
Viết trong thời điểm 1 AUD = 0,77 USD = 0,67 € = 17,2k
VND
Mười lăm năm trước, trong một chuyến du lịch Úc châu,
khi lái xe trên con đường nổi tiếng Great Ocean Road dọc bờ biển, từ
Melbourne tới Adelaide, tôi đã nhủ thầm trong bụng là sẽ có một ngày
nào đó, trở lại Úc và đi từ bờ đông sang bờ tây bằng những phương
tiện đường bộ. Đây cũng là giấc mơ của nhiều người Úc.
Bao năm qua đi, nhưng ước muốn này trong tôi không hề
giảm. Tôi biết một chuyến đi dài ngày, qua những vùng đất khác nhau,
trong đó có vùng sa mạc khô cằn là chuyện không đơn giản với một
người ở Âu châu, lái xe bên tay mặt. Tìm một người chịu (hay thích)
đồng hành trong một cuộc du lịch như trên không phải dễ. Tới lúc tôi
nghĩ chỉ còn cách tự đi một mình, nhân dịp qua Úc có chuyện riêng,
thì gặp một dịp may bất ngờ. Đó là sự tán đồng của người em cột
chèo Peter, người Úc, sống tại Adelaide.
Bất ngờ vì tôi hoàn toàn không nghĩ tới. Peter vai
em, nhưng đã bước vào tuổi “xưa nay hiếm”. Thêm vào đó, mấy năm trước
ông đã phải thay hai bộ khớp xương hông. Năm 1973 Peter cùng bạn đã lái
xe từ Perth về nhà ở Adelaide theo đường xa lộ, và cho tới nay ông vẫn
muốn đi lại con đường này một cách thong thả, mặc dù hiện nay thường
phải dùng máy thở khi ngủ. Cũng như phần lớn người Úc, Peter là
người biết lo lắng, khi đã nhận lời là lo chuẩn bị mọi thứ, từ xe
cộ, đồ ăn thức uống cho tới tài liệu chỉ dẫn những nơi cần xem và
chỗ nghỉ ngủ. Tuy thế, theo như ông nói “không có gì đáng lo. Cứ qua
đi, rồi mình tính.”. Nhân có việc riêng, Peter sẽ đến Melbourne để
cùng khởi hành. Và theo như phong tục Úc, chúng tôi đồng ý phương
thức chi phí chia đôi một cách sòng phẳng.
Melbourne
Xuống phi cơ một buổi sáng giữa tháng 4/1917, tôi
chạm mặt với một Melbourne thực tế, khác với hình ảnh tôi có trong
đầu. Nét rõ nhất, trong mắt tôi, là Melbourne ngày nay đã trở thành
một thành phố hỗn tạp và hỗn độn với nhiều sắc dân ngoại quốc đến
lập nghiệp, du khách chen chúc, người vô gia cư ngủ tràn lan trong khu
trung tâm thành phố. Rất nhiều người – nam lẫn nữ, kể cả người da
trắng – xâm vẽ kín một cánh tay hay một bên đùi. Vật giá, đồ ăn thức
uống mắc hơn Hoa Kỳ thì không nói gì, nhưng bây giờ có lẽ giá sinh
hoạt ở đây còn mắc hơn Âu châu, do bởi kinh tế Úc chưa nếm mùi suy
trầm kể từ 1991. Điều người dân nơi đây thường bàn tán, là thị
trường địa ốc đang lên cơn sốt chưa từng thấy do dân đầu tư từ Trung
Quốc – và cả Việt Nam theo như người ta đồn đại, đang tung tiền vào,
một hình thức khôn khéo để đưa người nhập cư Úc hoặc mưu đồ tẩu tán
tài sản.
Nhưng Melbourne vẫn còn một số nét dễ thương của nó.
Cũng như nhiều thành phố trên toàn nước Úc, phần lớn các viện bảo
tàng miễn phí. Phương tiện chuyên chở công cộng khá tốt, đi xe bus xe
lửa trong khu trung tâm không phải mua vé. Buổi chiều có những màn
trình diễn của nghệ nhân trên đường phố, những người có thể qua mặt
các ứng cử viên về khoản nói và hứa rất nhiều nhưng làm rất ít.
