Chiến tranh chấm dứt. Anh đòi trở về quê nằng nặc, từ chối tất
cả mọi ưu đãi, thăng hàm, đề bạt, chỉ mong về quê. Với anh, cuộc chiến đã xong,
đất nước đã hòa bình và thống nhất. Quê hương là tiếng gọi duy nhất, sau mười hai
năm anh ra đi.
Suốt cả chuyến tàu trở về, dường như anh không thể ngủ cho
ra ngủ, cứ vừa thiêm thiếp là lại chập chờn mơ. Giấc ngủ bồng bềnh, lắc lư như
con tàu, đầy những cơn mộng mị. Khi thì vui, lúc lại buồn. Trong cơn mê sảng,
anh thấy thầy, thấy u, thấy rõ cả mảnh vườn xơ xác, mái nhà anh lợp rạ; lại thấy
mồn một cái cầu ao mà ngày đi, trước khi ra đình hai tiếng, để đứng vào hàng
quân, anh vẫn lột trần ra, lội xuống cố đóng thêm hai cái cọc tre vào đầu cầu,
giữ cho chắc tấm ván không cập kênh. Anh muốn vợ không sợ nữa khi ra ao giặt
giũ, rửa rau, vo gạo. Và, trong mơ, có lúc anh còn ngửi thấy cả mùi tóc, mùi miệng,
mùi môi, cả mùi nách nồng nồng nhưng đã ngấm vào anh của vợ. Mơ thấy vợ, rồi
con, đứa con gái anh chưa biết mặt, anh choàng tỉnh. Bật phắt dậy, không thể ngủ
được nữa! Ra đầu toa, đứng nhìn vào đêm đen thẫm, anh đốt liền ba bốn điếu thuốc.
Sao tàu đi chậm thế!?
Quay lại toa tàu nơi có chỗ của anh, lại mở ba lô lần đếm.
Cái này cho con gái, cái này cho thầy, cái này cho u, cho vợ nữa và, còn những
cái này, bao kỉ vật cuộc chiến của anh. Chiếc poncho rằn ri, mấy múi dù hoa.
Con dao găm Mỹ chuôi bằng các vòng gỗ kết vào nhau và túi mìn Claymore… Anh lật
đi lật lại trên tay vật cuối cùng, một bánh TNT, loại thuốc nổ cực mạnh. Thỏi
thuốc hình bánh khảo, màu vàng. Anh đưa lên mũi ngửi.
Mùi thuốc súng.
Cái mùi theo anh suốt bao năm, để mỗi khi hít phải, anh có cảm
giác rất lạ. Nửa đam mê, nửa như sợ hãi, lại như cho anh sức mạnh tựa khi mộng
du. Rồi tỉnh táo lạ thường. Anh là đặc công, lính đặc công quần xịp, bôi tro
đen kín khắp thân người, để anh lẫn vào bùn đất, vào bóng đêm, áp sát đồn, căn
cứ địch với nhiều kíp nổ và vài khối thuốc nổ đã tra kíp, dao găm và thủ pháo,
AK 47 giảm thanh báng xếp.
Ừ, cái thứ thuốc chết người ấy, tỏa ra một mùi vị khó quên,
không thể tả nổi. Mỗi khi bật chốt điểm hỏa; lửa đỏ bùng lên trong nháy mắt tạo
ra sức ép kinh khủng và mùi thuốc súng tỏa ra, để anh nhao vào điểm đánh khác
như tan vào nó. Mùi ấy sau bao ngày, lâu năm ngấm vào từng tế bào trong anh.
Anh ấn sâu thỏi thuốc vào ba lô. Hòa bình rồi chả cần nó nổ
nữa, anh rút kíp vất đi trước khi giữ nó làm kỉ vật.
Mỗi con người có một thời kỉ niệm. Khi con người ta thuộc về
một lớp lứa, một thế hệ, cụ thể hơn ở đây là anh đã thuộc về một đơn vị đặc biệt,
phải giữ nó để nhớ, nhớ về một thời họ đã trải qua, khi thỏi thuốc ấy, mùi khói
ấy cũng gắn bó với tất cả, trong cuộc sống sinh tử của đồng đội, thằng còn, đứa
mất. Và, trong cái mùi dễ khơi lại ấy ở anh từng khuôn mặt, từng kỉ niệm bừng
hiện ra thật rõ như hôm qua… Cái mùi theo anh suốt bao năm, mùi bi hùng của đời
lính đặc biệt…
Rồi con tàu cũng về tới ga Hà Nội.
Anh quyết định đi bộ, sải chân về làng. Ăn nhằm gì! Từ ga
Hàng Cỏ tới Kinh Bắc có bao xa? Anh muốn nhìn lại tất cả, từ ga tới làng anh,
bên kia con sông, nơi cách đây mười hai năm anh giã từ nó, chưa một lần trở lại.
