
Viết trong thời điểm 1 AUD = 0,77 USD = 0,67 € = 17,2k
VND
(Tiếp theo và hết)
Từ Balladonia tới Esperance: Trở lại thế giới có
người và cây
Balladonia không thể gọi là làng mà chỉ là “nơi nghỉ
chân” như nhiều trạm nghỉ chân khác trong vùng sa mạc, tuy nó khá hơn
một chút. Tức là chỉ có một tụm gia cư, bên cạnh đó là trạm xăng,
motel, quầy hướng dẫn du lịch, quán cơm kiêm quán rượu. Và như trên đã
ghi, do Skylab, có thêm một “viện bảo tàng” bỏ túi ước chừng ba chục
thước vuông.
Trong vùng Nullarbor Plain hoang vu, ngày trước có các quán
trọ dọc đường – road house, cho những người lỡ độ đường có thề ngủ
qua đêm, nhưng ngày nay xe hơi và đường xá đã cải tiến nhiều, những
quán trọ này không còn lý do để tồn tại. Người nào gặp rủi ro không
thể ráng lết tới những trạm nghỉ chân cách nhau cả vài trăm cây số
thì chỉ còn cách ngủ trong xe. Có những trường hợp xe hư dọc đường,
quá giang xe khác tới trạm sửa xe, khi trạm cho xe tới trục về thì
chủ xe lại phải bấm bụng mua thêm bốn bánh mới vì “ai đó” đã nhẹ
tay rinh đi mất. Trên xa lộ có nhiều đoạn được sửa thành phi đạo cho
máy bay đáp – thường là của cảnh sát hay của đội ngũ cấp cứu Royal
Flying Doctors, họ có một hệ thống cấp cứu bao trùm cả nước Úc.
Sau khi dốc cạn xăng trong chiếc can dự trữ mang theo vào
bình, chúng tôi rời Balladonia, đi tiếp về hướng tây thêm 200km, tới
Norseman, thị trấn đông đúc đầu tiên sau vùng Nullarbor Plain. Từ đây đổ
lên mạn Tây Bắc là vùng mỏ vàng và nickel, xa hơn nữa là vùng khai
thác ngọc trai. Từ Norseman đi xuống – chặng đường chúng tôi sẽ đi –
là vùng Tây Nam Úc, với bờ biển nhiều tôm cua, những khu rừng khuynh
diệp đại thụ và cũng là vùng đất giàu chất vôi, thích hợp với
nghề trồng nho cất rượu.
Cư dân cả thị trấn gần ngàn dân này sống nhờ mỏ
vàng lớn thứ nhì tại Úc, chỉ thua mỏ Kalgoorlie. Mỏ vàng nằm tại
Dundas, cách Norseman 22km về phía nam. Nơi đây suốt ngày bụi mịt mù
và ồn ào tiếng máy. Những chiếc xe vận tải chở quặng chạy ì ạch
đi tới đi lui, nghe nói mỗi chuyến tới hơn 200 tấn đất đá. Phía xa là
một mô đất lớn như một quả đồi nhỏ, cao cả trăm thước, đó là đất
đá thải ra sau khi khai thác. Cho tới nay người ta đã tinh chế được hơn
5,5 triệu ounce vàng từ đây. Con số mới nhìn tưởng lớn, nhưng nó ch́ỉ
nặng tổng cộng 160 tấn, chưa đầy một chiếc xe vận tải cỡ lớn. Số
vàng này không thấm vào đâu so với “ngọn đồi chất thải”. Bên cạnh đó
là cái lỗ sâu hoắm, nơi có mạch vàng. Khách du lịch có thể mua vé
vào một khu dành riêng để “tìm may mắn”, nhưng ai biết khôn một chút
thì thấy đó chỉ là một trò đùa để chụp hình khoe với người thân.
Khu mỏ vàng nhuốm bầu không khí hoang dại, phảng phất miền viễn tây
của Hoa Kỳ thấy trong phim ảnh, nhà cửa nhếch nhác, người ngợm áo
quần luộm thuộm bám đầy bụi vàng ố. Chỉ thiếu những saloon và cowboy
cưỡi ngựa, vì mọi người đều chạy xe hơi. Hiện nay người ta bắt đầu
khai thác nickel tại đây, nhưng không dễ, do qui trình tinh chế rắc rối
và nhiều người bị dị ứng với nickel.

Xe chở quặng tại mỏ vàng ở Dundas. Norseman.
