Buổi chiều bắt đầu xuống, bụi lau bên kia sông những thân lá
đã nhòa vào nhau, bên này bờ sông của thành phố Đại Liên thuộc tỉnh Liêu Ninh-
Trung Quốc, có người đàn ông khoảng trên dưới sáu mươi tuổi, khuôn mặt buồn buồn,
hai con mắt long lanh sau cặp kính trắng như rớm lệ, ông ngồi như đang chờ một
ai đó. Chốc chốc ông lại nghểnh cổ lên một chút như cố nhìn xem có chiếc thuyền
nào đã vào con sông này chưa.
Ông lang thang cả hai ba hôm nay rồi, cứ quanh quẩn ở đây và
chờ đợi. Ông tuy không có hẹn chắc chắn với hai người bạn đó, nhưng ông nghĩ là
họ sẽ đến. Nhất định họ sẽ đến tìm ông. Tuy thời gian cách nhau cả mấy chục năm
nhưng họ là người cùng chí hướng thì thời gian không phải là điều đáng nói. Ông
đang suy nghĩ không biết sẽ xưng hô thế nào. Nói về tuổi tác thì họ kém tuổi
ông, nhưng về thời gian thì họ lại đi trước ông cả năm mươi năm. (*)
Cả hai bên bờ sông đã thực sự chìm vào bóng tối, gió thổi nhẹ
trên đầu những khóm lau. Một chiếc thuyền nhỏ cập bờ, hai người trẻ, một nam, một
nữ nhanh nhẹn nhẩy lên bờ, sau khi buộc thuyền vào một chiếc cọc to có sẵn ở
đó, họ tiến về phía ông, cả hai cúi đầu chào lễ phép:
- Thưa Anh
Ông vội vàng đứng phắt lên cúi đầu đáp lễ:
- Chết, xin đừng gọi tôi như vậy,
tôi tuy lớn tuổi hơn nhưng lại là kẻ sinh sau. Đừng để tôi thất lễ.
Ba người, hay nói đúng hơn là ba chiếc bóng đứng chụm vào
nhau cùng nhìn ra sông.
Người đàn ông của sông nước Liêu Ninh-Trung Quốc cất
tiếng trước.
- Tôi được thả xuống đây mấy
hôm rồi, cứ lang thang dọc theo bờ sông chờ hai bạn.
Hai người bạn đến từ Yên Bái- Việt Nam cùng nói:
- Chúng tôi biết trước là họ sẽ
thả anh xuống đây, họ không dám giữ anh trên bờ, vì họ sợ dân chúng sẽ lập miếu
thờ, rồi sẽ tụ tập, cúng vái, tưởng niệm anh.
Người đàn ông Trung Hoa nói:
- Chỉ tội nghiệp cho vợ tôi,
nàng không còn gì để giữ lại ngay cả tàn tro. Không biết bây giờ nàng còn bị quản
thúc ngay trong chính nhà mình hay không. Người ta chỉ cấm, chỉ bỏ tù được thân
xác chứ không bỏ tù được tư tưởng. Ông thở dài, nói tiếp: chúng tôi không đòi
người lãnh đạo điều gì quá đáng. Chúng tôi chỉ đòi tự do, đòi nhân quyền cho
người dân ngay chính trên đất nước mình.
Người phụ nữ vấn tóc trong chiếc khăn nhiễu nâu
non nói:
- Tôi rất yêu thích những câu
Thơ anh viết trong tù, nhất là câu anh viết cho chị Hà: “Tình yêu của em là
ánh mặt trời lên khỏi bức tường cao và rọi chiếu xuyên qua những song sắt cửa sổ
nhà tù của anh, xúc chạm trên từng mảnh da, làm ấm áp từng tế bào thân xác anh,
cho phép anh luôn luôn giữ được bình an, cởi mở, và tươi tắn trong tâm hồn, và
làm đầy mỗi phút giây trong đời sống tù của anh với ý nghĩa.”
Người thanh niên có hàm râu
quai nón và cặp lông mày lưỡi mác tiếp theo:
- Chúng tôi trong quá khứ
cũng không chịu được sự đô hộ hà khắc của người Pháp nên phải đứng lên lãnh đạo
một cuộc cách mạng cho dân tộc.
Người bạn Trung Hoa nhấc cặp kính xuống, lấy vạt áo lau
lau, rồi lại đeo lên nhìn xa xăm tận cuối dòng sông, thở dài:
- Hai bạn ơi, Đây lại chính là
người lãnh đạo của nước mình tước đoạt quyền tự do nhân quyền của dân mình.
Tôi cũng yêu những câu Thơ Tình của anh, tôi đã thuộc từng
chữ.
Khi đem trái tim giao cho em
Là anh đã lìa bỏ em rồi
Trong tĩnh sáng của ngày thu
Tay còng, cháy bỏng vết thương dưới ánh mặt trời.
Anh bị giải đến nơi rất xa
Một địa phương em tìm không thấy
Chỉ có ánh mắt em sau khi tỉnh dậy
Vẫn còn thiêu đốt chiếc bóng sau lưng anh.