***
Nhà đây rồi. Anh hồi hộp nới sợi thép buộc cổng. Rón rén, lách qua hàng dậu cúc
tần.
Những sợi tơ vàng quấn trong bụi cây, trong ánh trăng lấp
lánh sương ướt, vẫn phân biệt được màu vàng của dây tơ hồng và màu xanh của lá,
dầu là muôn kiếp, chúng cứ quấn quýt bên nhau.
Trăng chiếu xéo vào cửa nhà anh. Anh nhận ra bậu cửa vẫn
xiêu vẹo. Cái hiên đất nện nứt nẻ. Lòng anh thắt lại…
Bấy giờ không còn chần chừ được, anh lao vào nhà.
- Ai thế!- Có tiếng người rè, khản vọng ra.
Anh im lặng. Rón rén! Khe khẽ:
- Tôi, tôi đây.
Tiếng chân từ trong chái nhà bước ra chầm chậm. Đúng là vợ
anh rồi. Cái dáng ấy bao nhiêu năm sao mà lẫn với ai được.
Anh chợt sững lại. Vợ anh ư?! Sao trên tay lại có đứa trẻ
nào thế kia?
- Ai đấy? Tiếng người run rẩy hỏi.
- Tôi đây? – Anh sấn tới như gió, ùa vào ôm vợ.
Sao vợ anh hờ hững và chợt như xỉu ra.
- Thầy u đâu cả? – Anh nói, nhìn quanh gian nhà lạnh ngắt.
Người đàn bà hình như đã nhận ra anh:
- Trời ơi! Mình đấy à? Tôi mê hay tỉnh đây? Trời ơi, mình
hay ma?- Người đàn bà sụp xuống, lạy:
- Anh có khôn thiêng phù hộ mẹ con tôi, đừng làm tôi sợ.
Nói xong, người đàn bà bỗng khuỵu xuống, ngất xỉu. Anh đỡ vợ.
Đúng hơn là đỡ cả người đàn bà và đứa trẻ như con chim non bấy trong vòng tay.
***
Chuyện anh về cả xóm, cả làng ồn lên. “Thằng Thánh về rồi. Chuyến này chắc nó
giết con đĩ Thơm. Vợ con chó gì, ngủ với cả bố chồng, lại đẩy ông ta tới mức tự
tử”. Ối trời, cái làng nhỏ như bàn tay ếch ồn ĩ, xì xào, rì rầm, thì thào như
cái chợ âm phủ, rỉ rả quanh câu chuyện của gia đình anh. Nhưng anh không điếc,
tiếng người ta cứ như rót vào, đổ vào tai, như cố xoáy, day, cứa cho bằng nát
cõi lòng của anh mới thôi.
Anh trốn tránh tất cả. Trốn cũng không yên. Ngày, đêm nằm chết
lặng trong góc giường tối, ba bốn ngày không ra khỏi nhà. Người ta như vô tư tới
thăm người lính trận đột ngột trở về. Người thương anh ái ngại nhìn, ngập ngừng
nói. Nhưng anh lại như đau thêm vì tình thương ấy. Kẻ tò mò thọc mạnh cũng
nhanh chân đến. Cả hai điều ấy chỉ làm cõi lòng anh thêm nhức nhối, bởi người
lính từ cõi chết trở về đâu cần thương hại.
Hóa ra vượt qua hàng rào lửa ở chiến trường còn dễ hơn khi
nghe, nhìn, rồi cảm thấy nỗi đau rất rõ ràng của chính mình ở ngay trong cái
làng của anh. Anh quyết định rào kín cổng, quây tre cao hơn những những hàng
cúc tần, bít chặt cả những lỗ thủng to bé quanh nhà, thậm chí tất cả lỗ chó
chui.
Từng đêm vắt tay lên trán, anh nằm, giữa một bên là con gái
anh, mười hai tuổi, tính ra đúng là tuổi sinh ra từ ngày anh ra đi; một bên là
em trai anh mới hơn một tuổi… Chẳng thể nào ngủ nổi, và anh như muốn chôn sống
mình trong chính ngôi nhà, khu vườn cha ông, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi đã nuôi
anh lớn khôn.
Anh ôm đứa em trên tay khi nó cựa quậy, ú ớ đòi mẹ. Sao nó
giống anh thế? Anh đi sang mái nhà bên, nơi thầy u anh ở, thắp hương cho thầy,
rồi lại ôm lấy mẹ. Những khi ấy, anh để nguyên cho mẹ khóc. Anh không thể khóc
được nữa. Nước mắt mẹ ướt hết vai anh. Trên bàn thờ, cha anh cứ nhìn anh trân
trân. Cái ảnh mờ mốc, nhưng đôi mắt thì cứ thăm thẳm, nửa như mong chờ, nửa như
ngạc nhiên. Đen trắng hoang dại.
