Trong ba chú chó mới sinh, bà dì ở Ðà Lạt cho tôi một con và
được chọn ưu tiên. Cả ba đều là chó đực nên chỉ cần lựa con nào có bộ lông đẹp
nhất là đủ. Khi tôi ngồi sà vào ổ của ba chú chó chưa mở mắt, chợt con có màu
lông xám, hai đốm vàng trên lưng ngúc ngoắc đầu đánh hơi bò về phía tôi. Nó đưa
cái mõm mũm mĩm, ươn ướt ủi vào bàn chân của tôi. Cái đuôi cũn cỡn ngoe nguẩy
như loài chuột xạ…
Hai tuần lễ sau tôi ghé thăm dì. Bầy chó đã mở mắt đang ngậm
vú mẹ. Khi nghe tiếng tôi trốc trốc, chú chó lông xám ấy bỏ vú mẹ bò vào lòng
tôi. Dù màu lông không nổi bật như hai con kia nhưng tôi thích cái tính thân
thiện của nó ngay từ giờ phút đầu.
Mang chó về nhà, con tôi chê màu lông nhớp nhem rồi tự động
đặt tên là Lu. Dù mới một tháng tuổi, nhưng khi rời chó mẹ về nhà tôi, Lu ít
khi kêu đêm như những chú chó con khác. Ban đầu cho Lu bú bằng bình sữa, rồi
cho ăn sữa đặc đổ vào đĩa. Chỉ ba tháng sau là Lu lớn như thổi.
Lai lịch của dòng họ nhà Lu cũng ly kỳ lắm. Jolie là
tên mẹ của Lu, giống chó xù Nhật Bản, nhỏ con, chân thấp, dáng đi lũn
cũn. Nó hay qua nhà láng giềng đùa giỡn với anh chàng berger to con, tai vểnh,
đôi chân sau vạm vỡ.
Một hôm, lũ trẻ đến trước nhà Dì tôi kêu giật giọng rằng
là con Jolie bị con chó berger của ông Tư Ðợi tha đi khắp khu vườn. Dượng tôi hốt
hoảng chạy sang. Những tưởng con berger đã cắn chết con xù của nhà dượng. Nào
ngờ cảnh tượng lạ lùng rất khó tin đã xảy ra: Con berger lẹo với Jolie nhỏ hơn
nó gấp mấy lần. Vì là phần kết thúc sau “cuộc mây mưa” của loài chó, cho nên hắn
na con cái còn mắc cứng phía sau đuôi. Hai chân sau của con Jolie bị treo hỏng
trên cao chỉ còn cái mõm và đôi chân trước bị kéo lê trên đất. Nàng kêu toáng
lên khiến chàng đâm hoảng na chạy khắp vườn như na cái đuôi của mình trở nên nặng
chình chịch. Kết quả cuộc tình giữa hai “chủng tộc”, nàng Jolie đẻ ra ba chú
chó lai. Nhờ vậy mà đời con của nàng không còn mang dáng dấp thấp lè tè của
loài chó xù nữa.
Con Lu lớn lên bộ lông ngày càng đẹp. Màu xám của mẹ pha màu
vàng của bố mướt mượt như nhung. Hai đốm vá màu vàng đậm nằm hai bên hông, thoạt
trông như yên ngựa. Dù không to con lớn xác như bố Berger của no,́ nhưng con
Lu cũng vượt trội hơn đám chó nhà. Chân cao, dáng đi oai vệ như loài hổ. Hai
vai rộng, u thịt nổi vồng lên khi nó bước đi. Cặp mắt ánh lên màu lửa như có thần
lực. Ðàn chó hàng xóm gặp Lu là cụp đuôi chạy dài. Sau này, những lần đi săn giải
trí loanh quanh ở những khu đồi còn an ninh, tôi mới nhận biết loài chồn, loài
thỏ thấy Lu là hồn xiêu phách lạc, đứng chôn chân tại chỗ.