Những người muốn ngắm nhìn các tác phẩm của những
nghệ sĩ đường phố có thể bỏ qua khu Bourke Mall xa hoa để bước vào
những con đường nổi tiếng thế giới như Hosier Lane, Union Lane... cách đó
chỉ vài trăm thước, dầy đặc những bức vẽ trên tường. Thế nhưng rất
ít người Việt biết đến tên Cyril Kongo Phan, một nghệ sĩ hàng đầu
trong giới Street Art, hiện đang sống tại miền nam nước Pháp.

Hosier Lane, Melbourne
Melbourne có những khu tập trung sinh hoạt của một số
cộng đồng người ngoại quốc như Trung Hoa, Ý, Hy Lạp... và đương nhiên
Việt Nam, với ba khu chính: Richmond. Springvale và Footscray. Ngoài phở
từ lâu đã thành món phổ thông, hiện nay món bánh mì thịt được ưa
chuộng, vì vừa rẻ vừa ngon vừa bổ dưỡng. Người Việt ở Melbourne
ngoài báo phát không còn có báo bán: Tivi Tuần San và Báo Victoria.
Sự tham chiến của Úc tại Việt Nam cũng được ghi dấu bằng một góc
triển lãm trong khuôn viên Đài Tưởng Nhớ Các Quân Nhân Victoria đã tham
gia các trận đại chiến (tổng cộng hơn 40.000 người).

Chợ Bến Thành trong khu Richmond, Melbourne
Từ Melbourne tới Adelaide
Khách du lịch đến Melbourne khó có thể bỏ qua con
đường nối tiếng của Úc, Great Ocean Road, dài hơn 240km, uốn lượn theo
bờ biển phía nam tiểu bang Victoria, là một phần của tuyến đường
Melbourne - Adelaide, để ngắm biển và tìm gấu koala trong những khu
rừng dọc đường đi. Nhưng chúng tôi đã bỏ qua con đường này vì cả hai
đã từng biết qua. Chúng tôi chọn con đường xa lộ chạy xuyên qua những
rừng cây khuynh diệp được trồng để khai thác gỗ và tinh dầu. Những
khu rừng được trồng thật dầy, con bò chắc chui không lọt, với mục
đích kích thích cho cây vươn lên cao tối đa với thân thẳng tắp như
cột điện. Sau vài chục năm, rừng được đốn tỉa thưa ra, một số cây bị
hạ, số còn lại chờ đợt hai.
Cho dù đi đường biển hay đường rừng, thị trấn Mount
Gambier nằm giữa Melbourne và Adelaide thường được chọn làm nơi nghỉ
chân của dân đi đường dài. Sinh hoạt trong thị trấn này mang rõ nét
một nơi trú qua đêm: khách sạn dài dài hai bên đường, gamehouse nằm
chình ình ngay góc phố chính và những quán ăn vội vã. Mount Gambier
có hồ Blue Lake vốn là miệng núi lửa, đặc điểm của hồ là mỗi năm
vào mùa hè nước hồ từ xám đen chuyển sang màu xanh dương trong vài
ngày, một hiện tượng chưa có lời giải thích thỏa đáng. Vì đi trái
mùa, nếu cố lái xe lên xem cũng hoài công, cho nên chúng tôi cho qua
mục này, và bỏ luôn cả mấy cái động thạch nhũ gần đó. Lý do đơn
giản: Rượu nho vùng Nam Úc hấp dẫn chúng tôi hơn.
Tiếu bang South Australia nổi tiếng về rượu nho. Đến
Úc, tôi ngạc nhiên về sự phong phú của rượu nho. Người Úc thích loại
shiraz do vị đậm đà dễ bắt mồi. Rời Mount Gambier, chúng tôi bắt
hướng Penola, để “duyệt” qua con đường rượu nho của vùng Coonawarra.
Thấy tôi có ý thăm vườn nho của những thương hiệu quen, Peter can ngăn
và nói rằng muốn thương hiệu quen thì ra tiệm rượu mà mua, rẻ hơn vì
họ thường bán bớt giá. Tôi thì chỉ muốn chắc ăn, không thích chơi
trò gambling. Tuy nhiên, sau khi ghé gần chục nơi có bảng “cellar door
sale”, mỗi nơi thử vài “shot”, tôi phải công nhận Peter có lý. Và thế
là khi tới Adelaide chúng tôi đã có thêm “thức uống” ban tối dành cho
những ngày kế tiếp. Tôi thì lo thủ mấy cục “sạc”, những thứ phụ
tùng hiện đại thật rắc rối.