- Biết làm thế nào bây giờ, u ơi-
Có lúc anh muốn thốt lên câu ấy mà không sao mở miệng được.
Lại có đêm, anh đau thắt nhìn khuôn mặt vợ bơ phờ quỳ bên hương án. Anh dìu vợ
về chái nhà, lên giường nằm giữa hai đứa bé và thở rất dài.
Đau lòng quá. Anh chợt nhớ tới mùi thuốc súng. Lục ba lô, lấy
ra thỏi bộc phá TNT, lại bần thần vầy vò nó mãi trong tay. Cuối cùng nhìn lại
hai đứa trẻ, anh quay ra tìm con dao găm Mỹ đã giắt ở cửa nhà từ đêm anh về. Cạo
ra một ít thuốc, anh châm lửa Zippo. Một mùi thơm bay ra, quẩn vào anh, đánh thức
tất cả thần kinh của con người đã vượt qua biết bao khó khăn, sinh tử trận mạc,
cho anh bình tĩnh lại.
Phải sống! Anh còn mẹ già. Còn hai đứa trẻ. Con anh và đứa
kia. Đứa kia là em ruột của anh.
Phải sống! Nhưng sống như thế nào đây? Những khoảnh khắc
sinh tử trong chiến tranh vụt hiện. Nhưng hóa ra nó đâu khốc liệt như ngày hôm
nay? Cuộc đời bao mất mát, bao người hy sinh trong vòng tay anh cho anh hiểu điều
ấy. Hai đứa trẻ, con và em anh đòi anh phải sống, quên đi mà sống. Bản thân anh
cũng không hiểu rằng, mình còn yêu thương hay căm thù cái gì, cả con người mà
khi xưa anh rất yêu thương và mong chờ mười hai năm cho ngày trở về. Và, cả thầy
anh, người anh kính trọng và yêu thương. Không, tất cả đã qua rồi, cần gì tra hỏi
và truy cùng tận nguồn căn? Con người ta đâu chỉ sống cho quá khứ, phải sống
cho hiện tại và nhất là tương lai chứ!
Phải sống!
Hai đứa trẻ, con anh, em anh và mẹ già đòi anh phải sống, quên
đi mà sống. Bất giác anh đăm đăm nhìn lên mái nhà để tránh cái nhìn của vợ, cả
ánh mắt hai đứa trẻ. Nơi mái nhà anh nhìn lên có một góc xơ xác, đen mục vì mưa
thấm xuống. “Nơi đấy đã hơn năm nay, chả có ai dọi lại chỗ dột”. Cuộc chiến đã
đi qua mái nhà này và để lại một di chứng là nơi dột kia. Và, cả những góc
không nhìn thấy được. Nơi dột kia có thể soi lại, dọi lại, còn số phận mẹ anh,
các con anh? Và cả chính anh nữa?
Sớm ấy anh sang nhà bên ôm lấy mẹ.
- Thôi u ạ. Mọi sự con cho qua hết. Từ mai u dọn sang nhà
con đi!
- Không. U không sang đâu. Nhà anh, anh ở…
- Thôi mà u. Nhà con nó trót dại.
- U cũng chẳng trách nó, cả làng này ai mà chả nghĩ, anh hy
sinh rồi. Đã mười một năm nó vẫn kiên gan chờ anh. Chờ một người mà cả làng đều
bảo đã chết. Giấy báo tử cũng đã về kia. Tôi cũng chả trách thầy anh. Anh đi
ngày nào tôi ốm đau, mỏi mòn ngày ấy. Thầy anh cũng vò võ một mình. Rồi lại
thương nó, đàn bà con gái cũng chỉ có thì… Nhưng giá như ông ấy tìm thú vui ở
đâu, sao lại là nó… thì… thì tôi đâu hận.
- Thôi mà u. U trách thầy con làm gì! Con biền biệt chả tin
tức gì! Thôi nín đi u!
- Ừ, tôi cũng nghĩ vậy. Vì thế trời Phật cho tôi còn đến
ngày hôm nay để thấy anh về.
Anh cũng hiểu cả, muốn tha thứ, muốn quên tất mà vượt qua.
Nhưng… anh không biết phải sống tiếp như thế nào?