Phía sau là ngọn đồi chất thải
Để có nước cho cả thị trấn, luôn cả cho làng
Balladonia cách đó 200km cùng những làng lân cận, cho các trang trại
trong vùng và nhất là cho nhu cầu khủng khiếp của kỹ nghệ luyện kim,
một hệ thống ống dẫn vĩ đại dẫn nước từ con đập gần Perth tới. Đó
là chưa kể tới hệ thống lọc nước thải. Những vùng mỏ ở Việt Nam
với nạn bùn đỏ tràn lan, Formosa làm chết cả triệu cá... còn cần
phải học hỏi nhiều từ khu mỏ này.
Giã từ Norseman với bức tượng con ngựa Hardy Norseman
của anh em nhà thám hiểm Sinclair, người đã tìm được mạch vàng ở đây
vào cuối thế kỷ 19 – giờ là biểu tượng của thành phố, chúng tôi rẽ
xuống phía nam. Thay vì đi xa lộ, chúng tôi men theo con đường mòn khi
xưa là đường xe đò liên tỉnh, hiện nay thành một di tích được bảo tồn.
Gọi là giữ nguyên trạng, nhưng con đường bị bỏ hoang lâu ngày, quanh co
gập ghềnh với những bảng chỉ đường mờ nhạt, tôi tự hỏi đường xá
như vầy khi xưa mỗi tuần có mấy chuyến xe đi qua, mà đi đâu?
Thế rồi con đường mòn cuối cùng cũng bắt vô đường
xa lộ, từ đây đổ xuống và qua hướng tây có nhiều địa danh tận cùng
bằng -up (thổ dân Aboriginal thực ra có rất nhiều chủng tộc, mỗi
chủng tộc có cách đặt tên theo ngôn ngữ của họ). Xe chạy miết thấu
bờ biển phía nam, đụng cảng Esperance. Sau nhiều ngày chỉ thấy cát
bụi, nay chúng tôi đón được ngọn gió biển tanh nồng mùi rong.
Esperance có con đường nổi tiếng cho du khách ngắm cảnh, dài 38km mang
tên Esperance Great Ocean Drive, tên gợi nhớ tới con đường ven biển Tây
Bắc Cali 17 Mile Drive. Khúc đầu EGOD dẫn qua gần chục cái bãi đẹp,
mỗi nơi một vẻ, gió thổi ù ù mát rượi. Đi thăm qua hết những bãi
này cũng mất gần hai tiếng, Bãi Salmon Beach là nơi vào mùa thu người
trong vùng có cái thú leo lên mấy gộp đá để câu cá hồi. Khi chúng
tôi xuống tới bãi, tuy chưa tới mùa cá nhưng cũng có vài người xách
cần câu tới với hy vọng mong manh có cá cắn câu.

Những gộp đá trên Salmon Beach, nơi bạn
có thể câu cá hồi, mặc dù dễ bị trượt té gãy
chân.
Qua đoạn dọc bãi biển, con đường chạy ngang qua chiếc
hồ lớn mang tên Pink Lake. Đáy hồ có loại tảo xanh lục, khi gặp điều
kiện thích hợp – nhiệt độ, độ mặn và ánh sáng trong mùa hè, chúng
sinh ra beta-caroten nhuộm nước thành đỏ hồng. Đọc bảng giải thích
tới khúc này, tôi chợt nhớ tới vụ Formosa ồn ào một dạo với những
lời chối tội loanh quanh, đổ cho đám tảo đỏ không biết nói.
Từ phố biển Ceduna chạy tới đây cả ngàn cây số, hy
vọng nhà hàng có món tôm, nhưng nơi đây cũng như Ceduna, trong thực đơn
những món tôm phía dưới lại có kèm thêm chú thích “không có tôm”.
Hỏi ra mới biết là tôm nhập từ Việt Nam đang “có vấn đề”, giải rõ
nghĩa là họ tìm thấy trong tôm có những mầm bệnh, cho nên tạm thời
cấm nhập. Muốn tôm thì mời bạn qua nhà hàng sang, họ dọn tôm Úc cho
ăn, với giá VIP. Thế là tôi đành phải chọn một trong hai thứ cá phổ
thông ở đây là King George Whiting, thịt lạt lẽo; và cá nhám –
tức cá mập nhỏ, một phó sản do chúng thường bị mắc lưới khi tàu
đánh bắt cá khác. Và cũng nhờ nói chuyện, tôi mới biết loại tôm
hùm marron tại vùng Marron Creek trên đảo Kangaroo Island phía nam
Adelaide là chở từ vùng biển này tới, chứ không phải sản vật địa
phương như tôi vẫn nghĩ trong một lần sang đảo chơi.