Adelaide
Thủ phủ của tiểu bang Nam Úc, Adelaide, là thành phố
đông dân thứ năm của Úc. Trong giai đoạn phát triển, Adelaide được tổ
chức ngăn nắp, trật tự. Adelaide đi trước trong một số lãnh vực như
tái chế bao bì, bảo vệ môi trường, phát triển đô thị v.v... Thành
phố vì vậy đã có được hệ thống xe bus chạy trong rãnh O-bahn độc
đáo, lấy từ kinh nghiệm của thành phố Essen của Đức, một ý kiến đi
trước xe hơi Google tự lái nhiều thập niên. Đường O-bahn chạy từ khu
trung tâm thành phố tới ba khu tân lập. Là con đường riêng, nằm trong
rãnh với hai bờ thành là đường dẫn, xe bus khi vào đây sẽ “bung càng”
tựa vào hai bờ, không cần phải bẻ lái và có thể đạt vận tốc tới
80km/giờ, với mật độ xe 5 - 10 giây đồng hồ một chiếc, rất an toàn.
Khó có nơi nào trên thế giới hội đủ mọi điều kiện để có thể thiết
lập một hệ thống đường giao thông tương tự.
Mối đe dọa lớn nhất của tiểu bang sống nhờ trái cây
tôm cá này là con ruồi giấm, tiếng Anh là fruit fly. Fruit fly, do sinh
sản nhanh lại khó trị, chúng có thể phá sạch những vườn ớt, cà
chua, nhất là những vườn nho quý giá. Sự kiểm soát thực phẩm nhập
vào Nam Úc rất gắt gao, còn đi thăm vườn nho thì bạn không được tự ý
bước vào trong khu vực trồng.
Hơn nhiều thành phố khác, Adelaide có tới hai tuyến
đường xe bus miễn phí circle 98 và circle 99 vòng quanh thành phố, đi
giáp vòng mất hơn một tiếng, qua những nơi buôn bán xa hoa Rundle Mall,
ngôi chợ Trung Tâm rộn rịp với Chinatown kế bên ngập ngụa mùi ngũ vị
hương, qua những khu đại học, những công viên rộng và sân golf của
thành phố, vườn thảo mộc nằm kề bên sở thú có cặp gấu panda
WangWang và FuNi sắp tới hạn phải trả lại cho Trung Quốc mà vẫn chưa
chịu có bầu, rồi Viện Bảo Tàng Nam Úc, mà họ rất hãnh diện sở
hữu bộ sưu tập về rượu nho lớn nhất Nam Bán Cầu.
Người Việt ở Adelaide, do số ít, lại không tập trung
đông đảo, nên không có sinh hoạt tấp nập như ở Melbourne. Người Việt tị
nạn ở Adelaide phải bấm bụng sống chung với khá đông du sinh Việt Nam.
Khu Hanson và Arndale có thể coi là khu chợ Việt, với chợ Thuận Phát
và phở Minh mà người Việt nào ở Adelaide cũng từng một lần ghé qua.
Có những tờ báo miễn phí như Nam Úc Tuần báo hay Adelaide Tuần báo,
nhưng cũng như những tờ báo Việt khác, tình trạng chung là bài trên
báo phần lớn là những cóp nhặt từ internet, rải rác đây đó là bài
dịch từ báo địa phương. Những người làm báo Việt hải ngoại dường
như ngày càng có ít tiếp cận trực tiếp với xã hội Việt Nam, trong
khi nhu cầu tìm hiểu ngày càng tăng.
Vùng Adelaide, ngoài những loại hạt dẻ rất bùi rụng
đầy trên đồi vào cuối hè và rượu nho từ thung lũng Barossa hay McLaren
Vale, còn có một nơi độc đáo, đó là làng Hahndorf, nơi cộng đồng
người Đức tới định cư từ đầu thế kỷ 20. Nơi đây nhiều ngôi nhà vẫn
giữ kiến trúc kiểu Nhật Nhĩ Man, có nhiều tiệm bán sản phẩm Đức,
wurst và käse, tiệm ăn có gebraten hahn cùng kartoffel và cả sauerkraut
v.v... Tôi liên tưởng tới những người Việt ly hương, ăn quả cà pháo hay
cắn con khô sặc mà tưởng nhớ đến ngày xưa...
