
Nếu bị đày ra một hoang đảo và chỉ được phép đem theo một tập thơ duy nhất
để đọc trong lúc nhàn rỗi—ở hoang đảo một mình đương nhiên là nhàn rỗi—tôi sẽ
không đắn đo suy nghĩ cầm theo tập thơ của nữ sĩ Cổ Nguyệt Đường Xuân Hương.
Tại sao? Bạn có thể hỏi tôi như thế và tôi xin trả lời là, mặc dù thơ của nữ sĩ
họ Hồ có thể không trác tuyệt, không “nâng tâm hồn lên” như thơ của nhiều thi
sĩ khác nhưng ngồi một mình trên hoang đảo, hết ngày này qua ngày khác, trong
vô vọng, chỉ có thơ của bà với phong cách vừa thanh vừa tục, vừa nghiêm túc vừa
đùa bỡn, mỗi lần đọc lại đều thấy có cái gì mới mẻ lấp lánh ló dạng từ giữa
những câu thơ, giữa những con chữ, mới giúp tôi quên thời gian nặng nề, chậm
chạp trôi qua. Bởi tôi sẽ không bao giờ chán đọc thơ bà trong bất kì cảnh huống
nào. Bởi thơ của các thi sĩ khác, trác tuyệt hơn đấy, trí tuệ hơn đấy, gợi cảm
hơn đấy, nhưng đọc qua một lần đã thấy “ngan ngán”, phải đợi thời gian khá lâu,
cả tuần, thậm chí cả tháng trời, đọc lại mới thấy thú vị, mới có thể tiếp tục
đọc, và ví bằng như thế chắc tôi sẽ chết vì buồn chán mất thôi.
Đã có không ít giấy mực nói về thơ Hồ Xuân Hương. Đầu thế kỉ XX những người như
Nguyễn Hữu Tiến, Tản Đà đưa ra những nhận định về thơ bà như một cố gắng muốn
làm giảm nhẹ tính dâm tục để tránh cho bà tiếng đĩ thoã mà bọn người đạo đức
giả thường hay gán lên bà. Các nhà nghiên cứu văn học như Trương Tửu, Nguyễn
Văn Hanh thì lí giải thơ bà dựa trên cái nhìn thô thiển và dễ dãi của bệnh lí
phân tâm học, họ đưa ra kết luận bảo bà là người đàn bà bị ẩn ức sinh lí nên
làm thơ như thế như một hình thức giải toả tâm lí. Thế rồi đến giữa thế kỉ, các
nhà lí luận Mác-xít như Đặng Thanh Lê nhảy vào biện biệt và gán lên thơ bà cái
nhãn hiệu sặc mùi Xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giai cấp như [bà là người] “đầy
tinh thần chiến đấu chống lễ giáo phong kiến”, “một phụ nữ tài hoa và dũng cảm
đã lên tiếng trên giấy trắng mực đen, đấu tranh cho quyền lợi của mình”, vân
vân. Gần đây nhất nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thuý lại đưa ra một phương cách tiếp
cận khá mới mẻ và độc đáo để đọc thơ Hồ Xuân Hương, trong đó, ông kết hợp tín
ngưỡng phồn thực trong dân gian Việt Nam với lí thuyết “vô thức tập thể” của
nhà phân tâm học người Thụy Sĩ Carl Gustav Jung. Thậm chí học giả người nước ngoài
(như ông John Balaban) cũng đặc biệt chú ý đến bà và dịch thơ bà sang Anh ngữ.
Học giả người Nga Niculin thì dịch thơ bà sang tiếng Nga và có cả một chuyên
luận lí giải thơ bà dựa trên “Nguyên lí hội hoá trang.” Và còn không biết bao
nhiêu công trình khác tôi không biết đến, mỗi người từ một góc độ khác nhau
chiếu rọi luồng sáng vào thơ bà.