Từ Esperance tới Bunbury: Bán đảo Tây Nam Úc
Bỏ Esperance lại đằng sau, chúng tôi đi tiếp vòng cung
bờ biển 300km tới Albany, một thị trấn khá sầm uất nằm nơi đầu doi
đất của bán đảo Tây Nam Úc. Albany gắn với lịch sử Úc. Khi thế
chiến I bùng nổ, Úc và Tân Tây Lan phải tuân lệnh đế quốc Anh, gởi
binh đoàn Úc-Tân Tây Lan, tức ANZAC, tham chiến. Hai đoàn tàu dài chở
khẳm lính mới nhập ngũ, ngựa và chiến cụ, xuất phát từ King George
Sound ở Albany, xung vào chiến tranh. Nhiều thanh niên thích mạo hiểm
tới vùng đất lạ, hoặc cần tiền, đã hăng hái nhập ngũ. Ai dè đế
quốc Anh, giữ vai trò điều động, chơi xấu, thảy đám ANZAC vào trận
chiến tại Ai Cập chống lại quân đế quốc Ottoman hung dữ và thiện chiến
lại quen phong thổ, với kết cuộc bi đát. Trong National ANZAC Centre ở
Albany người ta có thể xem lại những gì đã xảy ra khi đó qua một
hình thức rất lạ: mỗi người được một chiểc thẻ mang tên một quân
nhân, để rồi qua mỗi chặng trong cuộc đời anh ta – từ khi nhập ngũ cho
tới khi kết cuộc, bạn có thể “mở hồ sơ” của anh – lưu trong computer,
xem những đơn từ, công văn, hình ảnh, lưu bút và thư gia đình mà người
ta còn góp nhặt được. 41.265 binh sĩ lên đường, hơn một phần ba không
trở về. Tôi được tấm thẻ của một anh binh nhất người Tân Tây Lan, tham
chiến vài tháng thì bị xử tử vì tội ngủ gục trong phiên gác. Số
phận những con ngựa còn bi thảm hơn: chỉ có duy nhất một con trở về,
vì khi đó dịch cúm Tây Ban Nha đang hoành hành, súc vật không được
nhập vào Úc. Ngày 25/04/1915 là đợt đổ bộ đầu tiên của ANZAC lên bán
đảo Gallipoli của Ai Cập. Ngày này đã trở thành ngày quốc lễ Anzac Day,
tại những thành phố lớn có diễn binh. Kế bên National Anzac Centre là
khu di tích vòng đai phòng thủ vùng biển này trong thế chiến II, với
một số xe tăng, bunker, pháo đài v.v...
Xem lại đời binh nghiệp của anh binh nhất John 'Jack'
Dunn, tôi không khỏi bùi ngùi khi nghĩ đến những thanh niên Việt non
thế kỷ trước, vì óc mạo hiểm cũng có mà vì lóa mắt trước tám
mươi đồng bạc Đông Dương tiền thưởng cũng có (số tiền thực ra rất
lớn, đủ ăn mấy năm), đã 'tòng quân' đi Tân Thế Giới. Ai dè đám lính
thợ này bị lùa lên tàu, chen chúc dưới hầm, heo gà bên trên, chở
tuốt qua Bắc Phi sống với mọi đen.
Albany còn gắn liền với lịch sử Úc bằng khu triển
lãm Historic Whaling Station đặt tại trạm xẻ thịt cá voi để nấu dầu
cuối cùng. Năm 1979, khi Úc hoàn toàn cấm đánh bắt cá voi, con tàu
đánh cá voi cuối cùng Cheynes IV và một phần lớn trạm chế biến tại
Albany được giữ nguyên trạng, trở thành nơi triển lãm về nghề đánh
cá voi đầy đủ nhất trên thế giới. Mấy trăm năm trước, người ta dùng
dầu cá voi để thắp đèn. Hiện tại, dầu và mỡ cá voi vẫn còn được
dùng trong vài trường hợp không có chất nhờn khác thay thế, điển
hình nhất là các loại mỡ bôi trơn trong các trục chân vịt của tàu
ngầm. Cá voi là tên gọi chung loài có vú mang dạng cá, thở bằng
phổi và sinh con, còn xét theo khoa học thì có nhiều loại cá voi mang
tên khác nhau, tùy theo hình dạng trong viện bảo tàng nơi trạm xẻ
thịt này có trưng bày gần chục bộ xương các loại cá voi khác nhau.
Dân săn cá voi thích nhất là cá nhà táng (Physeter macrocephalus, tiếng
Anh là sperm whale), lý do là kích cỡ, và trong ruột của nó thường
có cục long diên hương (ambergris) rất quý và được các nhà chế tạo
nước hoa lùng mua với giá bằng nửa giá vàng, tuy mùi nó rất tanh.
