Trong thập niên 1960, tại Miền Nam, trong dân gian đã truyền tụng câu “Nhứt
Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng,” nói lên lòng ngưỡng mộ
của người dân đối với bốn vị tướng lãnh trong sạch, thanh liêm của
QLVNCH trong một đất nước mà chuyện tham nhũng đã trở thành như một
chuyện bình thường trong giới lãnh đạo về chính trị và quân
sự.
Nhứt
Thắng
Vị tướng được kể tên trước nhứt là Trung Tướng Nguyễn Ðức Thắng
(1930- ).
Ông sinh
vào tháng 1-1930 tại tỉnh Cao Bằng, Bắc Việt, theo hoc Khóa I Trường
Sĩ Quan Trừ Bị Nam Ðịnh khai giảng ngày 1-10-1951 nhưng sau 2 tuần lễ
được chuyển vào Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức, và tốt nghiệp ngày
11-6-1952 với cấp bậc Thiếu Úy ngành Pháo Binh.
Ông lần
lượt thăng cấp như sau: 1
·
Thăng cấp Trung Úy vào tháng 2-1953
·
Thăng cấp Ðại Úy vào tháng 10-1954
·
Thăng cấp Thiếu Tá vào năm 1955
·
Thăng cấp Trung Tá tạm thời vào năm 1958
·
Thăng cấp Trung Tá thực thụ vào ngày 26-10-1959
·
Thăng cấp Ðại Tá tạm thời vào tháng 2-1961
·
Thăng cấp Chuẩn Tướng vào ngày 11-8-1964
·
Thăng cấp Thiếu Tướng nhiệm chức vào ngày 1-11-1965
·
Thăng cấp Trung Tướng nhiệm chức vào ngày 3-6-1968
Tướng
Thắng đã từng được bổ nhiệm vào chức vụ Tư Lệnh của một số đại
đơn vị của QLVNCH như sau:
·
Sư Ðoàn 1 Bộ Binh: từ ngày 1-1-1961 đến ngày 15-10-1961
·
Sư Ðoàn 5 Bộ Binh: từ ngày 16-10-1961 đến ngày 19-12-1962
·
Quân Ðoàn IV: từ ngày 29-2-1968 đến ngày 1-7-1968
Ông cũng
từng tham chính trong hai chính phủ liên tiếp:
·
Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ: Ủy Viên Xây Dựng Nông Thôn, từ ngày 1-10-1965
đến ngày 8-11-1967
·
Chính phủ Nguyễn Văn Lộc: Tổng Trưởng Xây Dựng Nông Thôn từ ngày
9-11-1967 đến ngày 23-2-1968
Trong dân
chúng VNCH đã truyền tụng khá nhiều câu chuyện, giai thoại về tính
cương trực, thanh liêm của ông. Một số giai thoại về đức tính
trong sạch, thanh liêm và yêu lính, yêu dân của ông đã được kể lại như
sau:
“Có lần
tướng Thắng đã cầm đầu một phái đoàn đi tham quan ngoại quốc. Trên nguyên tắc,
tùy thời hạn, mỗi sĩ quan trong phái đoàn đều được đổi mỗi người một ít ngoại tệ
để tiêu xài và chánh phủ cho riêng một ít tiền túi. Còn ông tướng trưởng
phái đoàn thì có thêm một ngân khoản gọi là "ngân sách tiếp tân." Khi
ra nước ngoài, tướng Thắng đã không xử dụng số tiền tiếp tân của chánh phủ cấp
phát. Lúc về nước, ông đã đem trả đủ số tiền không chi tiêu ấy vào ngân
sách cho chánh phủ… Vốn là một sĩ quan to con, khoẻ mạnh, hiếu động, tướng Thắng
thích tự thân xông pha với các chiến sĩ của ông trong những cuộc hành quân bình
định đại qui mô. Những dịp này, nếu có đồng bào hay thường dân từ trong
những vùng quê xa xôi, hẻo lánh, mất an ninh, bồng bế, dắt díu nhau đi ra, tướng
Thắng thường làm gương cho binh sĩ là đi bộ, nhường xe vận tải chở thường dân,
nhất là đàn bà và trẻ thơ… Hôm ấy là dịp tướng Thắng, tư lệnh vùng, đi thị
sát lãnh thổ trách nhiệm và hội họp bộ tham mưu tại tiểu khu Rạch Giá.
Như thế, tất nhiên vị tiểu khu trưởng kiêm tỉnh trưởng địa phương, theo lệ
thường, phải khoản đãi quan khách một bữa ăn thịnh soạn. Bữa ăn đó thường
diễn ra trong tỉnh đường và do công quỹ đài thọ. Nhưng tướng Thắng đã
không dự tiệc, mà lại ra ngồi ngoài xe Jeep, gân cổ lên "quạp" ổ bánh
mì thịt to tổ nái.” 2
Người Mỹ
cũng nghe danh ông là một vị Tướng lãnh trong sạch, thanh liêm, và làm
việc đàng hoàng, nghiêm túc, nên họ rất kính phục, ngưỡng mộ
ông. Chính vì vậy các giới chức quân sự và dân sự Hoa Kỳ tại
Việt Nam rất tích cực ủng hộ ông. Một tác giả Mỹ đã ghi nhận
như sau: “Thang had a reputation for honesty and hard work, which won him
not only the respect of his American civilian and military advisors but also
substantial American support for his revolutionary development campaign.” 3
(Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Thắng nổi tiếng lương
thiện và làm việc tích cực, điều này giúp ông có được không những
sự kính trọng của các cố vấn dân sự và quân sự của ông mà còn cả
sự hỗ trợ đáng kể của Hoa Kỳ đối với công cuộc vận động xây dựng
nông thôn của ông.”).
Cơ Quan
Trung Ương Tình Báo của Hoa Kỳ (Central Intelligence Agency = CIA), trong
nhiều báo cáo hàng tuần của họ về tình hình tại VNCH (Weekly report
on the Situation in South Vietnam) cũng đã có những nhận xét rất tốt
về con người, tác phong làm việc cũng như những suy nghĩ của ông về
vấn đề xây dựng nông thôn.
Báo cáo
hàng tuần của CIA, đề ngày 24-10-1966, ghi nhận như sau trong phần II,
Revolutionary Development (xây dựng nông thôn):
“He
was particularly critical of the “new life hamlet program” which was designed
to provide security from Viet Cong incursions and to provide a “new life” to
the peasant. Thang maintains that the latter goal of the program has not
been successfully achieved and in his words, “has not provided a new life for
the people in the hamlets.” There has been no true social revolution, he
asserted and “the Communists… have not been wiped out.” Thang implied
that government interference in the life of the peasants must be minimal and
that hamlet residents should control their own programs. The
Revolutionary Development Cadres, which he claims have started to take hold in
the provinces, should act mainly as an “emotional bridge” between the peasant
and the government, according to Thang.” 4
(Xin tạm
dịch sang Việt ngữ như sau: “Ông đặc biệt chỉ trích “chương trình
ấp tân sinh” được thiết kế nhằm đem lại an ninh chống lại các xâm
nhập của Việt Cộng và tạo ra “một đời sống mới” cho nông dân.