Trong những ngày lưu lại Adelaide chuẩn bị đi tiếp,
tôi may mắn được ông bà Kym và Tina, chủ trại chăn nuôi gần nơi làng
Goolwa ở cửa sông Murray phía nam Adelaide, cho trú ngụ hai ngày. Hai ông
bà dưỡng già bằng cách mua một thửa đất hơn trăm mẫu nơi hẻo lánh,
nuôi vài trăm con bò thả rong, buổi chiều nhìn kangaroo nhảy trong đồng
và đàn két trắng gallah bay từng cặp trên trời. Nhờ ông bà, tôi được
biết một số sinh hoạt trong trại, đi chợ bán nông phẩm trong làng và
xem buổi đấu giá đồ cũ, mà hai ông bà hí hửng mua được chiếc sofa
kéo ra thành giường ngủ còn mới, với giá quá hời: chỉ có hai đô la,
vì rao hoài chẳng có ai để mắt tới.

Bán đấu giá đồ cũ - Goolwa. Mỗi “tụ” sẽ được rao
bán
với giá khởi đầu tối thiểu 2 AUD.
Từ Adelaide tới Ceduna: Bán đảo Eyre
Sau khi cụ bị một số đồ ăn thức uống phòng hờ,
chúng tôi lên đường nhắm hướng tây. Qua Gawler với những nông trại
trồng cà chua, dưa leo mà một số người Việt tị nạn đầu tiên ở Úc
đã làm giàu nhờ nhanh lẹ chuyển sang lãnh vực canh nông, giờ đây
chúng tôi bắt đầu đi vào bán đảo Eyre của Nam Úc. Với chiều dài bờ
biển hơn 2000km (tương đương chiều dài bờ biển Việt Nam), bán đảo này
là một vùng trù phú, nhờ ngư nghiệp và nông nghiệp. Dọc đường có
nhiều vựa lúa khổng lồ cao hơn 20m, phần lớn của công ty Viterra. Có
những công ty chuyên làm các công việc đồng áng, chỉ cần lấy hẹn là
tới ngày đó họ chở máy tới. Máy cày, bừa, gieo hạt... giờ đây không
cần người lái mà có thể cho chạy tự động nhờ hệ thống định vị
GPS. Thêm vào đó, họ có thể cho nhiều máy chạy song hành nhau, mỗi
máy bao giàn một đường cả chục thước bề ngang. Cái lợi nhất là nó
có thể “làm ngày không ̣đủ, tranh thủ làm đêm”, tức chạy 24/24. Nếu
làm như kiểu Việt Nam thì cày chưa tới cuối ruộng, đầu ruộng đã gặt
rồi. Nông dân Úc thời nay có thể thắt cà-vạt đi dự những hội nghị
nông gia, tham gia đấu giá hay họp bàn việc canh tác. Ruộng bao la nhưng
không thấy nông cụ. Tuy thế, đời sống của họ chưa chắc đã sung túc
hơn xưa vì chi phí do những chuyện đâu đâu như thuế má, bảo hiểm,
thương lái... luôn thúc sau đít, bất kể trúng mùa hay thất mùa.

Vựa lúa mì trên bán đảo Eyre
Bán đảo Eyre hình chữ V, với hàng chục cảng và
vịnh lớn nhỏ, bắt đầu từ cảng Germein, nơi có chiếc cầu tàu 1,5km
dài nhất Nam Úc, và chấm dứt nơi thành phố Ceduna. Sinh hoạt bến
cảng và phố biển đại loại như nhau, du khách tới vùng này ngoài thú
hứng gió biển hay tắm (đặc biệt nước biển vùng này có độ mặn
thấp, tắm không bị rít), còn có thể chơi nhũng môn thế thao như trượt
nước, lướt sóng, bay bằng dù hay phóng ca-nô, hoặc tham gia những trò
giải trí đặc biệt của vùng như lặn xem mực nang khổng lồ – giant
cuttlefish, bơi cùng cá heo hay lên tàu ra khơi xem lũ hải sư (sea
lion) đùa giỡn. Dân làm ăn hay “du khách” đến có mục đích – trong nhóm
này có nhiều người Việt – thì họ kéo theo tàu cá, trên xe có trang
bị đồ nghề đánh bắt.