Mỗi lần con tôi đi học về là dành nhau ôm Lu vào lòng. Tình
cảm giữa chó và người không hề phân biệt. Ngoài cái khứu giác bẩm sinh độc đáo
của loài chó có thể đánh hơi hàng mấy dặm, thính giác con Lu còn phân biệt được
tiếng xe quen thuộc của tôi từ xa. Nó nghểnh mõm, ve vẩy đuôi chạy ra trước
sân. Nhìn cử chỉ đó là nhà tôi đoán biết tôi sắp về đến nhà.
Lu cạ vào chân tôi từ lúc xuống xe đến khi tôi vỗ về âu yếm
nó mới chịu đi nơi khác. Lu cũng cảm nhận khá nhạy bén lúc tôi buồn bực hay giận
hờn. Những lúc ấy nó nằm khoanh tròn nhìn tôi với ánh mắt buồn xo. Ðến khi tôi
vui vẻ trở lại là Lu chạy đến cạ lưng vào người và liếm tay tôi như để hòa đồng
niềm hân hoan với chủ.
* * *
Sau ngày “gẫy gánh 75”, tôi lên đường trình diện ban Quân quản
thị xã. Tôi mang theo mười ngày gạo cùng ít đồ dùng, từ biệt vợ con với
bao âu lo trong lòng. Khi bước ra khỏi cửa, con Lu cứ luấn quấn cản bước chân,
tôi trực nhớ đến nó liền cúi xuống ôm Lu vào lòng. Ánh mắt ươn ướt buồn thiu của
nó nhìn tôi chẳng khác gì đôi mắt của vợ tôi rươm rướm lệ. Lu liếm vào mặt tôi
như quyến luyến từ biệt chủ phải đi xa lâu ngày. Trong tù, nhớ lại ánh mắt con
Lu, tôi hiểu ra rằng loài chó còn có một giác quan đặc biệt, cảm tính rất nhạy
bén về thái độ và tâm trạng của người gần gũi nó.
Những tưởng mười ngày nửa tháng rồi quay về, nào ngờ cách biệt
gia đình với thời gian dài hun hút. Tôi nhớ con Lu cũng tương tự như nhớ các
con tôi. Nỗi lo ngại của tôi là lương thực ngày một khó khăn làm sao vợ tôi chạy
đủ bữa cho đàn con bốn đứa lại thêm miệng ăn con chó.
Một ngày nọ, nhà tôi lên trại tù thăm, cho biết chú Dương
Thái Lân, con của bà cô Út tôi từ Bắc về Nam có ghé thăm gia đình. Chú ấy
bảo con Lu có cốt tướng nòi săn, muốn xin nó về đơn vị nuôi để săn mồi cải
thiện thịt tươi. Lân là vai em nhưng lớn tuổi hơn tôi nhiều. Ði bộ đội từ trước
1954, sau tập kết ra Bắc được sang Tiệp Khắc học ngành cầu đường. Hiện là thủ
trưởng đơn vị Công binh sửa đường ở Cao nguyên. Vợ tôi nhất quyết không cho con
chó, lấy lý do phải qua ý kiến của chồng.
Một hôm, quản giáo trại gọi tôi lên văn phòng ban giám đốc.
Một anh bộ đội mặc áo quần đại cán ngồi trong phòng tiếp khách tay cầm một tờ tạp
chí cuốn tròn. Anh cán bộ thấy tôi vào, liền hỏi:
- Nguyễn Tấn đấy à? Tôi ngập ngừng:
- Thưa vâng,
- Tôi là Dương Thái Lân.
Tôi à lên một tiếng để tỏ rằng mình biết hắn là ai. Thực ra,
qua 21 năm ở Bắc và mấy năm đi bộ đội Vệ Quốc Ðoàn làm sao tôi nhớ nỗi cái
khuôn mặt ngày xưa của thằng em con bà cô Út. Ðưa tờ báo cuốn tròn cho tôi, Lân
bảo:
- Ngày trước anh cũng viết sách, làm báo dữ dằn đấy nhỉ?