Thắng tin rằng mục tiêu thứ nhì của chương trình đã không được thực
hiện thành công và, theo lời ông, “đã không đem lại một đời sống mới
cho dân chúng trong các ấp.” Ông cũng xác nhận “Đã không có một cuộc
cách mạng xã hội, và, bọn Cộng sản đã không bị tiêu diệt.”
Thắng ngụ ý rằng sự can thiệp chính phủ vào cuộc sống của nông dân
nên giữ ở mức tối thiểu và nên để cho người dân trong các ấp quyền
kiểm soát các chương trình sinh hoạt của họ. Theo ông các Cán
Bộ Xây Dựng Nông Thôn, mà ông tin là đã bắt đầu bám rể được tại các
tỉnh, chỉ nên giữ vai trò làm “nhịp cầu giao cảm” giữa nông dân và
chính quyền mà thôi.”)
Vì bản tính trong sạch, thanh liêm, vì cách làm việc thẳng thắn,
nghiêm túc, với những tư tưởng về xây dựng nông thôn tích cực đó, lại
được sự ủng hộ mạnh mẻ của các giới chức Hoa Kỳ như vậy, Tướng
Thắng không thể tránh khỏi bị các tướng lãnh khác của VNCH nghi ngờ
và ganh ghét, khiến cho ông có lúc đã nghĩ đến việc từ chức.
Một báo cáo hàng tuần của CIA đã ghi nhận điều này như sau:
“There
is some indication that Minister of Revolutionary Development General Nguyen
Duc Thang may be thinking of resigning his post because of criticism from other
members of the Directorate… Part of the difficulty in Thang’s relationship with
other members of the Directorate may stem from the fact that he has received a
great deal of support and praise from American advisers, which has probably
generated envy and suspicion.” 5
(Xin tạm
dịch sang Việt ngữ như sau: “Có một số dấu hiệu cho thấy Ủy Viên
Xây Dựng Nông Thôn Tướng Nguyễn Ðức Thắng có thể đang nghĩ đến việc
từ chức vì sự chỉ trích từ các thành viên khác của Ủy Ban Lãnh Ðạo
Quốc Gia… Một phần của khó khăn trong mối quan hệ của Thắng với các
thành viên khác của Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia có thể bắt nguồn từ
việc ông nhận được rất nhiều ủng hộ và ca ngợi từ các cố vấn Mỹ,
một điều có thể đã tạo ganh tỵ và nghi ngờ.”).
Ðầu năm 1968, ông bàn giao Bộ Xây Dựng Nông Thôn cho Trung TƯớng Nguyễn
Bảo Trị, và ngày 29-2-1968 ông nhận chức Tư Lệnh Quân Ðoàn IV thay cho
Thiếu Tướng Nguyễn Văn Mạnh. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, vốn
dĩ không thích Tướng Thắng từ khi Tướng Thắng đại diện cho các tướng
lãnh thuộc phe Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã khuyên ông Thiệu rút lui
đừng ra tranh cử tổng thống hồi giữa năm 1967,6 đã bị áp
lực từ phía Hoa Kỳ phải chấp nhận việc bổ nhiệm Tướng Thắng là
một tướng lãnh được tiếng thanh nliêm làm Tư Lệnh Quân Ðoàn IV để thay
thế cho Tướng Mạnh đã bị tiếng tăm quá nặng nề về tham nhũng.
Vì vậy, Tướng Thắng đã không giữ được chức vụ này lâu. Tướng
Thắng phải bàn giao chức Tư Lệnh Quân Ðoàn IV cho Thiếu Tướng Nguyễn
Viết Thanh vào ngày 1-7-1968. Sau đó ông giữ chức vụ Chỉ Huy
Trưởng Pháo Binh một thời gian ngắn trước khi về Bộ Tổng Tham Mưu
ngồi chơi xơi nước trong chức vụ Phụ Tá Kế Hoạch cho Tổng Tham Mưu
Trưởng Cao Văn Viên. Năm 1973 ông xin nghĩ dài hạn không ăn lương để
đi học lại và cuối năm đó ông được cho giải ngũ. Cuối tháng
4-1975, ông được tái trưng dụng nhưng chưa kịp được bổ nhiệm chức vụ
gì trong quân đội thì VNCH đã sụp đổ. Sau ngày 30-4-1975, ông
định cư tại tiểu bang Connecticut, Hoa Kỳ.
Nhì
Chinh
Vị tướng được kể tên thứ nhì là Trung Tướng Phan Trọng Chinh
(1930-2014)
Ông sinh ngày 1-2-1931 tại tỉnh Bắc Ninh, Bắc Việt, theo học Khóa 5
Trường Võ Bị Liên Quân Ðà Lạt, mãn khóa ngày 24-4-1952 với cấp bậc
Thiếu Úy, và lần lượt thăng cấp như sau:7
·
Thăng cấp Trung Úy vào tháng 1-1954
·
Thăng cấp Ðại Úy ngày 29-9-1954
·
Thăng cấp Thiếu tá vào tháng 9-1956
·
Thăng cấp Trung Tá vào tháng 12-1963
·
Thăng cấp Ðại Tá nhiệm chức vào ngày 6-3-1965
·
Thăng cấp Ðại Tá thực thụ vào ngày 1-11-1965
·
Thăng cấp Chuẩn Tướng nhiệm chức năm 1966
·
Thăng cấp Chuẩn Tướng thực thụ năm 1967
·
Thăng cấp Thiếu Tướng nhiệm chức năm 1968
·
Thăng cấp Trung Tướng thực thụ năm 1973
Trong thời
gian 1954-1956, ông là vị Tiểu Ðoàn Trưởng đầu tiên của Tiểu Ðoàn 3
Nhảy Dù. Cuối tháng 9-1956, ông thăng cấp Thiếu Tá và đảm nhận
chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Ðoàn (đến năm 1959 đổi tên thành Lữ Ðoàn)
Nhảy Dù. Ngày 26-10-1960, ông rời Lữ Ðoàn Nhảy Dù và đảm nhận
chức vụ Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân. Ngày 11-11-1960, ông tham
gia cuộc đảo chánh của lực lượng nhảy dù dưới sự lãnh đạo của Ðại
Tá Tư Lệnh Nguyễn Chánh Thi. Cuộc đảo chánh thất bại, ông bị
bắt giam và bị Tòa án mặt trận Sài Gòn xử 18 năm khổ sai và đày ra
Côn Ðảo.
Sau khi
cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963 thành công, lật đổ được chế độ Ngô
Ðình Diệm, ông được Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng trả lại tự do, xóa
bản án, thăng cấp cho ông lên Trung Tá, và bổ nhiệm ông làm Tỉnh
Trưởng Pleiku. Ngày 6-3-1965, ông thăng cấp Ðại Tá nhiệm chức và
được bổ nhiệm vào chức vụ Tư Lệnh Sư Ðoàn 25 Bộ Binh.
