Cứ đến ngày 30 tháng 4 mỗi năm cộng đồng người Việt trên thế giới xôn xao,
ồn ào, bận rộn mỗi người một tâm tư riêng nhớ về ngày 30 tháng 4 cách nay 42
năm.
42 năm đã qua nhưng vết thương của người Việt tị nạn cộng sản ở hải ngoại
cũng như trong nước vẫn còn rỉ máu. Vết thương vẫn chưa lành. Giấc mơ trở về
với quê hương nơi chôn rao cắt rốn đất đai của tổ tiên và mong muốn nhìn thấy
một đất nước tự do, dân chủ, nhân quyền và giàu mạnh mà thời VNCH đang trên đà
đi tới vẫn âm ỉ trong mọi người Việt tị nạn cộng sản.
Giấc mơ trở về quê hương Việt Nam tự do, dân chủ, nhân quyền và giàu mạnh
dường như bùng lên mạnh mẽ và ồn ào và tích cực ở cao điểm của những ngày 30-4.
Rồi những ngày sau đó giấc mơ này bị chìm đi trong quên lãng khi mọi người Việt
tị nạn cộng sản phải va chạm với thực tế cuộc sống hằng ngày với những thử
thách gay go trong xã hội đa dạng và phức tạp. Giấc mơ trở về quê hương đã phải
tạm nhường lại cho những sinh hoạt vì cuộc sống trước mắt của gia đình, lo
tương lai cho con cái v…v và chỉ khi có thời giờ rảnh thì giấc mơ đó mới hiện
về. Rồi cuộc sống quay cuồng lại cuốn hút giấc mơ đó đi. Chu kỳ này được
lập đi lập lại gần 42 năm nay rồi.
Liệu rằng giấc mơ này còn kéo dài trong bao lâu để trở thành hiện thực hoặc
phải bị đi vào quên lãng khi thế hệ đầu tiên với những kinh nghiệm đau thương
của chiến tranh và với cộng sản phải ra đi vì tuổi tác và bịnh tật để nhường
lại cho thế hệ thứ hai, thứ ba v..v.?
Hai thế hệ này có được vun trồng, nuôi dưỡng để tiếp tục theo đuổi giấc mơ
như người Do Thái sau gần 2000 năm họ đã thực hiện được giấc mơ trở về quê
hương trong vinh quang và hùng mạnh như ngày nay hay không ?
Hay với một khoảng trống thế hệ sẽ làm gián đoạn giấc mơ trở về quê hương
của người Việt tị nạn chúng ta?
Trải qua gần 2000 năm, ngươì Do Thái qua nhiều thế hệ nối tiếp nhau theo
đuổi giấc mơ hồi hương của họ thành công. Liệu người Việt tị nạn cộng sản chúng
ta có học được bài học của người Do Thái theo đuổi giấc mơ trở về quê hương
Việt Nam yêu dấu trong tự do, dân chủ, nhân quyền và giàu mạnh hay không ?
Chúng ta đã chờ đợi thực hiện giấc mơ này đã 42 năm rồi. Thời gian còn chờ
đến bao lâu nữa?
Những người chủ quan khi nhận định về tình hình chính trị của nước Việt Nam
ngày nay cùng với sự suy thoái của đảng cộng sản VN qua những biến cố chính trị
nóng bỏng gần đây cho thấy sức mạnh của nhân dân không còn sợ cộng sản nữa
như vụ Đồng Tâm hoặc vụ Hà Tĩnh Formosa hay vụ Phật Giáo Hoà Hảo v…v. thì
cho rằng thời gian đã chín mùi sẽ xảy ra rất gần đây thôi.
Một câu trả lời khác cho rằng thời gian không mau lắm nhưng không lâu như Do
Thái họ dựa vào lý do bạo lực của đảng cộng sản vẫn còn gieo rắc sợ hãi, hoang
mang nghi ngờ khiến cho người dân thờ ơ với chính trị đấu tranh chống lại cộng
sản.
Dù thời gian có dài hay ngắn, lâu hay mau tất cả tùy thuộc vào lòng quyết
tâm, kiên trì và sự bền bỉ và có định hướng của mọi người Việt tị nạn cộng sản.
Yếu tố con người và sự nối tiếp của thế hệ là bài học chúng ta có thể học được
từ người Do Thái.
Người Do Thái có sức mạnh dựa vào Do Thái Giáo của họ như một nền tảng và là
chất keo nối kết người Do Thái với nhau và từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Người Việt Nam thì hãnh diện và tự hào có một lịch sử oai hùng dựng nước và
giữ nước từ hơn 4,000 năm qua từ thời Vua Hùng Vương.