Tôi mở cuộn báo thì ra là tờ Bán nguyệt san Quyết Tiến. Ðó
là tạp chí do tôi trách nhiệm biên tập trước 75 do cơ quan USAID của Hoa Kỳ yểm
trợ ngân khoảng để in ấn phân phát cho các đơn vị Ðịa phương quân và Nghĩa
quân. Tôi nghi là Lân đã tìm thấy tập báo nầy trong tủ sách tại nhà tôi.
Lân bảo:
- Tôi có đọc trong đó truyện dài “Nhật Ký Bích Phương” của
anh viết đăng nhiều kỳ về Tết Mậu Thân 68. Viết bạo đấy chứ, đúng chính
sách của Mỹ Ngụy.
Tôi giật mình và cảm thấy bất an. Lân đưa tay ra hiệu
lấy lại cuốn tạp chí rồi lên tiếng:
- Tôi có ghé nhà thăm chị Tấn. Giai đoạn này mà trong
nhà còn nuôi con chó kiểu tiểu tư sản. Anh không sợ cặp mắt của quần chúng hay
sao?
Tôi than thở:
- Thời gạo châu củi quế, nhà tôi phải chạy gạo cho bốn miệng
ăn, nhưng vì nuôi nó từ lúc mới sinh nên tình cảm gắn bó như thành viên trong
gia đình.
Hắn ngắt lời:
- Tôi có đề nghị với chị cho tôi mang con chó đó về
đơn vị để đỡ bớt khẩu phần ăn cho gia đình nhưng chị bảo phải qua ý kiến anh. Mới
nhìn là tôi biết nó thuộc giống chó săn quý hiếm và có thể chống lại cả thú dữ.
- Nếu chú thích con chó thì về hỏi nhà tôi, quyền quyết định
ở bà ấy. Tôi trả lời.
Lân đưa cho tôi một cây thuốc Ðiện Biên, tôi từ chối không
nhận vì tôi đã bỏ hút thuốc từ lâu, rồi chào hắn quay về trại.
* * *
Ðến kỳ thăm nuôi sau, bà xã tôi báo tin chú Lân đến nhà bắt
con Lu đi rồi. Bỗng dưng mắt tôi như nhòa sương, lòng xót thương con Lu
vô hạn. Từ ngày vào tù, tôi nghi ngờ tất cả những gì người ta nói. Giờ đây Lân
bảo đem Lu về nuôi hay ăn thịt chỉ có trời biết. Thấy mắt tôi rưng rưng ngấn lệ,
vợ tôi an ủi:
- Lũ con mình cơm không đủ ăn mà phải nhường cho chó
một ít, lòng em cũng xót xa lắm. Nó thiếu ăn nên cả đêm chạy rông kiếm mồi đến
sáng mới về nhà. Lông nó ướt nhớp nháp, đầy bùn. Biết đâu có cơm bộ đội dư thừa
thân nó sẽ mập ra. Mình có giữ lại một thời gian sau cũng bị người ta đập chết
làm thịt thôi. Xã hội bây giờ thiên hạ ghiền thịt chó lắm, anh có biết không?
Hết giờ thăm nuôi, tôi đứng vào hàng. Nhìn đôi mắt nhòa lệ của
vợ khiến lòng tôi xót xa vô cùng. Cả đêm hôm đó hình bóng con Lu cứ chập chờn
trong giấc ngủ. Tôi mơ thấy đôi mắt buồn rười rượi của Lu nhìn tôi trong ngày
ra đi như báo hiệu rằng nó không còn dịp gặp chủ nữa. Cái cảm giác man mác êm
êm của lưỡi nó liếm vào mặt, vào cổ, giờ đây tôi vẫn không quên. Niềm tin gắng
gượng nhỏ nhoi vào lời hứa của chú em con bà cô là xin con Lu để canh chừng thú
dữ và săn mồi. Vả lại, cái công khó của Lân đã lặn lội đường xa đến trại
cải tạo để gặp tôi nên cũng an ủi phần nào.
* * *
Ba tháng sau, vợ tôi với khuôn mặt hớn hở báo với tôi con Lu
không còn ở với chú Thái Lân nữa. Tôi ngạc nhiên hỏi dồn. Nàng kể:
- Cách đây một tuần lễ, chú ấy bất thần đột nhập vô nhà mình
không giữ kẽ như những lần trước. Chú dáo dác nhìn trước nhà, nhìn sau nhà, cả
cái phòng ngủ của vợ chồng mình chú cũng ghé mắt quan sát. Ðột nhiên Lân hỏi:
- Con Lu có chạy về đây không chị?