Chính
trong thời gian nắm giữ chức vụ Tư Lệnh Sư Ðoàn 25 Bộ Binh này, Tướng
Chinh đã để lại những dấu ấn rõ rệt về các đức tính tốt đẹp của
ông: trong sạch thanh liêm, không bao giờ lợi dụng chức vụ để lo cho gia
đình, tận tâm trong công việc và nhiệm vụ, thương yêu, gần gủi và chia
xẻ mọi hiểm nguy với binh sĩ dưới quyền. Dưới đây là một số
giai thoại về các đức tính đó của ông đã được truyền tụng trong dân
gian:
“Trong
suốt mấy năm liền đảm nhiệm trọng trách đó, tôi thấy tướng Chinh không mấy khi
về Sài Gòn thăm gia đình vợ con và bạn bè. Ông bận lo thị sát chiến trường,
thanh tra các địa phương. Một đặc điểm đáng nêu lên đây là tướng Chinh đi
thanh sát toàn bằng xe, di chuyển trên đường bộ, mặc dù vùng ông trấn đóng rất
nguy hiểm. Bọn CS địa phương thường hay đặt mìn, bắn sẻ và phục kích từng
toán lẻ tẻ. Thỉnh thoảng về thăm gia đình, vợ con, ông cũng dùng xe chớ
không bao giờ dùng trực thăng như đa số các vị tướng lãnh khác. Đoàn xe của
tướng Chinh di chuyển thường chỉ gồm có một chiếc Dodge 4x4 trí súng đại liên với
mấy tay xạ thủ, một jeep ông ngồi cùng với tài xế và đại úy Đoàn, sĩ quan tùy
viên của ông.” 8
“Khoảng
năm 1966-67, đường Saigon – Đức Hòa còn là đường đất bụi. Hôm đó, tôi
trên xe cứu thương, trương cờ Hồng Thập Tự mà chạy. Xe tôi đi sau một
đoàn xe của quân đội, tôi bóp kèn, thì tất cả đều dạt vào trong. Nhưng đến
xe đầu tiên thì tôi biết là xe của ông Tướng (vì có gắn ngôi sao), xe tôi không
dám vượt qua. Nhưng tôi thấy Tướng Chinh vỗ vai người tài xế, và xe ông dạt
vào trong cho xe tôi chạy. Đến tối, tôi xin gặp Trung Tướng và xin lỗi.
Nhưng Tướng Chinh nói: “NGÔI SAO CỦA TÔI KHÔNG THỂ BẰNG SINH MẠNG CỦA MỘT
THƯƠNG BINH”. Câu nói đó đã chạm vào tim tôi, nước mắt tự rơi không kềm được. Một
câu nói thật ngắn, gọn, nhưng sao hay trong văn chương, đẹp trong tình người đến
như vậy???. Sau đó ông hỏi tôi: “Cô có biết tại sao Trung Tướng
Chinh là ông Tướng duy nhất không dùng trực thăng khi đi hành quân hay
không? Dạ, lúc đó cháu còn nhỏ nên không biết điều đó ạ! Tại vì ông
muốn chia xẻ tất cả những nguy hiểm, gian khổ cùng chiến sĩ, chứ không như các
ông Tướng khác cô à. Nước mắt tôi lại rơi cho điều vô cùng tốt đẹp ấy.
Có người còn kể: “Tướng Chinh thường nói: “Là lãnh đạo, lúc nào cũng phải
đi tiên phong.” ” 9
Với bản chất cương trực như thế, ông không tránh khỏi đã có những
đụng chạm với một số cố vấn Mỹ khi những vị cố vấn này có những
cử chỉ hay hành động có tính cách khinh thường hay nhục mạ QLVNCH.
MỘt sĩ quan trong bộ tham mưu Sư Ðoàn 25 Bộ Binh đã kể lại cuộc
đụng độ nẩy lửa giữa Tướng Chinh và viên sĩ quan đại tá cố vấn Mỹ
như sau:
“Những
chuyến đi thanh sát như thế, không mấy khi tướng Chinh đem viên đại tá Mỹ cố vấn
trưởng sư đoàn đi theo. Việc ấy không ngờ đã khiến cho tên cố vấn Mỹ, có
máu thực dân phong kiến và xấc láo, tên Hê-Li-Cớt, để tâm hiềm khích. Hôm
ấy tướng Chinh về nhà thăm gia đình một đêm. Sáng hôm sau, ông lên bộ chỉ
huy sư đoàn như thường lệ. Các bạn quân nhân nào đã từng phục vụ trong
vùng Hậu Nghĩa đều biết chuyện này. Mỗi sáng, trước khi cho phép xe cộ lưu
thông, gồm cả xe nhà binh lẫn xe dân sự, xe vận tải, xe đò, v.v...tiểu đoàn 25
công binh phải lo mở đường xong xuôi để bảo đảm an toàn cho mọi người.
Đoàn xe mở đường thường gồm có một chiếc GMC và 1 chiếc Dodge 4x4 chở đầy
các chuyên viên rà mìn. Bởi thế, không một xe nào, dù là xe của ông tướng
tư lệnh có thể vượt qua luật lệ ấy. Khi tướng Chinh vừa bước vào văn
phòng tư lệnh sư đoàn, viên đại tá Mỹ Hê-Li-Cớt, từ phòng bên cạnh đã bước
sang, hạch hỏi tướng Chinh, tại sao đến giờ này ông mới đến văn phòng.
Trước thái độ hỗng hách ấy, tướng Chinh đã dạy cho hắn biết bài học về
quân phong và quân kỷ, đồng thời cũng nhắc cho anh ta biết rằng, dù sao anh ta
cũng chỉ là một đại tá đang đứng trước một vị tư lệnh sư đoàn. Nhưng viên
đại tá Mỹ phách lối này đã chẳng biết phục thiện, về sau lại còn tỏ ra xấc láo
hơn nữa, nên tướng Chinh đã phải ra lệnh trục xuất tên cố vấn Mỹ ấy ra khỏi văn
phòng làm việc, sát vách với văn phòng của ông. Tướng Chinh đuổi tên
Hê-li-Cớt qua vùng Compound của Mỹ. Nhưng Hê-Li-Cớt cũng bướng, không chịu
dọn đi. Tướng Chinh liền ra lịnh cho trung tá Trà, chỉ huy trưởng tổng hành
dinh sư đoàn 25, dọn dùm đồ đạc của hắn qua bên Compound Mỹ, dưới sự bảo vệ của
quân cảnh VN. Bên phía Mỹ, chẳng hiểu viên đại tá thực dân này đã nói gì
vơi binh sĩ Mỹ dưới quyền của y, người ta thấy bọn quân cảnh Mỹ cũng lên súng
M.16 và gờm sẵn trong tư thế chiến đấu. Nhưng rất may đã không xảy ra vụ
sô sát đáng tiếc nào giữa binh sĩ Mỹ và binh sĩ VNCH thuộc sư đoàn 25BB.