Hai dân tộc có một sự tương đồng. Người Do Thái bị trục xuất ra khỏi xứ bôn
ba, trốn tránh khắp nơi trên thế giới. Người Việt tị nạn cộng sản bị bức tử bỏ
nước ra đi lưu lạc khắp bốn phương trời
Chính vết thương còn rỉ máu của ngày Quốc Hận 30-4 sẽ là động cơ mạnh mẽ thúc
đẩy người Việt tị nạn cộng sản phải vùng lên quyết lấy lại đất nước bị cướp bởi
đảng sộng sản VN, thực hiện được giấc mơ của mình.
Thề hệ thứ nhứt của người Việt tị nạn cộng sản đã và liên tục đang đấu
tranh, vận động thế giới để giải thể đảng cộng sản Việt Nam rất là tích cực.
Nhưng xuyên qua thời gian 42 năm qua sức lực của thế hệ thứ nhứt hao mòn nhiều
và đang đi dần vào chổ hụt hẫng tạo ra một khoảng trống thế hệ. Khoảng trống
của sự mối tiếp giấc mơ tìm về quê hương.
Nếu khoảng trống này không được lấp lại, nếu khoảng trống này tiếp tục rộng
lớn hơn khoảng cách thế hệ sẽ xa cách nhau nhiều hơn thì giấc mơ hồi hương của
người Việt tị nạn cộng sản chúng ta có thể bị tiêu tan đi.
Trách nhiệm thuộc về ai? Trách nhiệm thuộc về mọi người Việt tị nạn cộng sản
chúng ta đang sống lưu vong rải rác trên toàn thế giới và trong nước: thế hệ
thứ nhứt, thế hệ thứ hai, thứ ba v…v
Người Do Thái từ 2000 năm trước khi bị tống xuất ra khỏi nước phân tán mọi
nơi trên thế giới đều cùng nhau tự nhủ rằng phải có ngày về dựng lại nước Do
Thái cho nên khi tị nạn tạm cư tại các nơi trên thế giới đều ấp ủ nuôi giấc mơ
trở về quê hương Do Thái. Họ dốc lòng hướng về quê hương. Trong khi chờ đợi
ngày trở về quê hương họ ra sức tạo dựng những cộng đồng người Do Thái khắp nơi
thành một khối đồng nhứt với cùng một giấc mơ trở về quê hương. Họ cùng nhau
học tập rèn luyện ý chí quật cường và nổi đau mất nước. Họ luôn trang bị cho
những thế hệ nối tiếp giấc mơ trở về quê hương qua những định chế giáo dục văn
hoá, tôn giáo tại những nơi họ đang sống tạm dung. Họ làm bất cứ cái gì tạo
thành sức mạnh cho cộng đồng của họ và ảnh hưởng đến nước họ đang tạm dung để
cũng cố sức mạnh đó theo đuôỉ giấc mơ trở về quê hương. Từng ngưởi, từng gia
đình, từng cộng đồng quyết tâm theo đuổi giấc mơ đó. Những thành công từ
cá nhân, từ gia đình và cộng đồng các nơi hợp lại tạo thành một sức mạnh ảnh
hưởng đến các nước tạm dung ủng hộ để sau cùng họ trở về được quê hương của họ
trong vinh quang.
Người Việt tị nạn cộng sản chúng ta sau 42 năm từng cá nhân, từng gia đình
và từng cộng đồng đã có nhiều thành công trên mọi mặt và có một tiếng nói cũng
như ảnh hưởng nào đó với các nước đang sống tạm dung mà chúng ta có thể nương
theo thực hiện được giấc mơ hồi hương như người Do Thái.
Thế hệ thứ nhứt phải có trách nhiệm lưu truyền giấc mơ trở về quê hương Việt
Nam qua những thế hệ kế tiếp. Ngoài những cuộc đấu tranh kiên trì liên tục dưới
nhiều hình thức từ lâu nay, thế hệ thứ nhứt phải bỏ thời giờ và công sức cũng
như những kinh nghiệm với cộng sản hướng dẫn, giáo dục thế hệ thứ hai, thứ ba
phải tích cực nối tiếp giấc mơ của chúng ta. Thế hệ thứ nhứt phải tạo điều kiện
có những đối thoại trực tiếp, thẳng thắng và chân tình tin cậy lẫn nhau để cùng
nhau có sự đồng thuận của các thế hệ của người Việt tị nạn cộng sản. Thế hệ thứ
2, 3 phải thấy được sự đấu tranh và hi sinh của thế hệ cha anh là chính danh,
đáng ngưỡng mộ và ghi ơn, tôn trọng và tin tưởng thế hệ cha anh mình mà ra sức
tiếp tục đấu tranh qua nhiều hình thức nối tiếp thực hiện giấc mơ của thế hệ
cha anh để xứng đáng là hậu duệ.
Chắc chắn trong đối thoại giữa thế hệ sẽ có khoảng cách về suy nghĩ và nhận
định và hoạt động nhưng phải cùng nhau ấp ủ thực hiện giấc mơ trở về quê hương
Việt Nam không cộng sản.