Hiếm thấy một tác giả Việt Nam nào, trung đại, cận đại hoặc hiện đại, được
chiếu cố kĩ như thế. Bởi thế, tất cả những gì tôi định ca ngợi “Bà Chúa Thơ
Nôm” chỉ là những điều thừa thãi. Ở đây tôi chỉ mượn tên tuổi bà như cái cớ để
nói đến sự kiện mà tôi thấy khá độc đáo trong văn học Việt Nam. Đó là, văn học
Việt Nam không cần đợi đến thời hiện đại, nói cách khác, trước khi dân tộc va
chạm với nền văn hoá phương Tây, đã có những người làm thơ phái nữ kiệt xuất,
đã có những vị anh thư được gọi bằng danh hiệu đầy trang trọng: nữ sĩ. Tuy con
số không nhiều nhưng không ai dám phủ nhận thi tài của họ đôi khi vượt trội cả
phái nam, và nhờ thế họ lưu lại cho hậu thế nhiều sáng tác thơ ca bất hủ. Từ
thời nhà Lê, chúng ta có bà Đoàn Thị Điểm; bước sang triều đại nhà Nguyễn,
chúng ta có thêm các bà: Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan và hai nhân vật
khác ít danh tiếng hơn: Phan Mi Anh và Năng Văn Nữ Sĩ (bà này là chị ruột cụ
Nguyễn Công Trứ).
Sống trong một xã hội nắm đầu bởi tập đoàn quan lại hủ nho, khệnh khạng với
truyền thống “trọng nam khinh nữ”, xem đó như sự đương nhiên, đàn bà không được
đi học mà phải ở nhà, đầu tắt mặt tối với công việc đồng áng hay quay tơ, dệt
vải, nuôi con. Nhưng mặc dù thế vẫn có không ít những trường hợp ngoại lệ, vẫn
có những phụ nữ chứng tỏ được sự kiên quyết, vượt qua không biết bao nhiêu trở
ngại, khó khăn ngặt nghèo để đạt đến ước nguyện sau cùng của mình, trở thành
người biết chữ nghĩa, và họ gởi gắm tâm tư mình vào những lời thơ. Tuy thế điều
quan trọng hơn, theo tôi, là sự trân trọng của người dân trong xã hội Việt Nam
thời ấy đối với những tác phẩm thơ văn giá trị. Một xã hội phong kiến; ý thức
hệ Tống Nho hủ lậu, với những quy luật khắt khe, phi lí vây hãm toả chiết tâm
tư người đàn bà, ăn sâu từ muôn kiếp trước trong nếp nghĩ và lề thói sinh hoạt;
sự bất bình đẳng trong điều kiện xã hội; sự thiên lệch trong cung cách đối xử;
tất cả những bất công ấy như mạng lưới chằng chịt trì kéo, chèn ép đời sống
người đàn bà thời phong kiến tưởng chừng không thế lực, không ý thức hệ nào có
thể chặt đứt nổi. Nhưng khi đem thơ phú ra làm đối tượng nghệ thuật, khi thưởng
ngoạn và bình phẩm thơ văn một cách nghiêm túc, tính cách phân biệt nam nữ hình
như tan biến. Không ai dùng nó để thẩm định và biện biệt giá trị văn học. Đứng
trước toà nhà văn chương, đột nhiên, áo the đen và áo tứ thân nâu bình đẳng
ngang nhau. Một bài thơ hay được truyền tụng trong dân gian mà không cần biết
tác giả nó là nam hay nữ. Sự trân trọng này hiển lộ trong bài tựa tập thơ Lưu
hương kí của Hồ Xuân Hương do một trong những bằng hữu xướng hoạ thơ văn
của bà, người có biệt hiệu là Tốn Phong Thị, viết vào năm 1814. Lời lẽ hết sức
trân trọng của bài tựa cho thấy giá trị văn học trong thơ ca nữ sĩ họ Hồ đã
được đánh giá rất cao bởi những nhà Nho cùng thời.