Dù vậy, báo chí Mỹ và báo chí Việt Nam cũng đã bình luận sôi nôi một
thời về hành động cứng cỏi, để bảo vệ danh dự của quân đội VNCH và thể diện dân
tộc.” 10
Sau cuộc
đụng độ nảy lửa đó, các giới chức Hoa Kỳ tỏ ra không thích Tướng
Chinh, và vì vậy trong các báo cáo, tài liệu của Hoa Kỳ, Tướng Chinh
không được đánh giá tốt. Sau đây là một bằng chứng về nhận xét
lệch lạc của CIA về Tướng Chinh:
“The
controversial commander of the ARVN 25th Division, General Phan
Trong Chinh has stepped-up the tempo of hamlet construction to one month, and
consolidation phases to one and one-half months. Chinh’s order has been
issued in an apparent attempt to make the pacification effort in his area look
good.” 11
(Xin tạm
dịch sang Việt ngữ như sau: “Viên tư lệnh gây tranh cải này của Sư
Ðoàn 25 QLVNCH, Tướng Phan Trọng Chinh, đã tăng nhịp độ xây dựng các
ấp lên một tháng, và các giai đoạn củng cố các ấp lên một tháng
rưởi. Lệnh của Chinh đã được ban hành thấy rõ là nhằm giúp cho
cố gắng bình định trong khu vực của ông ta có vẻ tốt đẹp.”).
Dĩ nhiên,
nhận xét như vậy của người Mỹ về Tướng Chinh chắc chắn đã có ảnh
hưởng không tốt đến cấp lãnh đạo của VNCH. Sau đây là một bằng
chứng rõ rệt về việc Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã quyết định
không bổ nhiệm Tướng Chinh vào chức vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn II vào tháng
4-1972:
“MR 2
commander Gen. Ngo Dzu simply panicked and fled from Corps headquarters at
Pleiku to coastal Nha Trang, leaving the de facto leadership of ARVN forces in
the interior to MR 2 senior adviser John Paul Vann… Thieu was considering
replacing him with a known incompetent named Phan Trong Chinh. Acting on an
ostensibly spontaneous impulse, Bunker sent Thieu a list of candidates on which
Chinh's name did not appear. Thieu picked one that did, that of Gen. Nguyen
Van Toan.” 12
(xin tạm
dịch sang Việt ngữ như sau: “Tư Lệnh Vùng II Tướng Ngô Dzu hoảng hốt
bỏ bộ tư lệnh Quân Ðoàn ở Pleiku chạy về Nha Trang ở duyên hải, trên
thực tế giao quyền chỉ huy các lực lượng của QLVNCH trong nội địa
lại cho cố vấn trưởng Vùng II Jean Paul Vann… Thiệu đang tính thay thế
hắn [tức là Tướng Ngô Dzu] bằng Phan Trọng Chinh, một người đã
được biết là không có khả năng. Hành động theo phản ứng liền
lập tức, Bunker [đại sứ Mỹ tại VNCH lúc đó] gửi đến Thiệu
một danh sách của những ứng viên trong đó không có tên của Chinh.
Thiệu chọn một tên có trong danh sách, đó là Tướng Nguyễn Văn
Toàn.”).
Sau khi
rời chức vụ Tư Lệnh Sư Ðoàn 25 Bộ Binh, Tướng Chinh đã liên tục đảm
nhận các chức vụ sau đây:
·
Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn III, 1968
·
Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Quân Huấn, 1969-1973
·
Chỉ Huy Trưởng Trường Chỉ Huy và Tham Mưu, 1974-1975
Sau ngày
30-4-1975, ông định cư tại thành phố Rockville, tiểu bang Maryland, Hoa
Kỳ. Ông qua đời ngày 17-11-2014 tại thành phố Vienna, tiểu bang
Virginia, Hoa kỳ, hưởng thọ 85 tuổi. Lễ an táng của ông đã được
cử hành rất trọng thể và theo đúng lể nghi quân cách dành cho một
tướng lãnh của QLVNCH.
Tam
Thanh
Vị tướng được kể tên thứ ba là Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh
(1931-1970)
Ông sinh ngày 31-3-1931 tại Tân An, Long An, theo học Khóa 4 Trường Võ
Bị Liên Quân Ðà Lạt, mãn khóa ngày 1-12-1951 với cấp bậc Thiếu Úy,
và lần lượt thăng cấp như sau: 13
·
Thăng cấp Trung Úy tháng 12-1953
·
Thăng cấp Ðại Úy năm 1955
·
Thăng cấp Thiếu Tá tạm thời ngày 26-10-1959
·
Thăng cấp Trung Tá nhiệm chức năm 1964
·
Thăng cấp Ðại Tá nhiệm chức ngày 9-10-1965
·
Thăng cấp Ðại Tá thực thụ tháng 12-1965
·
Thăng cấp Chuẩn Tướng nhiệm chức ngày 19-6-1966
·
Thăng cấp Chuẩn Tướng thực thụ ngày 19-6-1967
·
Thăng cấp Thiếu Tướng nhiệm chức ngày 19-6-1968
Ông cũng
đã chỉ huy các đơn vị tác chiến sau đây:
·
Trung Ðội Trưởng, Trung Ðội 12, Ðại Ðội 51, Tiểu Ðoàn 15 Việt Nam vào
tháng 12-1951
·
Ðại Ðội Trưởng, Tiểu Ðoàn 15 cuối năm 1952
·
Tiểu Ðoàn Trưởng, Tiểu Ðoàn 707 ÐỊa Phương vào năm 1953
·
Trung Ðoàn Trưởng, Trung Ðoàn 12, Sư Ðoàn 7 Bộ Binh năm 1962
·
Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh ngày 9-10-1965
·
Tư Lệnh Quân Ðoàn IV ngày 1-7-1968
Tướng
Thanh nổi tiếng trong QLVNCH là một sĩ quan gương mẫu và trong sạch,
thanh liêm với khá nhiều giai thoại về đức tính liêm khiết và tận
tụy với quân vụ của ông, như trong lời kể lại sau đây:
“Vào
giữa năm 1968, Thiếu Tướng Nguyễn Viết Thanh được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Quân
Đoàn IV, Quân Khu IV. Lúc đó tôi làm Tổng Thư Ký Hội Đồng Tái Thiết Phát
Triển kiêm Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Điều Hợp Tỉnh Kiên Giang. Hàng
tháng tôi thường về họp tại Trung Tâm Điều Hợp Quân Khu do Đại Tá Phạm Văn Út
làm Trung Tâm Trưởng và thỉnh thoảng có ghé qua thăm Thiếu Tướng Thanh.