Anh cũng hình dung tất cả sự việc qua lời kể đứt quãng của vợ
về cái ngày sau đó, khi cái bụng vợ anh to dần, lộ ra không thể che giấu, để cả
làng náo loạn lên. “Thầy ngồi trong góc nhà tối khuya lắm, đêm ấy, cạnh cái vỏ
chai thuốc sâu đã trống rỗng…”. Rằng, “Miệng thầy sùi bọt, bàn tay thầy yếu ớt
run rẩy đưa về phía em. Vươn sát cái bụng đã to sáu tháng của em”. “Giữ lấy em
thằng Thánh! Nó chết rồi. Thầy có lỗi với hai vợ chồng mày cũng là vì dòng họ,
dòng tộc! Ai là người gìn giữ mồ mả? Ai giữ gìn đất đai?”. Rằng, thầy ho khi bọt
cứ sùi ra – Thánh cảm thấy cả giọng thầy anh yếu ớt van vỉ:
- Hãy tha thứ cho thầy. Thầy xuống đấy gặp nó đây. Thầy sẽ bảo
nó tha thứ cả cho con.
“Thầy dặn thế, nên trước đó em giận thầy lắm, em vẫn giữ lại
đứa em của anh, cho dòng họ Nguyễn làng này. Tất cả trai đinh làng ta đã ra đi
và nằm lại ở chiến trường cả… Ai ngờ… Mà sao anh vẫn sống sót trở về để xáo
tung hết cái ao bùn đang lắng này. Hu… hu…”.
Suốt đêm ấy vợ anh rấm rứt khóc. Anh nằm bên, trân trân nhìn
lên trần nhà, đau thắt như trăm ngàn nhát dao chém nát cả cõi lòng. Bao nhiêu
ngày vợ anh đã khóc? Bao nhiêu ngày từ khi anh ra đi? Anh nào có lỗi, anh nào
có lỗi?
Những năm ấy máy bay cứ rào rào bắn phá quanh làng anh. Máy
bay trút bao nhiêu bom bi xuống phá cả ngôi chùa làng anh, cạnh nhà máy thủy
tinh nhỏ của huyện. Từ Nam ra Bắc ai mà chả căm ghét cái lũ từ đâu tới đấy và
bao nhiêu người như anh phải ra đi. Ra đi là tất nhiên rồi!
Mà sao thầy anh lại chọn cái kết cục thảm khốc thế. Cả nhà
anh đều khổ đau thế. Cả thầy, vợ anh, cả anh và nhất là u anh. Nỗi đau đâu của
chỉ mình anh hay của riêng u anh? Rõ là thầy anh đã làm thế rồi tìm lấy cái chết
để tự giải thoát… Anh cũng hiểu vì sao vài lần vợ anh muốn tự vẫn, cả trước và
sau khi thầy mất. Rồi có lần, khi dọn dẹp bàn thờ giúp u, lục trong hốc tủ nhà
u, anh còn thấy một sợi dây thừng giấu kín trong mớ quần áo bạc phếch. Vậy là,
ai cũng muốn ra đi rồi vẫn ở lại với hai đứa trẻ thì sao anh lại hèn hơn họ?
Thánh mân mê con dao găm Mỹ. Con dao anh mài đã sắc bén, có thể cạo sồn sột đám
lông chân. Anh không thể đâm một nhát vào bụng mình dù anh đã cố mài cho thật
bén, thật nhọn và sắc!
Không, anh phải sống! Những đứa trẻ còn kia!
***
Thời gian qua đi, như con người ta không để tự cứa mãi vào vết thương của mình.
Anh cố gắng như con trâu đực kéo cày trên thửa ruộng, trong vườn nhà. Rồi cũng
có tiền mua ngói thay mái rạ. Mua một cái xe đạp cà tàng. Những đứa trẻ cũng lớn
lên, thấm thoắt hai năm. Mỗi khi nhìn con gái anh, cặp sách ngang hông, tóc chấm
ngang vai, tung tăng từ trường về như con sáo nhỏ, hát líu lo. Tiếng hát của
con bé như trườn lên rặng cúc tần có những sợi tơ vàng yên bình quấn quýt bên
nhau, bay qua cả rặng tre trước ngõ thanh bình, làm lòng anh chùng xuống, dịu
đi.
Anh ra cái vại đựng nước mưa bên gốc cau múc một gáo nước rõ
to, uống một hơi hết sạch. Mát. Sao mát thế mà bây giờ anh mới biết. Có tiếng
chim cu gù gù rất nhịp, nghe rất thanh bình quê anh, rồi những làn khói bếp êm ả
bay. Hình như mùi cơm mới…
Vâng, phải sống. Dù sao cũng vẫn phải sống. Yên hàn rồi cơ
mà!
Một ngày mùa hè nóng bỏng, cách giỗ thầy anh hai ngày. Mùa
hè, ai cũng như muốn điên vì cái nóng hầm hập cả ngày và đêm. Trước khi ra đồng,
vợ anh chặt hai buồng chuối và dặn, có thằng Hạ tới thì bán giá như thế, như thế.
Không được bớt xén! Từng ấy tiền vừa đủ mua sách cho con gái anh đấy!