Điều ấy không hề tồn tại trong xã hội Tây phương thời quân chủ.
Trong cuốn tiểu luận Căn phòng riêng xuất bản năm 1929, nữ tiểu
thuyết gia người Anh Virginia Woolf, bằng tất cả nhiệt tâm của bà, mở ra cho
chúng ta thấy bức tranh cực kì bi đát về cảnh huống những văn thi sĩ phái nữ ở
châu Âu gặp phải dưới thời phong kiến. Bà bảo, vào thời Shakespeare, người đàn
bà của sân khấu kịch nghệ thường bị người đời ví như con chó bông xù làm trò trong
gánh xiệc! Họ xuất hiện trên sân khấu chỉ làm trò cười cho khán giả. Còn thơ
văn thì sao? Không ai xem trọng thơ văn phái nữ. Đàn bà có chút thiên tư dùng
ngòi bút diễn tả tâm tư mình, ngay tức khắc, sẽ bị dán lên người nhãn hiệu con
mụ điên, thậm chí, con mụ phù thuỷ già nua xấu xí sống trong ngôi nhà ma quái
nơi bìa rừng bị mọi người ghê tởm, lánh xa! Người đàn bà viết văn, làm thơ là
người chịu đựng không những mọi bất công của xã hội chụp lên đầu mà còn chẳng
bao giờ có đời sống gia đình bình thường, “bởi lúc nào bà cũng phải sống
trong tình trạng căng thẳng thần kinh và tiến thoái lưỡng nan, một tình trạng
có thể dẫn đến cái chết”. Hậu quả khó tránh là bà sẽ chết tức tưởi và thân
xác bà bị vùi chôn trong nấm mồ vô danh nào đó ngoài đồng nội. “Giả sử bà
không chết, nhưng ngay cả thế những gì bà viết cũng sẽ bị bóp méo và biến dạng,
kết quả của những trí tưởng tượng lệch lạc và bệnh hoạn.”
Đến giữa thế kỉ XIX, tình trạng này khá hơn nhưng phụ nữ viết văn, làm thơ
vẫn bị người đời bỉ báng không thương tiếc. Họ phải kí bút danh đàn ông, bởi
nếu không, sẽ chẳng ai thèm tìm đọc những điều họ viết, chẳng nhà phê bình văn
học nào quan tâm và tác phẩm của họ như thế sẽ chìm ngay vào quên lãng. (Như
trường hợp chị em nhà Bronte trong văn học Anh. Ba chị em, Charlotte, Emily và
Anne—tác giả những thiên tiểu thuyết bất hủ Đỉnh gió hú, Jane Eyre,
Agnes Grey mà cho đến ngày nay vẫn còn sức lôi cuốn người đọc—khi xuất
bản sách đã phải ẩn giấu tên tuổi mình dưới những bút danh đàn ông: Currer,
Ellis và Acton Bell. Bà Mary Anne Evans, một tiểu thuyết gia khác, cũng phải
làm thế dưới bút danh George Eliot.)
Bước sang thế kỉ XX, sau những tranh đấu gay gắt, phong trào nữ quyền, manh
nha khởi đi từ Mĩ và Anh quốc, bắt đầu le lói và dần dà lan toả khắp thế giới.
Yêu cầu của nó là một khí quyển xã hội mới, trong đó nam nữ bình quyền. Nhưng
quan trọng hơn, nó cố tẩy xoá những định kiến vốn sẵn hằn sâu trong nhận thức
xã hội về giá trị, khả năng và vai trò của người phụ nữ. Nhưng vẫn theo lời
Virginia Woolf thì vào thời của bà, phụ nữ vẫn chưa thực sự bình đẳng với phái
nam. Trong trường đại học, phụ nữ không được quyền đặt chân vào thư viện tra
cứu sách vở nếu không có thư giới thiệu của viện trưởng hay giáo sư phụ trách,
thậm chí, trong sân trường, phụ nữ không được phép đi trên thảm cỏ mà phải cuốc
bộ dọc theo lối đi trải sỏi. Trường học của nam sinh viên thì sung túc, thừa
thãi, toàn giáo sư giỏi nhất nước về giảng dạy; còn các ngôi trường nữ thì gần
như bị bỏ quên.