Nhân một buổi họp cuối năm, tôi có chở theo vài món đặc sản Rạch Giá như nước mắm
nhĩ Phú Quốc, khô cá thiều và một ít bánh ú lá dừa biếu gia đình ông. Vì
biết tôi có quà cho Tướng Thanh nên Trung Tá Tỉnh Trưởng Kiên Giang cũng nhờ
tôi chở theo một số quà biếu Tư Lệnh. Ông nghe tiếng Thiếu Tướng Thanh rất
thanh liêm, không ưa vụ biếu xén quà cáp, nên ông không dám đích thân đi biếu
mà nhờ tôi là chỗ thày trò cũ, may ra được nhận chăng? Hôm đó sau buổi họp
ở văn phòng Đại Tá Út, tôi qua thăm Tư Lệnh. Thiếu Tướng Thanh niềm nở tiếp
tôi, hỏi thăm chuyện vợ con, hỏi thăm Thiếu Tướng Khuyên, rồi ông nói:
"Bây giờ cũng trưa rồi, Quý qua bên nhà ăn cơm với vợ chồng tôi nhé, ăn
chay đó." Tôi thưa: "Cám ơn Thiếu Tướng, hôm nay đàn em không
xin được trực thăng, phải đi đường bộ, về trễ sợ nguy hiểm, lần sau sẽ xin ghé
tư dinh thăm chị luôn." Tôi tranh thủ trình bày vụ biếu quà, ông bảo:
"Thôi được, món nào của anh thì tôi nhận, nhưng chỉ lần này thôi nhé.
Còn của anh Tỉnh Trưởng thì anh đem về nói là tôi rất cám ơn, nên đem mấy
món quà đó tặng cho anh em thương bệnh binh nhân dịp Tết cho họ mừng. Đó
là điều mà cấp chỉ huy nên làm." Bất giác tôi chợt nhớ đến cái Tết 10 năm
trước ở Vĩnh Bình. Sáng mồng một Tết, ông cùng Thiếu Tá Khuyên vào bệnh viện tỉnh
thăm thương bệnh binh. Rồi suốt ngày mồng hai Tết, ông hết đứng lại ngồi
đăm chiêu trước bản đồ hành quân để nghiên cứu địa hình và tình hình địch.
Hình như ông nóng lòng trông cho mau đến ngày mồng 3, hết hạn hưu chiến để
tổ chức hành quân Bình Định. Cuộc đời của ông chỉ biết phục vụ, phục vụ
và phục vụ, chí công vô tư, xả thân vì nước.” 14
Ngoài đức
tính cương trực và thanh liêm giống như hai Tướng Thắng và Chinh, Tướng
Thanh còn một đặc điểm nữa là gần gủi và chăm lo cho dân rất nhiều
trong thời gian ông đảm nhiệm chức vụ Tỉnh Trưởng tại 2 tỉnh Long An
(1961) và Gò Công (1963). Do đó mới có một chuyện xảy ra như sau
ngoài sức tưởng tượng của mọi người như trong lời kể lại của chính
Chuẩn Tướng Hoa Kỳ William R. Desobry (1918-1996), Cố Vấn Trưởng Vùng
IV:
“Vị
Tướng Cố Vấn Quân Đoàn IV đã kể chuyện Tướng Thanh được ái mộ như thế nào:
Trong một dịp, lúc đó Tướng Thanh còn làm Tư Lệnh Quân Đoàn IV ở Cần thơ, ông
cùng vị Tướng Cố Vấn bay lên Bản Doanh BTL Sư Đoàn 7 Bộ Binh ở Mỹ Tho. Hai vị
Tướng ăn cơm trưa một cách kín đáo trong một nhà hàng ở Thị Xã; người ta xầm xì
rỉ tai và mọi người cuối cùng rồi cũng hay tin. Dân chúng và binh sĩ ùn
ùn kéo đến chào mừng vị Tư Lệnh cũ của họ. Trong suốt cả tiếng đồng hồ, Tướng
Thanh phải gật đầu, bắt tay liên tục cả trăm người.” 15
Ngoài đức
tính cương trực, thanh liêm, lúc nào cũng chăm lo cho đời sống của binh
sĩ và dân chúng trong vùng trách nhiệm của mình, Tướng Thanh còn
được cấp dưới kính trọng vì sự dũng cảm gần như huyền thoại của
ông trong trận mạc. Ông là một trong số rât ít những tuớng lãnh
của VNCH được Chính phủ Hoa Kỳ ban thưởng huy chương cao quý Silver Star
khi đã là một tướng tư lệnh vùng như chúng ta thấy trong bản tuyên
dương sau đây:
Bản
Tuyên Dương Kèm Theo Huy Chương Silver Star Trao Tặng Thiếu Tướng Nguyễn
Viết Thanh Tư Lệnh Quân Ðoàn 4 Do Hành Ðộng Dũng Cảm Phi Thường
Ngày
24-2-1969 Tại Tân Châu
(Xin tam
dịch sang Việt ngữ như sau: “Tồng Thống Hoa Kỳ, được phép do Ðạo
Luật của Quốc Hội ngày 9-7-1918, hân hạnh ban thưởng huy chương Ngôi Sao
Bạc cho Thiếu Tướng Nguyễn Viết Thanh, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vì
sự dũng cảm phi thường trong hành động vào ngày 24-2-1969, gần Tân
Châu, trong lúc đang phục vụ với tư cách Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn IV,
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Vào ngày hôm đó, Chi Ðội A, thuộc
Chi Ðoàn 1 của Thiết Ðoàn 12 Kỵ Binh và Ðại Ðội 226 Ðịa Phương Quân
đụng nặng với Tiểu Ðoàn Mười Trí. Việt Cộng đã bắt đầu cuộc
tấn công ác liệt với rốc-kết, bích kích pháo, và các súng
liên thanh nhỏ vào cánh phải của đơn vị kỵ binh. Tướng Thanh
phản ứng ngay lập tức bằng cách thiết lập liền một căn cứ yểm trợ
hỏa lực và sau đó ra lệnh cho cạnh trái phản công để tái lập thế
trận. Ðịch quân phản công và đẩy lui quân bạn. Hoàn toàn
bất kể sự an nguy của bản thân, Tướng Thanh xông lên giữa trận, kêu
gọi và cỗ vũ binh sĩ của mình, tiếp đó ông sử dụng một thiết vận
xa để tiến về phía Ðại Ðội 226 Ðịa Phương Quân, tập họp họ lại và
ra lệnh phản công. Tướng Thanh từ trên nóc chiến xa chỉ huy cuộc
phản công mãnh liệt vào địch quân. Ðịch quân bị đẩy lui với rất
nhiều thương vong, và quân ta chiếm lại trận địa. Sư hiện diện
của ông tại mặt trận, vào lúc quyết định nhứt của trận đánh, là
tác nhân trực tiếp khôi phục lại sức chiến đấu của Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa. Sự anh dũng nổi bật trong hành động của Tướng Thanh
phản ánh rõ rệt công trạng của ông cũng như của Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa.”).
Ngày
2-5-1970, lúc 1 giờ 40 trưa, trong khi đang thị sát mặt trận tại biên
giới Việt-Miên, ông đã tử nạn khi chiếc trực thăng chở ông bị rớt vì
đụng phải một chiếc trực thăng Cobra. Ông được Tổng Thống VNCH
Nguyễn Văn Thiệu truy thăng lên cấp Trung Tướng và truy tặng Ðệ Nhị
Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương.