Em sững sờ hỏi:
- Nó ở với chú mà?
- Tức lắm chị ơi, Lân ngồi vào cái ghế đặt ngoài hiên,
nói tiếp:
- Trước khi đi công tác Hà Nội, tôi gởi Lu cho chị nuôi lo
ăn hàng ngày. Không ngờ các đồng chí trong đơn vị lợi dụng lúc tôi vắng nhà, bắt
con Lu làm thịt đánh chén. Các anh ấy bỏ con chó vào bao bố dìm xuống nước. Khi
mở bao ra con chó không còn thở nữa. Họ yên chí ngồi chờ nồi nước đang nấu cho
thật sôi để cạo lông. Ca nước sôi đầu tiên tưới vào lưng con Lu, bất ngờ nó
vùng dậy chạy đi mất dạng. Lập tức các đồng chí ấy cầm súng lùng sục các ven rừng
nhưng chẳng thấy nó đâu nữa.
Tôi yên chí con Lu sẽ trở lại nhà chị vì nó vừa khôn vừa có
sức mạnh khác thường. Tôi đánh giá thành tích săn bắt mồi của con Lu rất cao.
Nó thường xuyên bắt được chuột đồng, thỉnh thoảng chồn hoặc thỏ. Mình có chất
tươi thêm vào bữa ăn nên tôi quý nó lắm. Kể xong, Lân đi ra xe xách vào một
bao cát đựng đầy gạo, bảo:
- Ðây là số gạo tiêu chuẩn tôi đi công tác còn thừa, chị nhận
cho các cháu bồi dưỡng và thêm phần cho con Lu. Nếu nó có trở về đây xin chị
báo tin cho tôi biết.
Lân ra đi được một ngày.
Hôm sau, lúc chạng vạng tối, cả nhà đang ăn cơm, con Lu
không biết từ đâu chạy xồng xộc vào nhà, mình nó ướt đẫm mồ hôi. Trên lưng một
vết phỏng to bằng bàn tay lột hết lớp lông và đã bắt đầu làm mủ. Lũ con mình ôm
con Lu vào lòng mừng rơi nước mắt. Cả nhà phải nhịn một phần cơm cho nó. Loáng
cái là nó vét sạch đĩa cơm độn sắn. Lu ve vẩy đuôi, đưa lưỡi liếm từng người
trong gia đình như để điểm lại những người thân. Mấy đứa con mang Lu ra giếng
chà xát xà phòng, tắm rửa, bắt sạch ve vắt bám vào da. Em khui bình thuốc
Peniciline rắc lên vết phỏng.
Chờ đến tối, bọn em mang Lu về gởi cho ông bà ngoại vì biết
thế nào chú Lân cũng trở lại tìm chó. Ðêm đó, Lu cứ theo chân em đòi về, thằng
Doãn phải ngủ nhà ngoại để giữ con Lu ở lại. Em vuốt ve vỗ về:
- Con phải ở lại đây với ngoại. Lu không được theo mẹ về
nhà, người ta sẽ đến bắt con đi, biết hông? Lu vểnh tai nghe lời em dặn nên
ngoan ngoãn nằm trong lòng của Doãn mà không còn hậm hực đòi về nữa. Đêm đó
Doãn phải ở lại nhà ngoại với Lu.
Từ đó, hễ thấy người lạ vào nhà là Lu chui dưới gầm giường
chìa đầu ra, nhe răng gầm gừ. Chỉ cần một cú giậm chân là đủ để nó phóng ra vồ
ngay. Sau lần thoát chết, con Lu nghi ngờ hầu hết mọi người, chỉ trừ gia đình
tôi và ông bà ngoại. Tính thân thiện của con Lu giờ đây không còn nữa. Loài chó
rất trung thành với chủ nhưng khi bị một lần đối xử tàn nhẫn với nó là bỏ nhà
đi luôn.