Nói là “đại loại như nhau”, nhưng khi đi sâu thêm, mỗi
nơi có một vẻ riêng của nó. Tại Port Augusta, khi xưa mỗi năm vào đầu
mùa thu mực nang khổng lồ quần tụ về đây sinh sản, có tới 250.000
con. Nhưng những năm gần đây tự dưng chúng biến mất dần, chỉ còn chưa
tới 100.000 con, hiện nay người ta đang cấm đánh bắt gắt gao. Port
Lincoln có khu rừng ngập mặn rất lớn, là trung tâm tôm cá của Nam Úc,
và được mệnh danh là “thủ đô cá ngừ của toàn thế giới”. Tại vùng
này người ta dùng trực thăng có gắn sonar dò tìm cá ngừ đại dương,
bủa lưới kéo về trạm ngoài biển, rồi kêu mối lái Nhật Bản tới chứng
nhận đúng là cá còn sống trước khi “thịt” và chở ngay món hải sản
đắt giá này tới các tiệm ăn... tại Nhật, vì dân Úc không hảo món
cá sống sashimi lắm.
Coffin Bay cung cấp loại hào rất béo nổi tiếng thế
giới nhưng chúng cũng có cái giá của nó, đang nằm trên trời. Vùng
này có khu lâm viên quốc gia được dân “bụi” ưa thích. Trên nguyên tắc,
bạn phải liên lạc với cơ quan quản lý và được chỉ định khu đất cắm
trại. Nhưng dân “bụi” thì thích đâu cắm đó. Khi bạn tới nơi, có thể
đất đã bị “cắm dùi”, điện thoại di động trong rừng coi như vất đi,
hoặc giả nếu bạn may mắn có gọi được, thì ai giải quyết giữa nơi
đồng không mông quạnh này đây?
Đi hết một dọc hơn chục cái cảng và vịnh lớn nhỏ
với đủ thứ tên lạ tai như Whyalla, Elliston, Streaky Bay, Venus Bay, Yangie
Bay..., nước trong vắt thấy rõ cá đuổi bắt nhau, ăn đủ thứ tôm cá
cua..., chúng tôi tới thị trấn Ceduna, một nơi đáng lẽ là chỗ nghỉ
lý tưởng nhưng dường như ai tới đây cũng háo hức muốn đi tiếp: hoặc
qua hướng tây vào nơi sa mạc như chúng tôi, hoặc xuống hướng nam hưởng
gió biển, nơi chúng tôi vừa đi qua.
Từ Ceduna tới Balladonia: Vùng sa mạc
Giờ đây chúng tôi đang đi trên xa lộ Eyre, khúc đường
nơi đây rất tốt, vì khi làm không ai muốn sau vài năm phải tu bổ lại
trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt của vùng này. Qua những cánh
đồng lúa mì rộng bao la không thấy bờ, làng Penong với những trại
chăn nuôi có hàng ngàn con bò đen Angus và cừu thả rong – cũng có nơi
nuôi nai, chúng tôi đến Yalata, bắt đầu vào vùng đất của thổ dân
Aboriginals. Nơi đây chỉ còn những khu rừng khuynh diệp trải dài mút
mắt.
Yulata nằm cách biển không xa, nơi đây có địa danh Head
of Bight, tức đầu vòng cung bờ biển mạn nam Úc châu, là một trong ít
điểm hiếm hoi trên thế giới bạn có thể đứng trên bờ để quan sát cá
voi. Tại Head of Bight, chúng tạt vào đây sinh sản và nuôi con vào mùa
thu, để hết đông thì xuống vùng biển lạnh Nam cực. Chúng tôi gặp may
– tuy là cái may đã được báo trước, khi nghỉ chân ở Ceduna. Nơi đầu
thị trấn Ceduna có người đã ghi trên bảng là họ phát hiện được hai
con cá voi tại Head of Bight. Quả thực, khi xuống tới bãi, chúng tôi
đã có dịp thử tài chụp hình hai mẹ con đang nhấp nhô trong sóng, chỉ
cách bờ chừng 200m. Lần đầu tiên trong đời được nghe tận tai thấy tận
mắt tiếng gió rít như còi và chùm hơi nước phụt lên mịt mù trong
khoảng khắc vài giây khi chúng trồi lên thở, thật hồi hộp chen lẫn
phấn khích. Tên chung là cá voi, nhưng có tới chục loại khác nhau, cá
voi vùng này không có chiếc đầu bự như ta thường thấy trong sách.