Tứ
Trưởng
Vị tướng được kể tên thứ tư là Trung Tướng Ngô Quang Trưởng (1929-2007)
Ông sinh ngày 13-12-1929 tại tỉnh Bến Tre (sau đổi tên là Kiến Hòa),
theo học Khóa 4 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức, mãn khóa ngày
1-6-1954 với cấp bậc Thiếu Úy, tình nguyện vào Binh chủng Nhảy Dù,
và là một Trung Ðội Trưởng của Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù. Ông đã
lần lượt thăng cấp như sau:16
·
Thăng cấp Trung Úy ngày 1-12-1955
·
Thăng cấp Ðại Úy năm 1961
·
Thăng cấp Thiếu Tá năm 1964
·
Thăng cấp Trung Tá tháng 4-1965
·
Thăng cấp Ðại Tá nhiệm chức ngày 19-6-1966
·
Thăng cấp Chuẩn Tướng nhiệm chức ngày 4-2-1967
·
Thăng cấp Thiếu Tướng nhiệm chức ngày 3-6-1968
·
Thăng cấp Trung Tướng nhiệm chức ngày 1-11-1971
Ông nổi
tiếng là một tướng lãnh rất gương mẫu về quân phong, quân kỷ, rất
tận tụy với trách nhiệm, và luôn luôn có mặt tại những điểm nóng
trong khu vực thuộc trách nhiệm của mình, như đoạn văn mô tả sau đây:
“Tư-Lệnh
Quân-Ðoàn I & Quân-Khu I Ngô Quang Trưởng được hầu hết mọi người
khâm-phục. Ông đã dành nhiều tâm-trí, công-sức, và thì-giờ vào
các cuộc hành-quân hơn là vào công việc văn-phòng. Ông
thường-xuyên mặc chiến-phục, đội mũ sắt, mang áo giáp, bay đến tận từng
đồn + chốt khắp Quân-Khu, để quan-sát, nghiên-cứu tình-hình tại chổ,
và kiểm-tra tác-phong, kỷ-luật của các cấp quân-nhân. Bản-thân
ông ít thích truy-hoan, nên cấm sĩ-quan thuộc quyền đến khiêu-vũ ở
các nhà hàng ca + vũ + nhạc, khiến các Tỉnh-Trưởng và Thị-trưởng
cấm luôn cả các phòng trà ca-nhạc tổ chức khiêu-vũ cho bất cứ giới
khách hàng nào.” 17
Ông cũng
nổi tiếng là một tướng lãnh trong sạch, thanh liêm, và không dung túng
cho cấp dưới làm bậy, xâm phạm tài sản của dân chúng, như trong giai
thoại sau đây:
“Trong
giữa năm 1974, Ông đã có một hành động rất ngoạn mục. Lính của một sư
đoàn tại vùng I đã lùa một đàn bò của dân chúng, đem cất giấu tại thung lũng Quế
Sơn. Khi nghe dân chúng tố cáo, ông đích thân bay đi tìm và đem trao trả
cho khổ chủ. Số bò còn thiếu, ông trừ lương từ Trung Ðoàn Trưởng đến binh
sĩ, lấy tiền mua bò trả đủ số cho dân, không dung dưỡng bao che các việc làm mờ
ám của thuộc cấp, như một số các vị chỉ huy khác.” 18
Ông cũng
là một trong số rất ít các tướng lãnh hoàn toàn không có tham vọng
chính trị và không bao giờ dính líu vào các âm mưu, biến cố chính
trị. Ông dành toàn thời gian cho quân vụ. Cũng như Tướng
Thanh, Tướng Trưởng là một trong số ít các vị tướng lãnh của QLVNCH
đã chỉ huy các đơn vị tác chiến từ cấp thấp nhứt đến cấp cao nhứt:
·
Trung đội trưởng: tháng 7-1954 (một trung đội của Tiểu Ðoàn 5 Nhảy
Dù)
·
Ðại đội trưởng: đầu năm 1955 (Ðại Ðội 1, Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù)
·
Tiểu đoàn trưởng: năm 1961 (Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù)
·
Tư lệnh sư đoàn: năm 1966 (Sư Ðoàn 1 Bộ Binh)
·
Tư lệnh quân đoàn: năm 1972 (Quân Ðoàn IV và Quân Ðoàn I)
Ông đã
tham dự nhiều trận đánh quan trọng khi còn phục vụ trong Binh chủng
Nhảy Dù, nhưng nổi tiếng nhất là trận Hắc Dịch vào tháng
2-1965. Lúc đó ông còn mang cấp bậc Thiếu Tá và là Tiểu Ðoàn
Trưởng Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù. Hắc Dịch là một mật khu của Công
Trường 7 (tức Sư Ðoàn 7) của Việt Cộng nằm trong một khu rừng ở phía
Bắc Núi Ông Trịnh thuộc tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa). Cuộc hành quân
tấn công vào Hắc Dịch do Bộ Tư Lệnh Vùng III tổ chức để càn quét
các lượng Cộng quân đã gây thiệt hại nặng cho Tiểu Ðoàn 4 Thủy Quân
Lục Chiến (TQLC) trong trận Bình Giả (gần khu vực mật khu Hắc Dịch,
vào cuối năm 1964 đầu năm 1965). Cuộc hành quân này được đặt tên
là Chiến dịch Nguyễn Văn Nho (đặt theo tên của vị Tiểu Ðoàn Trưởng
Tiểu Ðoàn 4 TQLC đã tử trận trong trận Bình Giả) và bắt đầu vào
ngày 9-2-1965. Tham gia cuộc hành quân có Chiến Ðoàn II Nhảy Dù
dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Trương Quang Ân (về sau thăng cấp Chuẩn
Tướng, làm Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh, và tử nạn trực thăng vào ngày
8-9-1968). Chiến Ðoàn II Nhảy Dù gồm 3 tiểu đoàn trong đó Tiểu
Ðoàn 5 của Thiếu Tá Ngô Quang Trưởng là chủ lực. Tiểu Ðoàn 5
đã gây thiệt hại rất nặng nề cho 2 Trung Ðoàn Q761 và Q762 của Công
Trường 7, với “hằng trăm xác cộng quân
tràn ngập chung quanh tuyến phòng thủ, đầy
dẫy hằng trăm vũ khí đũ loại từ AK47, súng
trường CKC, súng chống chiến xa B40,
B41 đến trung liên nồi, đại liên 12.8 ly, cối 61 ly, đạn
dược quân trang quân dụng nhiều vô kể.” 19 Thiếu Tá Ngô
Quang Trưởng được vinh thăng lên Trung Tá đặc cách tại mặt trận và
được ban thưởng Ðệ Tứ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương. Sau trận này,
ông rời Tiểu Ðoàn 5 về làm Tham Mưu Trưởng Lữ Ðoàn Nhảy Dù, và qua
năm sau, 1966, khi Lữ Ðoàn Nhảy Dù được nâng lên thành Sư Ðoàn, ông
được bổ nhiệm vào chức vụ Phó Tư Lệnh.