Cũng như chuột xạ, có cục tuyến rất hôi nhưng chỉ cần một vi lượng
trong dầu thơm là nó trở thành mùi quyến rũ phái nữ lạ kỳ. Trong
đầu cá nhà táng có vài ngàn lít chất sáp cá voi, tên gọi là
spermaceti hay cetaceum mà khi xưa người ta dùng làm đèn cầy cao cấp hay
dùng trong kỹ nghệ mỹ phẩm và dược phẩm. Cá voi có thể nặng tới 40
tấn. Công việc xẻ thịt bằng những con dao thật bén có cán dài như
chiếc xẻng là một việc rất cam go. Trong sân sừng sững một dãy bồn
lớn tựa bồn xăng, đó là những bồn khi xưa chứa dầu cá voi. “Nhất
phá sơn lâm, nhì đâm hà bá”, nhưng khi vào thăm xưởng rồi sau đó lên
chiếc tàu để xem tường tận những công việc thủy thủ phải làm thì
thấy là chỉ có đám chủ tàu là nhiều tiền lắm bạc mà thôi. Vào
thăm trạm này, đặc sắc là khúc phim diễn tả cuộc sống của một gia
đình thủy thủ trong giai đoạn phải bỏ nghề, phim thực hiện bằng kỹ
thuật hologram rất sống động.

Con tàu săn cá voi Cheynes IV và những bồn dầu
phía sau
Bên cạnh trạm này là một vườn có trồng nhiều cây
đặc thù của Úc và có chuồng nhốt những con thú của xứ Úc. Tại đây
bạn có thể thấy đủ loại kangaroo, wallaby (một loại tương cận, có
hình dạng tương tự kangaroo) từ lớn tới nhỏ, từ trắng, xám tới đỏ,
nâu..., một số chim lạ, và đương nhiên có gấu koala luôn ẩn trong tàng
cây.
Tại Albany, người thích xem cảnh lạ thiên nhiên chắc
chắn phải tới xem hẻm núi The Gap và cây cầu đá thiên nhiên bên cạnh
đó. Muốn xem The Gap thì phải leo lên cây cầu bắt de ra ngoài mỏm đá.
Nơi đây sóng gió rất dữ, vỗ ầm ầm. Theo truyền thuyế́t của dân
Aboriginal, xưa kia có hai anh em cùng yêu một cô gái, đâm ra thù hận
tới mức đánh nhau. Hai người đứng hai bờ vực, một người cầm cây lao,
người kia cầm cây boomerang, họ cùng ra tay một lượt và cùng trúng
đích. Người trúng lao rớt xuống, hóa thành con cá đuối (có cái đuôi
giống ngọn giáo), người kia bị cây boomerang quật từ sau lưng tới, té
xuống và hóa thành con cá voi (có cái đuôi giống hình cây boomerang).
Việt Nam thì có truyện Trầu Cau và truyện Ông Bà Táo, hóa ra thảm
cảnh gia đình trên thế giới không khác nhau bao nhiêu. Thực sự, rớt
xuống đây là chết liền. Trong lịch sử, chỉ có một lần duy nhất: một
người đang đứng trên bờ bỗng bị sóng đập lên, kéo xuống biển và nhờ
một “phép lạ”, anh ta mắc kẹt trong hốc đá, không ra được. Người ta
phải huy động trực thăng và nhờ tới một thủy thủ tàu đánh cá voi,
với kinh nghiệm xông pha trên biển động mới có thể mang anh ta ra khỏi
nơi nguy hiểm.