Châu Âu văn minh là như thế, còn Việt Nam mình thì sao?
Tôi không chối cãi sự thật là cho đến thời điểm hai thập kỉ 50 và 60 của thế
kỉ XX, tại miền Nam Việt Nam, vẫn còn tình trạng nam nữ không bình quyền (bộ
luật Gia Đình do bà Trần Lệ Xuân đưa ra chỉ là trò hề và, dù sao chăng nữa, nó
chết theo anh em ông Diệm). Trong khi đó, trên bình diện văn học, không biết Nữ
quyền luận đã xuất hiện ở Việt Nam lúc ấy hay chưa, nhưng sự hiện diện
đông đảo của những cây bút nữ là hiện tượng đáng lưu ý. Nó mặc nhiên hiện hữu
không như một thử thách hay thách đố nào mà như một sự kiện tự nhiên, không có
không được. Nó chẳng cần ai lớn tiếng kêu gào bênh vực cho nó. Tiêu biểu nhất
của thế hệ ấy có lẽ là những nhà văn, nhà thơ như Linh Bảo, Nguyễn Thị Vinh, Đỗ
Phương Khanh, Hoàng Hương Trang, Minh Đức Hoài Trinh . . . rồi đến những người
viết mạnh dạn hơn trong phong cách văn học, mới mẻ hơn trong loại hình, như
Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Tuý Hồng, Nhã Ca, Hồng Khắc
Kim Mai, Trần Thị NgH . . . Tất cả đã góp phần không nhỏ vào sức sống của văn
học miền Nam lúc đó. Sức sống ấy truyền ra đến hải ngoại. Ngày nay không ai
chối cãi sự kiện văn học Việt Nam hải ngoại sở dĩ còn tồn tại và có bản sắc
riêng là nhờ một đội ngũ đông đảo những ngòi bút sáng tạo của các nhà văn, nhà
thơ phái nữ! Thế hệ nào cũng có những người viết nữ xuất sắc bước ra ở hàng
đầu. Phong cách sáng tạo của họ không những khiến độc giả giật mình mà các nhà
văn, nhà thơ phái nam phải nhìn nhau ngẩn ngơ. Nó có tính công phá, nhất là ở
những phạm vi vẫn bị “ta-bu” như phạm vi tình dục. Và nếu văn học hải ngoại có
tương lai sống còn hay không thì tương lai ấy nằm trong tay các nhà văn, nhà
thơ phái nữ chứ không phải các nhà thuộc giới “mày râu.”
Bên trên tôi dùng từ “hiện tượng” để diễn tả sự xuất hiện của những người
viết phái nữ trong văn học Việt Nam. Nói như thế là sai. Nó không phải là hiện
tượng, nếu hiểu hiện tượng là nhận thức chủ quan, xuất hiện đột ngột, trong
khoảnh khắc rồi tan biến. Kì thực, nó là con đường kế thừa. Kế thừa một truyền
thống dân tộc luôn luôn quý trọng các tác phẩm văn học giá trị. Kế thừa một
truyền thống văn chương không kì thị nam nữ. Kế thừa một Hồ Xuân Hương, một
mình một cõi, đường bệ và ngạo nghễ, suốt chiều dài lịch sử trong khu vườn văn
nghệ Việt Nam.
Và tôi chẳng bao giờ sợ bị lưu đày ra hoang đảo bởi lúc nào tôi cũng thủ sẵn
tập thơ của vị nữ sĩ họ Hồ.
Trịnh Y Thư

(Trích từ Tạp bút “Chỉ Là Đồ Chơi”,
tạp chí Hợp Lưu, Hoa Kỳ xuất bản)