Tuy nhiên,
đối với gần như tất cả quân dân VNCH, ông nổi tiếng nhứt về chiến
công giữ vững được Huế và tái chiếm Quảng Trị trong trận Tổng Tấn
Công của Cộng sản vào Mùa Hè năm 1972 khi ông được Tổng Thống Nguyễn
Văn Thiệu bổ nhiệm vào chức vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn I thay thế Trung
Tướng Hoàng Xuân Lãm.
Giữa trưa
ngày Thứ Năm, 30-3-1972, trong Mùa Lễ Phục Sinh, Cộng quân bắt đầu
cuộc Tổng Tấn Công trên khắp lãnh thổ của VNCH. Riêng tại vùng
giới tuyến ngay phía Nam vĩ tuyến 17, sau một loạt pháo kích dữ dội,
3 sư đoàn chủ lực của Bắc Việt (các Sư Ðoàn 304, 308, và 320B), vượt
Vùng Phi Quân Sự, tấn công vào phía Bắc và phía Tây của tỉnh Quảng Trị.
Phòng thủ lãnh thổ của tỉnh Quảng Trị là trách nhiệm của Sư Ðoàn 3
Bộ Binh dưới quyền tư lệnh của Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai (tốt nghiệp
Khóa 10 Trường Võ Bị Liên Quân Ðà Lạt), gồm có 3 trung đoàn (2, 56 và 57) và
được tăng viện với 2 lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến (Lữ Ðoàn 147 TQLC
và Lữ Ðoàn 258 TQLC). Tất cả các căn cứ đóng quân và căn cứ
hỏa lực của Sư Ðoàn 3 lần lượt thất thủ rất bi thảm, trong đó có
vụ đầu hàng của cả Trung Ðoàn 56 tại trại Carroll dưới quyền chỉ huy
của Trung Tá Phạm Văn Ðính (tốt nghiệp Khóa 9, Trường Sĩ Quan Trừ Bị
Thủ Ðức, năm 1960) làm chấn động QLVNCH và Ðồng Minh. Ngày
1-5-1972, tỉnh Quảng Trị thất thủ, Sư Ðoàn 3 Bộ Binh tan rã, tháo
chạy về Huế ở phía Nam, dân chúng thạy theo, bị địch quân truy kích
rất tàn bạo, tạo ra “Ðại Lộ Kinh Hoàng” trên đoạn Quốc
Lộ 1 giữa Quảng Trị và Thừa Thiên (Huế), và kế tiếp gây ra cảnh hỗn
loạn ngay trong thành phố Huế, với một số binh sĩ QLVNCH rời bỏ đơn
vị, vô kỷ luật, cướp bóc và hiếp dân. Trong cảnh hỗn loạn này,
người dân Huế còn có thêm nổi lo sợ Huế có thể sẽ lại rơi vào tay
Cộng quân và họ nhớ lại trong kinh hoàng vụ tàn sát hồi Tết Mậu
Thân 1968, và họ không còn cách nào khác hơn là tìm mọi cách thoát
ra khỏi Huế, làm cho tình hình rối loạn tại Huế càng tệ hại thêm.
Ngày
3-5-1972, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm Trung Tướng Ngô Quang
Trưởng làm Tư Lệnh Quân Ðoàn I thay cho Trung Tướng Hoàng Xuân
Lãm. Ngay buổi chiều hôm đó, Tướng Trưởng cùng bộ tham mưu của
ông bay ra Huế liền lập tức. Ngày hôm sau, ông ban hành 2 lệnh
quan trọng: 1) Thiết lập Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Quân Ðoàn I ngay tại
phía Bắc thành phố Huế với nhiệm vụ chận đứng tất cả các cuộc
tấn công của Cộng quân; và, 2) Tất cả quân nhân, lạc đơn vị, bỏ đơn
vị, hay không còn đơn vị nữa đều phải lập tức trình diện tại những
nơi có các cấp thẩm quyền quân sự; quân nhân nào bất tuân lệnh này
sẽ bị bắn bỏ tại chổ. Trật tự lập tức được vãn hồi
ngay. Ðồng thời, dân chúng Huế rĩ tai nhau là “Tướng Trưởng
đã về” và tất cả mọi người yên tâm không bỏ chạy nữa.
Chuyện này không có gì lạ vì người dân Huế hết sức tin tưởng Tướng
Trưởng vì họ đã biết quá rõ tính cương quyết và tài dụng binh của
ông trong Trận Mậu Thân 1968 khi gần như toàn thành phố Huế đã lọt
vào tay Cộng quân ông vẫn tiếp tục chiến đấu cùng với quân nhân các
cấp của Sư Ðoàn 1 Bộ Binh mà ông là Tư Lệnh và giữ vững được tổng
hành dinh tại Mang Cá trong Thành Nội Huế, và sau đó phản công giải
phóng Huế. Trong suốt lịch sử của VNCH và chiến tranh Việt Nam, chưa
bao giờ có hiện tượng này: một cá nhân có thể làm thay đổi
diễn tiến của cuộc chiến một cách rõ rệt như vậy.
Sau khi ổn
định tình hình và chận đứng được cuộc tấn công của Cộng quân vào
tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế, Tướng Trưởng lập tức lên kế hoạch
phản công để chiếm lại Quảng Trị.20 Ðịch quân cố thủ trong
Cổ Thành Quảng Trị chống trả mãnh liệt. Tướng Trưởng phải sử
dụng đến 2 đại đơn vị thiện chiến nhứt của QLVNCH là Sư Ðoàn Nhảy
Dù và Sư Ðoàn TQLC để tấn công tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị.
Trận đánh này trở thành trận đánh gây thương vong nhiều nhứt cho cả 2
phía trong Chiến tranh Việt Nam. Sau cùng chính các binh sĩ của
Ðại Ðội 2, Tiểu Ðoàn 3, Lữ Ðoàn 147 TQLC đã thượng kỳ VNCH trên Cổ
Thành Quảng Trị “vào lúc 12 giờ 45 ngày 16/9/1972 sau 51 ngày đêm
nhận lãnh trách nhiệm mà Sư Ðoàn Dù giao lại và sau 78 ngày cuộc
Hành quân tái chiếm Quảng trị được khởi sư.” 21
Khả năng
lãnh đạo và điều quân ở cấp đại đơn vị của Tướng Trưởng không phải
chỉ nổi tiếng trong hàng tướng lãnh của QLVNCH mà nay cả các cấp
tướng lãnh của quân đội Hoa Kỳ đã từng tham chiến tại VNCH cũng đều
khâm phục. Lời phẩm bình sau đây của một tác giả Mỹ đã mô tả một
cách ngắn gọn nhưng vô cùng chính xác về con người và tài năng quân
sự của Tướng Trưởng:
“He
was considered one of the most honest and capable generals of the South
Vietnamese army during the long war in Southeast Asia. General Bruce Palmer
described him in his book The 25-Year War as a “tough, seasoned, fighting
leader” and “probably the best field commander in South Vietnam.” 22
(Xin tạm
dịch sang Việt ngữ như sau: “Ông được xem như là một trong những vị
tướng lãnh lương thiện nhứt và có khả năng nhứt của quân đội Nam
Việt Nam trong cuộc chiến dài tại Ðông Nam Á. Trong tác phẩm
“Cuộc chiến tranh 25 năm” của ông, Tướng Bruce Palmer [là Trung Tướng
Phó Tư Lệnh MACV dưới quyền tư lệnh của Ðại Tướng Westmoreland] mô
tả Tướng Trưởng như là một nhà lãnh đạo cứng cỏi, dày kinh nghiệm,
và, có lẻ là vị tướng cầm quân giỏi nhứt của Nam Việt Nam.”).