Gia đình ông bố vợ tôi tuy ở thị trấn nhưng vì là vùng đất
đai đã tạo mãi từ trước khi trở thành thị tứ nên nhà cửa vườn tược rộng thênh
thang. Tiếp giáp với vườn cây ăn trái là cánh đồng mía, nay thuộc hợp tác xã
nông nghiệp. Lu không bao giờ ra trước đường phố mà chỉ lùng sục trong vườn
cây, ruộng mía sau nhà tha hồ bắt chuột, chim chóc, rắn rít. Nó sống như một tử
tù thoát ngục. Nó biết ngoài xã hội loài người đang nhìn nó một cách thèm thuồng.
Họ chỉ chờ cơ hội là biến thân xác nó thành miếng nhừ, miếng mận.
Ngày ra tù, tôi vào thăm ông bà nhạc gia. Khi vợ chồng
tôi vừa đến cổng nhà, con Lu đánh hơi được từ trong nhà phóng ra chồm lên người
tôi. Với sức nặng của nó đã khiến tôi té ngồi xuống đất. Người nhà ngỡ con Lu tấn
công kẻ lạ mặt nên vội la lên: “Bố đấy Lu, tránh ra!” Nhưng không. Nó xoải hai
chân trước đứng trên đùi tôi rồi đưa lưỡi liếm trên khắp mặt mày, tai cổ của
tôi. Qua cơn hốt hoảng vì cú ngã bất ngờ, tôi hiểu ra con Lu đang mừng chủ. Tôi
liền ôm chầm lấy nó rồi người và chó lăn lộn trên nền sân xi- măng. Cha mẹ vợ
tôi vui mừng thấy con rể được ra tù. Hàng xóm đứng nhìn cảnh người vật ôm nhau,
họ không tránh khỏi xúc động trong lòng.
Sáu tháng sau, nhà tôi sắp xếp cho tôi và thằng con
trai lớn một chuyến vượt biển. Tôi phải xin hộ khẩu ở nhà bà dì tận làng An
Vĩnh gần mũi Ba-Tâng-Gâng. Tôi có tên trong tổ hợp đánh bắt cá bằng lưới mành với
ông dượng và mấy người em bà con. Tôi dắt con Lu theo để tránh cặp mắt của láng
giềng và tránh luôn chú Lân bất thần đến nhà bắt gặp nó.
Trước một ngày tới điểm hẹn, vợ tôi dẫn thằng Doãn, con trai
đầu lòng của tôi xuống nhà bà dì để chuẩn bị lên đường. Sáng hôm sau, nhà tôi
mang con Lu lên xe lam trở về nhà.
* * *
Ðêm 30 tháng hai âm lịch, trời không trăng nhưng rừng sao
trên trời đủ soi rõ đường đi trên bãi cát trắng lờ mờ. Hơi nước biển mát lạnh
cùng với ngọn gió tây thổi lồng lộng làm cho đám người trốn trong các bờ bụi
rét run cầm cập. Họ cố dõi mắt về hướng biển. Mười giờ... mười một giờ... đến
mười hai giờ ba mươi khuya, ánh đèn pin từ gành đá chợt nháy sáng báo hiệu ghe
con đã đến. Tốp đầu tiên gồm bốn người lần lượt tiến ra gành đá.
Lần kế tiếp đến lượt hai cha con tôi cùng hai người ở cánh bắc
vừa rời khỏi ổ núp.
Cuộc “ra quân” âm thầm nhưng đúng theo thứ tự ấn định. Còn
mười phút nữa mới đến tốp cuối cùng. Bỗng, phía sau làng có tiếng chân người chạy
rầm rập rồi tiếng súng nổ loạn xạ. Toán đầu quay trở lại chạy tản mác vào xóm.
Hai người cánh bắc cũng thế. Riêng tôi chạy băng qua gành rồi luồn vào lùm cây
đước.