Người đàn ông bên cạnh nàng tiếp theo:
- Tôi rất cũng thích đoạn thơ
này của anh, nó nhắc nhở tôi thời tôi bị quân Pháp bắt khi làm cách mạng:
Giữa đêm khuya trước gian hàng thuốc lá
Mấy gã to con chèn ép tôi chặn đường
Tay tra còng bịt mắt miệng nhét giẻ
Quẳng xe tù chạy đi đâu chẳng biết (*)
Đất nước hiện tại của chúng tôi bây giờ không còn Pháp đô hộ
nữa nhưng người dân vẫn phải tranh đấu từng ngày cho nhân quyền. Vẫn bị bỏ tù,
vẫn bị bắt bớ có khác gì bên Trung Quốc. Cái cảnh tra còng tống lên xe chẳng lạ
gì với người dân.
Người Phụ nữ nắm tay người đàn ông của mình nói: Chị Lưu Hà
yêu người anh hùng này vì ông còn là một thi sĩ nữa vì tình ông cho bà luôn được
chuyển qua ngôn ngữ thơ. Cả hai con người trong ông đều làm bà cảm phục, em nhớ
Bà viết trong một bức thư cho Hội Văn Bút Mỹ:
“Tôi cảm nhận Hiểu Ba đang dùng ý chí và cảm xúc
như một nhà thơ để đẩy phong trào dân chủ tiến tới tại Trung Quốc. Anh ấy la
hét như một nhà thơ “không, không, không” đối với những nhà độc tài. Trong chỗ
riêng tư, anh ấy thì thầm với những tâm hồn chai điếng của ngày 4 tháng 6, những
người, cho đến hôm nay, vẫn chưa nhận được công lý, cũng như với tôi và tất cả
bạn bè của anh: “vâng, vâng.” (*)
Cả ba cùng im lặng một lúc. Người đàn ông Trung Hoa lại lên
tiếng trước:
- Hai bạn có biết là nếu người
dân mất Tự Do thì đất nước sẽ tụt hậu
sẽ đi giật lùi không? Đây không phải là suy nghĩ của riêng
tôi mà là lời phát biểu của nhà nghiên cứu kinh tế học Trung Quốc Trương Duy
Nghênh. Theo ôngTrương: Sức sáng tạo là dựa vào sự tự do! Sự tự do về tư tưởng
và tự do về hành vi. Đặc điểm cơ bản của thể chế của Trung Quốc đã hạn chế sự tự
do của người dân, nó đã bóp nghẹt tính sáng tạo, giết chết tinh thần của các
nhà khởi nghiệp. Người Trung Quốc có sức sáng tạo nhất đó là vào thời Xuân Thu
và thời Tống, đây không phải là ngẫu nhiên. Hai thời đại này cũng là thời
đại người Trung Quốc tự do nhất. (*)
Người đàn ông đến từ Yên Bái trả lời:
- Vâng, chúng tôi có biết, người dân của chúng tôi
đang bị kiểm soát
từ hành động đến tư tưởng. Thế giới đang đánh giá nhân
quyền ở nước tôi theo số lượng những người tranh đấu bị mang ra tòa. Chúng tôi
ước ao chúng tôi có thể trở lại tranh đấu cùng với người dân trong nước tôi bây
giờ.
Người đàn ông Trung Hoa đưa cả hai tay mình ra nắm lấy
hai bàn tay của hai người bạn mới, ngậm ngùi nói:
- Chúng ta là những người yêu nước,
yêu dân tộc mình, yêu nhìn thấy đất nước mình thanh bình không chiến tranh khói
lửa và luôn mong ước cho con người được hưởng trọn vẹn quyền làm người.
Đó là “Nhân Quyền. Tôi rất cảm phục câu nói của anh trước khi bị quân Pháp chém
đầu:
Chết
vì tổ quốc chết vinh quang
Lòng ta sung sướng trí ta nhẹ nhàng (*)
Hình như mặt trời vừa mọc trên bờ bên kia một cái quầng màu
hồng nhạt. Một ngày mới đã bắt đầu. Những tiếng động trên con đường xa xa vọng
tới. Họ bùi ngùi chia tay nhau.
Nguyễn Thái Học và cô Giang lên thuyền quay về Yên Bái nước
Việt. Lưu Hiểu Ba ở lại Liêu Ninh nước Hoa. Cả ba cùng hiểu rằng họ đã
tranh đấu cho dân mình ngay trên đất nước mình đến hơi thở và giọt máu cuối
cùng.
Lưu Hiểu Ba đứng nhìn cho đến khi con thuyền của hai người bạn
khuất sau phía hàng lau bên kia bờ phía nước Nam. Trong trí của anh bỗng vang
lên mấy câu thơ của Cô Giang trước khi tuẫn tiết.
Thân không giúp ích cho đời!
Thù không trả được cho người tình chung!
Dẫu rằng đương độ trẻ trung,
Quyết vì dân chúng thề lòng hy sinh.
Con đường tiến bộ mông mênh,
Éo le hoàn cảnh buộc mình biết sao! (*)
Trần Mộng Tú
7/30/2017
(Nguồn: tranmongtu.blogspot.com)
(*) Ngày mồng 1/7, nhà nghiên cứu kinh tế học Trung Quốc
Trương Duy Nghênh phát biểu đại diện cho giáo viên với chủ đề “Tự do là một
trách nhiệm”, tại Đại Học Bắc Kinh.
(*) Nguyễn Thái Học (1904-1930) Chết lúc 26 tuổi
Cô Giang (1906-1930) Chết lúc 24 tuổi.
Lưu Hiểu Ba (1955-2017) Chết lúc 62 tuổi.
(*) Các câu Thơ, nguồn trên mạng.