Những người của thế hệ thứ nhứt là nạn nhân trực tiếp của chế độ cộng sản
phải cho thế hệ thứ hai, thứ ba cảm nhận được nổi đau khổ của mình về sự tàn
bạo, độc ác vô nhân đạo của cộng sản mà mình là nạn nhân và chính nghĩa
của chế độ VNCH trong chiến tranh Việt Nam mà từ lâu bị tuyên truyền xuyên tạc
bởi cộng sản cũng như bởi những thành phần phản chiến ở Mỹ và trong nước. Thế
hệ thứ nhứt qua những kinh nghiệm bản thân là nạn nhân khi phải đối đầu với
cộng sản phải thường xuyên trao đổi, hướng dẫn, thuyết phục thế hệ 2, 3 tin
được và thấy được chính Cộng Sản Việt Nam là kẻ thù của cả dân tộc Việt Nam chớ
không phải chỉ là kẻ thù của nhân dân miền Nam từ ngày đảng cộng sản thành lập
trong những năm 1930 cho đến những vụ án giết người kinh hoàng vô nhân đạo như
Cải Cách Ruộng Đất, Nhân Văn Giai Phẫm, Cải Tạo Tư Sản, Học Tập Cải Tạo, Kinh
Tế Mới v…v cho đến gần đây những cuộc cướp đất trắng trợn của dân lành cho đến
vụ Đồng Tâm, Formosa, Hà Tĩnh và những vụ tấn cộng tàn bạo các tôn giáo như
Công Giáo, Tin Lành và Phật Giáo Hoà Hảo v…v để cho thế hệ 2, 3 hậu
duệ không mơ hồ, ảo tưởng, nhẹ dạ mắc mưu cộng sản.
Theo những nghiên cứu của những nhà Nhân Chủng Học tự nhiên thì thế hệ thứ
hai, thứ ba có những nhu cầu khẩn thiết phải tìm về côị nguồn của họ. Họ sẽ tự
hỏi : Họ là ai? Họ đang sống ở đâu? Đang làm gi ? và làm cho ai? Cho đất nước
đang tạm dung hay cho quê hương Việt Nam? Chính những câu hỏi này đã thôi thúc
thế hệ 2, 3 một cách cuồng nhiệt hơn trên đường tìm về cội nguồn dân tộc và đó
cũng là động cơ sức mạnh thúc đẩy họ tích cực hơn, quyết tâm hơn nối tiếp giấc
mơ của cha anh mà thế hệ thứ nhứt cố gắng rèn luyện thế hệ 2,3 sự kiên trì tin
tưởng như
qua truyện ngắn Cậu Bé và Hoa Mai của nhà văn Phan Tấn Hải : “Ông thầy nhân
chuyện dẫn cậu bé đi tìm hoa mai đã khai thị cho cậu học trò này bài học “về
niềm tin, về ước vọng, về lòng kiên trì, bền bỉ để thành đạt ước mơ cao cả của
đời người” ( trích “ Tháng Tư, Đọc Truyện Cậu Bé và Hoa Mai” của nhà văn Phan
Tấn Hải của tác giả Hùynh Kim Quang Việt Báo On-Line).
42 năm qua người Việt tị nạn cộng sản chúng ta qua các thế hệ 2,3 đã có
nhiều thành công đáng kể và có nhiều đóng góp quan trọng qua những vai trò
trong nhiều lãnh vực của xã hội tạm dung từ khoa học, kỷ thuật, văn hoá, nghệ
thuật cho đến giáo dục và chính trị. Chúng ta có những dân biểu, nghị sĩ, thứ
trưởng, thị trưởng những kỷ sư, bác sĩ trong chính quyền Mỹ và chính quyềnb các
nước tạm dung các cấp. Chúng ta có những tướng, tá trong quân đội Hoa Kỳ, những
triệu phú, tỉ phú trong thương trường v…v.
Người Việt tị nạn cộng sản xuyên qua thế hệ 2, 3 đang có uy tín và ảnh hưởng
và tiếng nói của cộng đồng người Việt đang được lắng nghe. Những thành công này
đang là những yếu tố ảnh hưởng đến những người làm chính sách của xã hội tạm
dung như người Do Thái đã làm.
Cùng nhau nguyện rằng Tưởng Niệm Quốc Hận 30-4 là dịp để các thế hệ 1,2,3
cùng nhau chia sẻ, cùng tâm nguyện thực hiện giấc mơ trở về quê hương Việt Nam
yêu dấu tự do, dân chủ nhân quyền và hạnh phúc xứng đáng là Con Lac Cháu Hồng
hãnh diện 4000 năm giữ nước và dựng nước
Hi vọng thế hệ 2, 3 của chúng ta sẽ học được những bài học của người Do Thái
và theo bước chân của người Do Thái thực hiện được giấc mơ trở về quê hương
Việt Nam trong tự do, dân chủ, nhân quyền và thịnh vượng không còn cộng sản
trong một thời gian ngắn.
Mong vậy thay ./.
Kỷ Nguyên Nguyễn
Văn Tâm