Thằng Doãn, trước khi đi tôi đã dặn dò kỹ lưỡng. Nếu họ bắt
được là cứ khai đi một mình đừng để liên lụy đến Ba. Toán du kích chia nhau chạy
lùng trong xóm. Một du kích đuổi theo Doãn, đến gần bìa làng anh ta chộp được cổ
con tôi. Thằng bé la toáng lên:
“Thả tôi ra, thả tôi ra”. Anh du kích xách thằng bé lên cao.
Tay chân nó không ngừng giẫy giụa. Chợt, một bóng đen từ trong hàng dừa phóng
ra nhảy chồm lên bám vào cổ anh du kích.
Con chó! Tôi thầm kêu lên. Nó tấn công khá bất ngờ khiến anh
ta đánh rơi cây súng và buông thằng nhỏ để đánh vật với con chó. Anh ôm đầu con
chó nhưng răng chó càng lúc càng lún sâu vào cổ như con quỷ Dracula đang hút
máu người. Hắn kêu cứu. Một lúc sau mới có đồng đội đến tiếp sức. Con chó cũng
vừa nhả ra chạy vào trong xóm. Một loạt súng của người mới đến bắn đuổi theo.
Tôi nghe tiếng ăng ẳng của chó từ trong xóm vọng ra. Một nghi ngờ thoáng qua,
chẳng lẽ con Lu? Nhưng tôi yên tâm ngay bởi con Lu đã được vợ tôi dẫn về nhà
trong ngày hôm trước.
Núp trong đám cây đước tôi quan sát đầy đủ cảnh chó và người
vật nhau. Con chó xuất hiện trong bóng đêm chớp nhoáng như loài sói vồ mồi.
Hình ảnh con chó ngoạm cổ anh du kích, tôi liên tưởng đến ma cà rồng đội lốt
chó để hút máu người. Nhưng dù ma hay chó tôi cũng thầm cảm ơn nó đã giải cứu
cho con tôi và giải thoát được bao nhiêu người.
Tôi về đến nhà lúc tờ mờ sáng nhờ chiếc xe Honda thồ đi kiếm
khách sớm. Tắm rửa thay áo quần xong, chợt nhớ đến con chó. Tôi hỏi vợ:
- Con Lu đâu?
Bà ấy bảo:
- Khi xe lam vừa đến ngã ba quốc lộ, con Lu vọt xuống xe chạy
ngược theo con đường về hướng biển. Em nghĩ nó trở lại với anh và con. Nếu có
điều gì không may xảy ra cho nó thì em biết làm sao bây giờ. Tôi nhìn vợ buông
tiếng thở dài:
- Thôi rồi!
Tôi nghĩ ngay đến tiếng kêu đau đớn của chó vang lên sau tiếng
súng. Con Lu có thể chết vì loạt đạn bắn theo. Tôi cảm thấy đau xót vô cùng.
Chờ trời tối hẳn, dì tôi mướn xe Honda thồ đưa Doãn về với
chúng tôi. Vợ tôi ôm con vào lòng, khóc thút thít:
- Giờ con đã thoát được về đây với mẹ cùng các em. Từ nay trở
đi, đói no, chết sống mẹ nhất quyết không để gia đình ta chịu cảnh phân ly Doãn
nhìn tôi hỏi:
- Ba có thấy con Lu không?
Chẳng đợi tôi trả lời, Doãn quả quyết:
- Lúc ông du kích buông con ra, trước khi chạy trốn,
con có quay lại nhìn thấy con Lu đang ngoạm cổ ông ấy.
- Như vậy là con Lu đã chết vì loạt đạn, không
còn nghi ngờ gì nữa. Tôi kết luận. Các con tôi đứa nào cũng rưng rưng nước mắt.
Tôi an ủi:
- Dù sao thì mình đã dành tình thương và chăm sóc
Lu như con trong gia đình. Nó có chết cũng là cái chết có ý nghĩa, một nghĩa cử
vô cùng cao quý của loài chó không khác gì con người.