Cá voi bơi trong vịnh Head of Bight
Nhưng rồi chúng tôi lại phải đi tiếp sau khi có được
mấy chục tấm hình “chẳng ưng ý chút nào”. Vừa rời Yalata một đỗi,
cánh rừng khuynh diệp tự dưng mất biến, dấu hiệu thiên nhiên cho biết
chúng tôi đã vào trong “Vùng Đất Phẳng Không Cây”, Nullus Arbor từ
tiếng La-tinh đã trở thành địa danh Nullarbor Plain. Thực ra, toàn vùng
là một phiến đá vôi lớn nhất thế giới, rộng hơn nửa nước Việt Nam.
Do tính kiềm, chỉ có những bụi cây gai Spinifex còi cọc là còn ráng
mọc được. Cách nay nửa thế kỷ, ai vượt được chặng đường khô hạn dài
hơn một ngàn cây số này có thể vỗ ngực tự hào đã lập được thành
tích. Ngày nay, tuy đã có đường bộ và đường xe lửa chạy xuyên qua,
nhưng xe cộ thưa vắng, những trạm đổ xăng cách nhau vài trăm cây số
trong những thị trấn đìu hiu chỉ có caravan park với dãy cabins. Những
nơi nghỉ qua đêm này thường có làm một sân golf sơ sài. Trên chặng
đường dài hơn 1300km, từ Ceduna tới Kalgoorlie-Boulder có hơn chục sân
golf 18 lỗ kiểu này, ai đã “duyệt” qua bằng đó sân golf có thể vỗ
ngực khoe thành tích qua một serie hình.
Nếu không có việc cần kíp thì chẳng ai muốn lái xe
trên quãng đường hoang vắng này từ lúc chạng vạng tối cho tới khi
mặt trời sắp ló dạng, là khoảng thời gian thú rừng hay băng qua
đường. Người thích hình lưu niệm thường chụp tấm hình đứng dưới tấm
bảng cảnh báo độc nhất vô nhị của Úc “NEXT 96 km” với logo ba con
thú: lạc đà, kangaroo và con wombat, một loại thú có túi mập ụt ịt
nửa giống gấu nửa giống heo. Lạc đà là do khi xưa lúc Úc phát triển
đường xá họ mướn dân Afghanistan tới làm việc nơi vùng sa mạc, cùng
với đàn lạc đà của họ làm phương tiện vận tải hàng hóa vật liệu
xây cất tới và chở len về. Khi làm xong, họ bỏ cả vật dụng và lạc
đà lại, giờ đây chúng trở thành thú hoang rất dữ và khó trị, có
tới hơn nửa triệu con lang thang trong sa mạc. Ai bắn được và cắt đuôi
làm bằng chứng thì sẽ được chính phủ trả cho một số tiền. Tuy
nhiên, trong suốt vùng Nullarbor Plain, logo trên bảng cảnh báo thay đổi
từ chặng: ngoài ba con thú kể trên còn có đà điểu emu, nai, rồi bò
cừu, ngựa..., đi thêm nữa, qua khỏi vùng hoang mạc này thì có vịt
trời, rắn, bọ cạp và cả chuột bandicoot. Đoạn nổi danh “NEXT 96 km”
tìm đỏ mắt cả hai bên đường chỉ thấy duy nhất một chú wombat nằm
quay lơ. Đoạn kế đó thì hỡi ôi! Chỉ nhìn dọc bờ đường thôi cũng
chẳng thế đếm hết số kangaroo bất hạnh, nói chi tới số còn cố lết
được vào bụi. Có xác đã rữa, chỉ còn lớp da lép xẹp. Có xác mới
nguyên như vừa xảy ra đêm rồi. Bu quanh là lũ quạ đen dạn dĩ thi nhau
rỉa rói, xe hơi bóp kèn chạy tới sát một bên mới chịu bay vụt lên. Tiếng
kêu quạ, quạ, quà... trong cảnh hoang vu nghe buồn làm sao.
Qua chặng “Next 96km”, giờ đây chúng tôi băng qua ranh
giới giữa hai tiểu bang Nam Úc và Tây Úc, được đánh dấu bằng chú
kangaroo Rooey 11 đứng làm “thần canh cửa” và trạm kiểm soát thực
phẩm cạnh đó. Lại một màn soát các túi hành lý trên xe, mọi thứ
rau trái tươi bị vất hết. Thật đau bụng khi biết rằng trong sa mạc
những thứ này rất mắc. Thầm nghĩ nếu ở Việt Nam thì chắc tại trạm
biên giới có nạn “lót tay”, hay màn chửi thề là nhà nước cấu kết
với các tiệm thực phẩm trong sa mạc.