Chờ mãi cũng chẳng thấy thằng Hạ tới mua chuối. Tới chiều
đang lúi húi bên vườn vật bùn từ dưới ao lên, thì u ở nhà thờ họ sang:
- Này, anh này. Buồng chuối đẹp quá. Cho u xin hai nải thắp
hương cho thầy, anh nhé.
- Vâng u lấy đi! – Anh chọn cắt hai nải lớn nhất cho u. Lại
hái cho u mớ chè xanh.- Mai u nấu cho họ hàng tới giỗ thầy con.
Đến sâm sẫm thì vợ anh về. Trong nhà nghe rõ tiếng vợ:
- Ai cắt hai nải chuối rồi?
- U lấy đấy! –Anh nói vóng ra.
- Thằng Hạ không sang hay nó tới mà thấy mất hai nải nó
không lấy?
Anh nói với ra:
- Tôi cắt cho u cúng thầy hai nải rồi. Ngày kia là giỗ thầy
mà.
- Này thì giỗ thầy này. – Nghe rõ tiếng dao phầm phập. Anh hớt
hải chạy ra.
Ngoài sân người đàn bà vung con dao phát bờ chém như điên dại
vào hai buồng chuối. Những nhát chém dồn ứ bao nhiêu uất hận?!
- Dừng tay lại! Dừng lại! Cô điên rồi.
Người đàn bà vẫn chém như điên như dại để tới khi cả hai buồng
chuối thành một đám lổn nhổn nát bét.
Anh không kiềm chế được, khi cái phần con người thường nhỏ
nhoi chôn cất ở đâu đấy trong anh bật ra từ kẽ nứt. Sao mà tha thứ nữa. Anh chỉ
vào mặt người đàn bà vừa xa lạ vừa thân thương kia:
- Cô làm tôi không thể chịu được nữa rồi. Cô phản bội tôi,
còn khinh mạn cả thầy tôi.
***
Anh bỏ nhà ra bờ sông ngồi, mang theo thanh thuốc nổ TNT.
Có mùi thuốc súng thoảng lan ra từ đấy, bên một bóng người
đàn ông đen sậm hằn bóng trên nền trời; hằn lên khi mặt trời phía Tây chìm dần;
một khối đỏ ối đang chìm dần, quanh nó là những đám mây như có bàn tay nào đang
rưới máu, loang lổ.
Đêm ấy anh về viết đơn li dị, điều mà suốt hai năm qua, anh
chưa bao giờ nghĩ tới.
U anh nhất định ở lại với hương án thầy, còn anh phải ra đi:
- Thôi con đi trước. Con đón u vào sau!
- Thôi anh đi đi. Đi cho khuây khỏa. Tôi chịu đựng một mình
quen rồi.
- Vâng, thế thì con đi, con sẽ gửi tiền về cho u.
Người kéo vó đêm, trên đoạn sông ngay sát bến đò, đầu làng của
Thánh, nửa đêm thấy hai bóng người len lén đi xuống nước.
Anh, chính là kẻ dùng kĩ năng lính đặc công, tránh đi đò,
bơi qua khúc sông đêm ấy.
Lúc ra tới giữa sông, tay trái vẫn đẩy bọc nilon làm phao,
trên phao đặt đứa con gái, anh chợt ngoái nhìn lại làng. Anh biết, vẫn có một
người đàn bà già nua, u anh cô độc đứng khuất dưới bờ giậu cúc tần, từ lúc cha
con anh rời nhà, nhìn mãi theo bóng cha con anh lủi thủi bước như kẻ đi trốn.
***
Bạn bè cũ ở thành phố Đà Nẵng bất ngờ thấy cha con anh quay
lại nơi anh từng chiến đấu, đã giang tay đồng đội đón cha con anh. Không một ai
được biết lí do anh quay lại vùng chiến trường cũ, ngoài thủ trưởng đơn vị cũ
nay cũng đã chuyển ngành về làm trong ban lãnh đạo thành phố. Ai tò mò hỏi, anh
bảo, vợ tôi chết rồi! Mà chết trong anh thật rồi!
Thủ trưởng cũ ân cần nói với anh, cậu cũng nên về đây với
chúng tớ. Tất nhiên chưa thể thu xếp nhà ở ngay được, phải ở tạm văn phòng. Cậu
có khả năng làm báo chí tuyên truyền, tớ phân công cậu về tờ báo của thành phố.
- Không có việc nào khó cả- Anh bình tĩnh nói.
