
trên những ngón tay gầy guộc của mẹ tôi đi tìm những ngón tay của tôi
dưới nếp chăn hay níu vào thành giường những ngày mẹ tôi liệt giường liệt
chiếu. Đóa hoa nở tung trên khóe mắt xúc tích của bà. Nó tạo nên
nụ cười trên đôi môi của bà, những buổi sáng trên giường bệnh,
bà thức dậy và nhìn thấy tôi. Nụ hoa hướng dương ấy sẽ là giải ngân hà cho chặng cuối đời
bà, sáng óng ánh giữa màn đêm dày đặc.
Tôi nhớ mãi giây phút sau đây, trong những ngày tháng săn sóc mẹ:
“Mẹ quay qua bên này với con,” tôi
nói với bà một buổi sáng đứng bên cạnh giường.
“I don’t know how to “qua,” bà
trả lời bằng tiếng Anh, nhưng lại dùng chữ “qua”
tiếng Việt. (Câu nói rất ngộ nghĩnh. Điều này nói lên tình
trạng bệnh lý của bà: Khi một số tế bào não phia dưới, bên
trái, đã mai một hay bị hư hại, trí nhớ gần (recent memory)
và sự điều động khả năng ngôn ngữ bị xáo trộn
hay rối loạn.)
Đôi tay gầy guộc của
bà di động dưới tấm chăn như những lúc tôi nằm ôm mẹ, và
tay tôi đi tìm tay bà. Rồi bà ngơ ngác nhìn tôi, đưa đôi tay gầy guộc ra trước mặt để phân bày.
Như một trẻ thơ…Và rồi đôi tay gầy guộc ấy níu lấy
thành giường để giúp tôi đẩy bà, vì bà biết bà không tự xoay
người được nữa.
Tấm chăn và thành giường
trở thành giải ngân hà cho mẹ tôi bám víu???
Giải ngân hà ở đâu,
mẹ yêu thuơng của con?
Ở đây, ở nụ hướng
dương quý báu của mẹ.
Tôi đã có câu trả lời,
cho dù tôi rơi lệ.
Nụ hướng
dương bất tử, ươm mầm, đến từ trái tim sáng ngời của
mẹ tôi, nở trên những ngón chân yếu đuối, những ngón tay gầy
guộc, mi mắt và khóe môi nhăn nheo, trên lồng ngực mỏng manh
như tờ giấy của bà.
Nụ hướng dương sẽ chẳng
bao giờ tàn … cánh nở tung, rồi sẽ khép,
quay về, lại bắt đầu ươm nụ, và bất
tử, ở khởi điếm bắt đầu hay cứu cánh cuối cùng, tất cả trở thành một vòng tròn
như luân hồi của đạo Phật, như giải ngân hà vòng quanh
mặt đất bao bọc con đường đi của bà.
Nụ hướng dương làm rực
rỡ màn đêm, vượt tất cả các vì sao. Xấu hay tốt, các
vì sao sẽ nghiêng mình, lu mờ trước cành hướng dương rực rỡ.
Mẹ tôi sẽ không còn phải mò mẫm trong màn đêm của
vũ trụ đảo điên để ngăn chận ánh sáng mục rửa của
cái ác.
Ở đó, trên cành hướng dương,
mẹ tôi tìm thấy hạnh phúc, yên bình, và sự che chở.
Nụ hướng dương bất tử ấy……
… chính là trái tim, TÂM
THIỆN,* của mẹ tôi.
Dương Như Nguyện
* Ngày
xưa ở chùa Từ Đàm, Huế, mẹ tôi cho tôi, đứa
bé lên bốn, quy y nhà Phật, lấy pháp danh là TÂM THIỆN.