Bức tượng chú kangaroo Rooey 11 (trái) và di
tích
trạm điện tín Eucla (phải)
Qua biên giới này, gần như xe nào cũng ghé vô làng
Eucla ngay đó để châm cho đầy bình xăng – vì biết rằng càng đi thêm
càng bi đát, và nếu cần thì ngủ lại, như chúng tôi, vì xe không có
cản phía trước, lỡ đụng phải chú kangaroo nào đó là có cơ nằm
đường. Còn nếu vô ý tông phải lạc đà hay emu thì người cũng vô bệnh
viện. Tại Eucla chờ mua xăng như chờ mua nhu yếu phẩm, máy bơm đã chậm
mà nhân viên bán hàng còn chậm hơn, mình cần họ chớ họ đâu cần
mình. Eucla có di tích trạm điện tín khá hấp dẫn du khách. Khi xưa
trạm này là nơi liên lạc duy nhất của vùng Tây Úc với phần còn lại
của thế giới, nhưng giờ đây chỉ còn sót lại những bờ tường đổ nát.
Vừa vặn lui đồng hồ 45 phút, chạy thêm hơn 200km nữa
tới Caiguna, lại vặn lui thêm 45 phút nữa. Xứ Úc kỳ quái, chia múi
giờ lẻ. Xét theo thiên nhiên thì hợp lý, nhưng chắc chắn nó gây nhiều
phiền toái trong sinh hoạt hàng ngày.
Rời làng Caiguna, chúng tôi vào khúc xa lộ nổi tiếng
thế giới: đoạn đường dài 146,6km thẳng bót không một khúc quanh. Nổi
tiếng cũng vì đây là một thử thách: đường rất vắng xe, do đó nếu
trời nắng gắt bạn rất dễ ngủ gục và thế là đi thẳng lên thiên đàng
hay xuống địa ngục hồi nào không hay. Tuy nhiên, thực tế không như vậy.
Có lẽ một phần do phấn khích khiến tôi tỉnh ngủ, phần khác là do
con đường tuy thẳng nhưng khá gập ghềnh, và gió tạt mạnh khiến xe
lắc lư liên tục. Do đó, sợ nhất không phải sợ mình ngủ gục mà sợ
người lái xe chạy ngược chiều ngủ gục hay chao tay lái trên con đường
tương đối hẹp, thì đó là phận số. Chạy xe trên đường này đôi khi
thấy ảo giác, đường chân trời dường như biến mất, do nắng lóa.

Đoạn xa lộ thẳng dài nhất nước Úc
Cuối chặng xa lộ này là làng Balladonia, tới đây
chúng tôi thở phào nhẹ nhõm: bắt đầu vào nơi có dân cư. Cứ tưởng là
khỏe, nhưng làng này vẫn còn hoang vắng lắm. Một trái táo trong tiệm
đề giá 2 AUD. Nước phải chở từ thị trấn Norseman cách đó 200km
tới. Dường như người qua đây vẫn chưa hoàn hồn nên chạy luôn. Nếu
năm 1979 trạm thí nghiệm không gian Skylab không “tình cờ” rơi xuống
vùng này thì chẳng ai biết tới địa danh Balladonia. Đương nhiên người ta
̣đã xây một viện bảo tàng lịch sử của làng, trong đó có một khu
dành riêng cho Skylab với các mảnh vỡ thu lượm được, vào xem miễn
phí, nhưng nó lại nằm khuất bên cạnh quán ăn duy nhất trong làng, nên
ít người biết.
Điều đáng ghi nhận trong vùng sa mạc này là tại mỗi
nơi nghỉ chân đều có hai cabin điện thoại công cộng của hãng Telstra
có thể gọi hay gởi tin nhắn bằng tiền xu. Mọi liên lạc đều phải
trông cậy vào chiếc điện thoại. Nhiều cơ sở nhỏ có cách tự sinh tồn
nhờ một bồn chứa nước đặt sau nhà và trên nóc có gắn những tấm thu
năng lượng mặt trời cung cấp đủ điện tiêu dùng.
(Còn tiếp một kỳ)
Nguyễn
Hiền