Với anh, còn có điều gì sau hậu chiến quá đau đớn đã đẩy anh
vào sự chán sống như ngày anh trở về Bắc? Có lẽ đấy là điều khó khăn lớn nhất,
thử thách khủng khiếp nhất và anh đã vượt qua trong suốt hai năm trời. Khi rời
bỏ nơi ấy ra đi, anh đã bỏ lại tất cả nhà cửa đồ đạc cho vợ cũ và người em. Khó
nhất là lúc tạm biệt u. Bà dứt khoát không theo anh. U bảo, u sinh ra ở đâu thì
chết ở đấy. Nghèo khổ mấy cũng được. Mà cả một đời nghèo khổ rồi.
Nhưng một điều anh không thể vượt qua được là hành vi của
người vợ năm ấy. Nó đẩy anh tới lòng căm giận để chia li. Chả nhẽ cứ hận thù mãi
ư? Câu hỏi đó cứ lởn vởn như thường trực trong đầu anh, như vết thương cũ đau đớn
chẳng đợi chờ những ngày trở gió.
Anh cố lấy công việc để quên đi nỗi buồn tê tái để lại trên
quê nhà, nhưng nỗi đau âm ỉ vẫn lẽo đẽo theo anh, giày vò anh, khiến anh nhiều
đêm khó ngủ. Mỗi lần như thế, chờ đứa trẻ ngủ rồi, anh rón rén moi trong ba lô
“phong bánh khảo”, lấy con dao găm cạo ra một chút và đốt.
Mùi thuốc súng lại lan tỏa sau vệt lửa cháy vụt lên, chợt
như cho anh vừa an ủi, vừa tạo ra một mê lực nào đó để anh có thể ngả lưng, trằn
trọc nhắm mắt.
***
Thành phố Đà Nẵng sau chiến tranh một thời gian như trở mình vươn dậy. Những cải
cách liên tục của thành phố không chỉ cho nhân dân mà cho cả cha con anh. Rồi
anh cũng có một căn nhà nhỏ ven sông Hàn. Ngôi nhà quay ra biển để cha con có
những ngày tha thẩn dạo trên bãi cát trắng xóa và anh tư lự một mình nhìn về
phương Bắc.
Hình như con người có số phận. Nhất định có số phận như cái
ngày thành phố khánh thành tượng Bà Mẹ Âu Cơ sừng sững ngay lối ra biển
lớn.
Ngồi ở ghế những đại biểu cựu chiến binh hôm ấy, anh thực bất
ngờ khi có một bà mẹ đại biểu nhân dân ở dưới huyện Hòa Vang tìm anh, gọi tên
anh và nhất quyết nói, anh là người lính Mậu Thân đã bị thương và nằm lại ở nhà
bà trong hầm bí mật cả tuần.
- Con đúng là Thánh mà. Mẹ nghe người ta giới thiệu tên con
mới tìm con. Con nhớ không, mẹ đã đưa con ra tận ngã ba khi quân ta về đón con
– Bà mẹ tóc bạc phơ cứ nắm chặt lấy tay anh, dứt khoát bảo anh là người lính
nào đó.
Đúng là năm Mậu Thân anh đã tập kết nằm vài đêm ở cái làng ấy
rồi vào đánh Đà Nẵng. Nhưng chiến dịch đó, anh đâu có bị thương. Thủ trưởng ghé
tai anh: “Cậu lạ quá. Cả miền Nam này ai chả là mẹ của chúng ta. Cũng như những
bà mẹ từng nuôi cậu. Đừng để bà cụ thất vọng, ít ra là lúc này, dưới bức tượng Bà
Mẹ Âu Cơ mà chúng ta vừa dựng lên”.
Anh ngượng ngùng, gượng gạo ôm lấy bà mẹ. Thế là dưới tượng
đài Bà mẹ Âu Cơ của thành phố, anh được nhận một bà mẹ, người đã cưu
mang một thương binh nặng năm nào. Bà mẹ, sau bữa ấy, gặp ai là người quen đều
hớn hở khoe: “Tui đã nói nó dứt khoát quay lại mà, nó còn sống là tui sẽ tìm được
nó!”.
Cha con anh được đón về huyện Hòa Vang thăm cả gia đình đã từng
che giấu đơn vị anh. Thực không ngờ được, cô gái út của mẹ tên Thắm rất xinh đẹp
lại chưa có chồng, là giáo viên dạy văn trong trường con gái anh.
Bà mẹ càng tin anh chính là người lính bị trọng thương năm ấy.
Trong bữa ăn sum họp, bà như trẻ lại vài tuổi: “Mẹ biết, trước sau gì mẹ cũng
tìm thấy con mà”.
Cứ như thế, gia đình mẹ và Thắm đi lại với cha con anh nửa
năm.
Nhưng anh là người trung thực. Anh không thể dối trá. Anh đã
kể hết với cô giáo cuộc đời mình và nói rằng, anh không phải là người chiến sĩ
năm ấy.