Sau ngày
30-4-1975, Tướng Trưởng định cư tại tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ. Ông
mất ngày 22-1-2007 tại thành phố Fairfax, tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ và
tang lễ của ông đã được cộng đồng người Việt trong vùng tổ chức rất
trọng thể với đầy đủ lễ nghi quân cách dành cho một tướng lãnh của
QLVNCH. Theo ý nguyện của ông, tro hài cốt của tướng quân Ngô
Quang Trưởng đã được gia đình ông mang về Việt Nam và rải trên Ðèo
Hải Vân.23
Thay
Lời Kết
LỊch sử VNCH chỉ
khoảng 20 năm và gần như lúc nào cũng ở trong tình trạng chiến
tranh. Trong dân chúng, gần như không có gia đình nào không có con
em trong quân đội. Càng gần cuối cuộc chiến, vai trò của các
tướng lãnh ngày càng quan trọng hơn. Một số không nhỏ các tướng
lãnh đã tham nhủng và làm giàu, nhiều khi là trên xương máu của
chính binh sĩ dưới quyền mình. Dân chúng rất bất mãn với tình
trạng tham nhủng này. Do đó họ đặc biệt quan tâm theo dõi các
vị tướng trong sạch thanh liêm, và, sau cùng, đã “xếp hạng” 4 vị tướng
trong sạch nhứt của QLVNCH: ‘Nhứt Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ
Trưởng.” Cả 4 vị tướng được dân chọn đều rất xứng
đáng với lòng tin của dân chúng VNCH.
Ghi
Chú:
1.
Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy, Lược sử Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa. California: Hương Quê, 2011.
Tr. 203-204.
2.
Những Giai Thoại Sạch của Tướng Thắng, tài liệu trực tuyến,
có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.generalhieu.com/ndthang-u.htm
3.
Clarke, Jeffrey J., United States Army in Vietnam: advice and support:
the final years, 1965-1973. Washington, D.C.: U.S. Army Center of
Military History, 1988, tr. 256.
4.
“CIA report on the Situation in South Vietnam as of 10/24/66,” tài
liệu mật của CIA, đề ngày 24-10-1966, giải mật ngày 4-3-1994, gồm 15
tr., có thể truy cập trực tuyến và toàn văn từ cơ sở dữ liệu Declassified
Documents Reference System (DDRS), các tr. II-1 và II-2.
5.
“CIA report on the Siituation in South Vietnam covering period
10/31-11/6/66,” tài liệu mật của CIA, đề ngày 7/11/1966, giải mật
ngày 16/12/1993, gồm 24 tr., có thể truy cập trực tuyến và toàn văn
từ cơ sở dữ liệu DDRS, các tr. II-1 và II-2.
6.
Lâm Vĩnh Thế, Việt Nam Cộng Hòa, 1963-1967: những năm xáo trộn.
Hamilton, Ont.: Hoài Việt, 2010. Tr. 192.
7.
Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy, Lược sử Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 127-128.
8.
Nguyễn Ðức Thắng, Phan Trọng Chinh, Lê Minh Ðảo, Lý Tòng Bá,
tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau
đây: http://vanghe.blogspot.ca/2011/09/nguyen-uc-thang-phan-trong-chinh-le.html
9.
Tưởng nhớ Trung Tướng Phan Trọng Chinh, tài liệu
trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://vietnamcuongthinh.blogspot.ca/2015/03/tuong-nho-trung-tuong-phan-trong-chinh.html
10.
Tướng Phan Trọng Chinh, tài liệu trực tuyến, có thể đọc
toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.generalhieu.com/ptchinh-u.htm
11.
“Intelligence report on the situation in South Vietnam,” tài liệu mật
của CIA, đề ngày 19-12-1966, giải mật ngày 16-6-1998, gồm 24 tr., có
thể truy cập trực tuyến và toàn văn từ cơ sở dữ liệu DDRS,
tr. II-4.
12.
Ahern, Thomas L., Jr., CIA and the generals: covert support to military
government in South Vietnam. Langley, Va.: CIA, 2009. Tr.
113.
13.
Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy, Lược sử Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 199-202.
14.
Nguyễn Mậu Quý, Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh, tài liệu trực
tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.generalhieu.com/nvthanh-u.htm
15.
Hai vị tướng tác chiến giỏi: Ðỗ Cao Trí và Nguyễn Viết Thanh,
tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau
đây: http://www.banvannghe.com/a2347/tuong-gioi-do-cao-tri-va-nguyen-viet-thanh-truong-duong-chuyen-ngu
16.
Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy, Lược sử Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 235-237.
17.
Lê Xuân Nhuận, Biến-loạn Miền Trung: hồi ký. Alameda,
Calif.: Xây Dựng, 2012. Tr. 285.
18.
Minh Dũng, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng: Tư Lệnh Quân Ðoàn I và
Vùng I Chiến Thuật, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn
tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.luanhoan.net/danang/htm/danang10_12.htm
19.
Trận Hắc Dịch: ngày 9 & 10/2/1965, tài liệu trực
tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://nhaydu.com/index_83hg_files/left_files/T-Chien/1965-TranHacDich.pdf
20.
Ngô Quang Trưởng, The Easter Offensive of 1972. Washington,
D.C.: U.S. Army Center of Military History, 1980. (Indochina
Monographs). Tr. 15-77.
21.
Giang Văn Nhân, “Tiểu đoàn 3/TQLC dựng cờ trên Cổ Thành Quàng Trị
15/9/1972,” trong Tuyển tập 2: hai mươi mốt năm chiến trận của
binh chủng Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam (1954-1975). Santa
Ana, Calif.: Tổng hội TQLC/VN tại Hoa Kỳ, 2005, tr. 438-450.
22.
James H. Willbanks, “The most brilliant commander”: Ngo Quang Truong,
tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau
đây: http://www.historynet.com/the-most-brilliant-commander-ngo-quang-truong.htm
23.
Hà Giang, Cố Trung Tướng VNCH Ngô Quang Trưởng đã về nhà, tài
liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đậy: http://aihuubienhoa.com/a1532/co-trung-tuong-vnch-ngo-quang-truong-da-ve-nha-ha-giang
Lâm Vĩnh Thế
Ngày 30-11-2016