* * *
Cả nhà đang say ngủ. Ðột nhiên, tôi nghe tiếng cào sột soạt vào
cánh cửa trước. Im ắng một hồi lâu, tiếng cào lại nổi lên lần nữa. Ghé mắt nhìn
ra ngoài, tôi chẳng thấy gì cả. Chỉ có bóng đêm bao trùm và sương mù dày đặc phủ
đầy trời. Tôi thiếp đi một chốc. Tiếng sột soạt nổi lên lần thứ ba. Lần nầy lâu
hơn và ở ngay cánh cửa hông. Tôi vội bật đèn lên, hé cửa nhìn ra. Hốt hoảng,
tôi kêu lên:
- Em ơi, con Lu trở về.
Cửa mở toang, Lu đi khập khiễng vào nhà. Tôi ôm Lu vào lòng
và nước mắt tôi tuôn trào. Tôi khóc vì vui mừng và khóc vì thương nó quá đỗi. Bầy
con tôi xúm vào quấn quýt bên Lu. Máu khô bê bết trên mông và đùi trái của nó.
Một viên đạn ghim vào đùi sau, rất may là không đụng xương. Tôi rửa sạch vết
thương bằng rượu cồn, xoa thuốc đỏ rồi băng kín vết thương lại.
* * *
Từ năm 1986 chính sách đổi mới, thị trấn quê tôi bắt đầu có
sinh khí trở lại. Chẳng bao lâu sau, nơi đây buôn bán sầm uất. Cửa hàng tư nhân
được mở ra tranh đua cùng với cửa hàng quốc doanh. Ðời sống có phần dễ thở hơn.
Sau trận chiến biên giới Việt Trung năm 1979, Dương Thái Lân
và cả đơn vị công binh được điều động đến vùng thượng du Bắc Việt. Vì thế con
Lu sống thoải mái với chúng tôi không còn lo lắng gì nữa.
Ðến tháng 7 năm 1991, gia đình tôi lên đường đi Mỹ theo diện
tỵ nạn HO8. Con Lu cũng vừa tròn 18 tuổi. Nó đã quá già chỉ lẩn quẩn trong nhà.
Nhưng khi có khách đến là nó vẫn không quên chạy vào gầm giường.
Ngày gia đình tôi vào Sài Gòn để lên máy bay, tôi cho Lu
theo đến ga xe lửa cùng với bà con đưa tiễn. Khi còi tàu hụ từ xa, Lu đứng dậy
sủa vang cả khu vực nhà ga. Trước khi lên tàu, mỗi người trong gia đình chúng
tôi đều thay nhau ôm Lu vào lòng, rưng rưng, lưu luyến.
Khi tiếng còi báo hiệu tàu chuyển bánh, con Lu nhìn đòan tàu
rồi tru lên một tràng dài. Ðây là tiếng tru lần đầu tiên trong cuộc đời 18 năm
của nó. Tôi rùng mình. Tiếng tru thật áo não tưởng chừng như lời trối trăng
vĩnh biệt của Lu nhắn gởi.
Khi qua Mỹ rồi, chúng tôi được thư nhà cho biết, con Lu
không chịu về nhà nữa. Nó lẩn quẩn ở khu vực nhà ga cho đến một ngày vào mùa
Ðông rét buốt, Lu nằm chết bên cạnh đường ray xe lửa, nơi mà chúng tôi đã ôm
hôn nó trước khi bước lên tàu.
Hay tin Lu chết, con tôi ôm nhau khóc. Nước mắt chảy ròng
ròng như khóc thương một người thân đã ra đi vĩnh viễn. Riêng tôi thầm nghĩ:
“Cũng may là nó đã quá già yếu, thân chỉ còn da bọc xương nên được chết toàn
thây. Dù muốn dù không nhân viên nhà ga cũng phải chôn xác Lu ở một nơi nào đó
trong lòng đất. Ðất mãi mãi ấp ủ thân xác nó và ngàn vạn năm sau biết đâu
bộ xương của Lu sẽ hóa thạch tồn tại mãi trên mảnh đất Việt Nam.”
Tôi khóc âm thầm trong đêm như khóc cho đứa con của tôi còn
để lại quê nhà nay không còn nữa. Suốt mấy đêm liền tôi nghĩ về Lu như nghĩ về
một con người quả cảm và thủy chung./
Hạo Nhiên Nguyễn
Tấn Ích