Câu chuyện của anh lại rẽ sang chiều hướng khác. Cô giáo trẻ
không nói gì. Suốt cả buổi nói chuyện với anh, cô chỉ âm thầm gạt nước mắt. Như
con người ta có số phận cứ buộc với nhau bằng sợi dây vô tình. Cô giáo Thắm
chăm sóc kèm cặp con anh nhiều hơn, đi lại với cha con anh dày hơn và anh cũng
tự cảm thấy không thể thiếu cô được. Cô dặn, anh cứ để cho mẹ em tin là anh chiến
sĩ kia đã trở về. Có thể anh ấy đã hy sinh rồi. Nếu còn sống, chắc anh ấy đã về
thăm mẹ em… Được! Anh nói yếu ớt.
Ngày cưới thật là vui. Con gái anh cũng vui. Còn anh, không
hiểu sao, khi khách khứa đã về hết, anh lại chợt nhớ tới bụi cúc tần ở làng
anh.
Ánh trăng chênh chếch từ phía bờ biển soi vào nhà, run rẩy
như ánh trăng đêm ấy…
***
Mười năm nữa trôi qua. Dù phải nuôi con gái vào Sài Gòn ăn học,
tháng nào anh cũng vẫn gửi tiền về cho mẹ. Duy nhất một lần anh ra Bắc là lần về
chôn cất u anh. Anh để con gái sang với mẹ nó mà không lời thăm hỏi. Lặng lẽ về
và lặng lẽ ra đi.
Nhưng hơn mười năm là cả quãng dài bao sự kiện và chính thời
gian lại vừa xóa đi những uất hận vừa lại khơi gợi lại những kỉ niệm mà dù có
muốn quên cũng không dễ mà quên của lòng đau.
Anh nhẩm tính thằng em anh đã mười sáu tuổi. Nó lớn rồi.
Không biết nó sống ra sao? Dù ra sao thì nó vẫn là máu mủ của dòng họ nhà anh,
là em ruột của anh. Thế là Thánh bàn với vợ và khăn gói trở về Bắc.
Chuyến tàu đưa anh về không nhanh cũng chả chậm. Tàu dừng, từ
Hàng Cỏ, anh không đi bộ về làng như ngày nào. Đến đầu làng thì anh bảo xe ôm
quay ra cho anh đi bộ.
Anh men theo lối cũ. Làng anh, đường đi lối lại bao biến đổi
nhưng con đường ngõ vào của nhà anh vẫn thế. Bụi rào cúc tần vẫn còn đó trong
đêm, đứng hững hờ, xơ xác.
Anh bàng hoàng trước ngôi nhà của anh mà bây giờ là nhà người
vợ cũ. Vẫn tường gạch cũ nứt nẻ và xiêu vẹo từ hồi anh dựng lại. Mái ngói lô xô
viên lành viên vỡ. Anh đứng giữa một người đàn bà già nua tàn tạ và thằng bé mười
sáu tuổi gầy trơ xương vì thiếu ăn.
- Em ông bỏ học từ hai năm nay rồi. Tôi lo lắm. Làng xóm bây
giờ cứ xổng ra là trẻ con hư. Nghèo quá chả làm sao lo được – Người vợ cũ thều
thào nói – Nói rồi mò tay vào hộc tủ sứt sẹo nứt toang toác lần ra bọc quần áo
cũ, bà lôi ra một bọc giấy mở ra trước mắt anh:
- Đây là tất cả tiền của anh gửi cho u. Tôi lạy van thế nào
u cũng không tiêu lấy một xu. Nhà có rau thì ăn rau, có cháo ăn cháo. Khi trăng
trối, u gửi lại bảo tiền dành cho tôi. Nhưng mẹ con tôi cũng không dám tiêu
đâu. U bảo, nó thương tật thế, làm sao có tiền, chắc nó lại vay mượn của ai…
Suốt đêm anh không ngủ. Cứ lăn bên này lại lăn bên kia trong
nhà người em họ. Không ngờ người vợ anh chối bỏ vẫn lặng lẽ làm dâu. Một nàng
dâu không chồng…
Anh lại vục dậy và lục ba lô ra bờ sông ngồi. Anh châm lên
ngọn lửa Zippo đốt ít mùn thuốc nổ cạo ra từ thỏi bánh khảo màu đã sậm
vàng vì thời gian. Anh hít cho căng lồng ngực cái thứ khói hăng hăng thơm thơm
mùi thuốc súng rồi quyết định, không thể chần chừ nữa.
Móc máy điện thoại ra, bất kể khi đó đã gần hai giờ sáng,
anh gọi cho Thắm. Anh nói với vợ hoàn toàn tỉnh táo không hề khóc. Giọng anh
khô xác trong đêm. Anh không ngờ vợ anh, người con gái Đà Nẵng trả lời gọn lỏn:
- Dạ, em nghe rõ cả rồi. Anh đưa chị và em anh vào đây luôn
đi.
Bấy giờ người cựu binh hơn sáu mươi tuổi mới bật khóc. Khóc
nức nở! Nước mắt tràn trề má anh. Lúc anh quay lại nhà hai mẹ con, lại ngang
qua bụi cây có dây tơ hồng. Trong đêm tối vắng trăng, anh không nhìn rõ mọi vật,
nhưng anh vẫn thấy rõ tất cả. Bàn tay anh sờ nhẹ mơn man vào đám dây tơ nguyệt
trên bụi cúc tần mà nhà nào chả có.
Một tuần sau, có người làng đi tát nước tang tảng sáng bên
con đê, thoáng thấy anh đi trước, người vợ cũ và đứa bé lụi cụi theo sau, lặng
lẽ rời khỏi làng.
Ra đến đầu làng, anh dừng lại, trân trân ngó về hướng nhà
cũ, im lặng đến dăm phút rồi quay phắt ra, nắm tay thằng em phăng phăng kéo đi.
***
Việc thu xếp cho vợ cũ và em anh ở Đà Nẵng cũng không hề đơn
giản. Nhưng phải rõ ràng và minh bạch. Anh và Thắm bán cả hai xe máy. “Chúng ta
sẽ đi bộ một thời gian. An cư thì mới lạc nghiệp!“.
Cầm số tiền bán nhà của vợ cũ và tiền tiết kiệm, bán xe của
vợ chồng anh, Thánh mua cho hai mẹ con một căn nhà nhỏ trong hẻm phố. Cũng thật
may mắn, một doanh nghiệp đồng đội cũ nhận thằng bé vào xưởng sửa chữa ô tô. Thằng
bé cũng sáng dạ và ngoan. Đấy là bạn anh bảo thế.
Nhưng con người ta đâu chỉ ăm ắp niềm vui. Tháng ấy là có
ngày giỗ thầy anh. Làm cơm chung cho cả đại gia đình, anh mời cả mẹ vợ lên ăn
giỗ.
Chiều ấy anh lại lấy chiếc bánh khảo ra cạo ngoài
hiên và đốt.
Một vệt lửa và mùi thuốc súng lan ra. Lan ra tận nơi mẹ vợ
anh đang ngồi. Bà mẹ Hòa Vang thảng thốt bật dậy: “Mùi gì vậy hả các con?”.
Thắm thì không lạ gì. Những khi anh buồn, những lúc khó
khăn, chị đều thấy chồng làm cái động tác kì cục nhưng đã trở thành quá quen
thuộc với chị.
- Ảnh đốt thuốc nổ, mẹ à.
- Đâu, thuốc gì?
Bà mẹ chạy ra ngoài hiên, cầm lên thỏi thuốc màu vàng và sững
người:
- Trời ơi cái thứ giết người này. Cha mày cũng bị địch chất
quanh và đốt ổng bằng thứ này đây. Mày giữ nó làm gì hả con. Con đừng làm mẹ sợ…
– Nói rồi mẹ vợ anh bưng mặt khóc. Mớ tóc bạc rung lên.
Sự thật cực kì bất ngờ làm anh sững sờ và bừng tỉnh. Thánh
ôm lấy bà mẹ vợ, nhè nhẹ xoa lên vai bà:
- Con xin lỗi, con xin lỗi mẹ.
- Con vất ngay thứ ấy xuống biển cho mẹ. Vất ngay đi! – Bà mẹ
nói khi đôi vai vẫn rung lên, run rẩy.
Anh chộp lấy thỏi bộc phá, thỏi bánh khảo màu vàng sậm
đã gắn bó suốt cả tuổi thanh xuân trận mạc kiêu hùng của đời anh, cũng là cuộc
đời bất hạnh của riêng anh hay bao nhiêu người đã ngã xuống trên mảnh đất này.
Anh chạy như bay ra bờ biển. Ngay sau tượng đài Bà Mẹ Âu
Cơ với trăm bọc trứng, anh liệng nó ra xa. Liệng thật xa.
Ném xong thanh thuốc màu vàng, anh cứ đứng thừ ra. Chẳng hiểu
sao anh bỗng nhớ cái làng nhỏ xa xưa kia và trong đầu anh lại chợt bừng hiện
ra, rõ mồn một hình ảnh bờ dậu ven ngôi nhà cũ…
Những sợi tơ vàng quấn quýt trong bụi cây, dưới ánh trăng
lấp lánh sương ướt, vẫn phân biệt được màu vàng của cây tơ nguyệt và màu xanh của
lá, dầu là muôn kiếp, chúng vẫn quấn quýt bên nhau… khi khói bếp lam chiều muộn
bảng lảng lan ra như mây lành bay trên những ngôi nhà…
Nguyễn Văn Thọ