Hẻm núi The Gap và cây cầu đá thiên nhiên
Albany còn nhiều thứ hấp dẫn, nhưng chúng tôi phải đi
tiếp, theo bờ biển Tây Úc tiến dần lên phía Bắc. Vùng này chịu ảnh
hưởng giòng hải lưu nóng Leeuwin và gió từ biển thổi vào nên khí
hậu ôn hòa, cây cối tốt tươi. Cộng thêm chất đất là đá vôi, thích
hợp với cây nho. Đây là vùng rượu nho Denmark khá có tiếng tại Úc. Đi
qua những trang trại lớn nuôi bò đen Angus và bò nâu Wagyu – nghe nói
bò Wagyu nuôi tại vùng này được cho uống rượu nho đỏ cho thịt đậm đà
hơn, cạnh đó có những trại nuôi nai, nuôi đà điểu emu... là đến những
rừng cây khuynh diệp đại thụ. Tới Úc tôi mới biết, và thấy tận mắt,
các loại cây khuynh diệp – eucalyptus – có hàng trăm loại khác nhau, từ
những bụi nhỏ cho tới những cây đại thụ gốc hai ba người ôm, cao tới
hơn 70m và sống cả 400 năm như trong những khu rừng này. Phần nhiều
chúng mang tên do thổ dân Aboriginal đặt. Đang từ những nơi chỉ có cỏ
và bụi rậm cây mặn saltbush hay bụi gai spinifex cằn cỗi, nay lái xe
len giữa cả triệu cây cột khổng lồ, cảm thấy choáng váng. Tiếng dân
gian Úc gọi vùng này là vùng big tree, khoa học hơn chút thì có hai
tên: cây tingle và cây karri, nhưng chúng cũng là khuynh diệp cả. Bên
cạnh đó có cây karri she-oak, cũng loại đại thụ. Hơn 70% đất trong
những khu rừng này ánh sáng mặt trời không lọt tới, đủ biết rừng
dày cỡ nào. Tại Wilderness Discovery Centre, trong khu lâm viên Valley of
the Giants, nếu bạn có khá tiền thì có thể bỏ ra 21 AUD để vào thăm
và bước lên cái cầu treo Treetop Walk với một kiến trúc độc đáo, vắt
vẻo trên độ cao 40m luồn qua những ngọn cây, dài ba bốn trăm thước, và
đi dạo trên con đường len qua những cây khổng lồ rỗng ruột, chỉ kém
những cây sequoia trong Yosemity Park bên Hoa Kỳ một chút. Có những cây
hình dáng rất cổ quái, thí dụ cây mang tên “bà nội” có gốc xù xì
như mặt bà già da nhăn nheo. Nếu không muốn mất tiền thì đi thêm một
khúc nữa, bạn có thể vào con đường đặc biệt cho xe hơi dài 25km giữa
rừng cây, nhưng mà phải tính trước vì khá hao xăng do xe không chạy
nhanh được, đường rừng gập ghềnh, và đã vào rồi là không còn lui
trở ra được nữa.

Gốc cây khuynh diệp đại thụ “Bà Nội”
Hoặc bạn có thể chạy thêm một chút, tới làng
Pemberton, cũng là một vùng rượu nho nổi tiếng miền Tây Úc, cách
làng vài cây số có cánh rừng khuynh diệp đại thụ Gloucester, nổi
tiếng với cây khuynh diệp Gloucester mà người ta đã đóng thang dây cho
bạn leo lên tới độ cao 53m để ngắm rừng cây từ ngọn. Ít người dám
leo, sợ nhất là khi hai người lên xuống phải nép sang hai bên tránh
nhau trên cùng một chiếc thang, tuy cấu trúc của thang khá an toàn nếu
bạn không sợ quá mà buông tay.
Ra khỏi mấy khu rừng âm u này, chạy một đỗi là tới
làng Augusta (Cape Leeuwin), nằm nơi cực nam của mỏm đất nhô ra biển
thuộc tiểu bang Tây Úc. Từ đây trở đi dịch vụ cho khách du lịch bắt
đầu nở rộ, điều đó có nghĩa là bắt đầu có nhiều tiệm bán đồ lưu
niệm – như tranh, đồ thủ công mỹ nghệ..., và bạn sẽ phải chi tiền cho
những chuyện lẻ tẻ. Nơi đây, ngoài phố bắt đầu thấy nhiều khách du
lịch Trung Quốc đi chơi bằng xe hơi riêng, chứng tỏ họ đã định cư tại
Úc. Nhiều vườn nho cũng có thêm hàng tiếng Tàu trên bảng dẫn đường.
Từ Augusta tức mỏm dưới đi dọc bờ biển lên tới mỏm trên (Cape
Naturaliste), có thể đi hai cách: phía biển có nhiều bãi nhưng nước
thì lạnh mà sóng ào ạt đưa vào bờ rất dữ. Nếu không phải là dân
thích chơi trượt nước thì chỉ có leo xuống xe đứng ngó, không bõ công
chụp hình, ngoại trừ bãi Canal Rocks có nhiều mỏm đá nhô lên gần bờ
và những rạn đá ngầm hắt sóng lên triền đá, đổ xuống như thác, mỗi
đợt mỗi kiểu, nhìn hoài không chán mắt. Phía trong núi có mấy chục
cái hang động thạch nhũ, nhưng chúng là hang đớp tiền du khách, cũng
như hai cột hải đăng cao ngất, trấn hai mỏm nam bắc, quảng cáo um sùm
là cao nhất vùng, nhưng chẳng có gì đáng xem.

Một cô gái Trung Quốc đang thực hiện một videoclip
quảng cáo
rượu nho Tây Úc cho một công ty du lịch.
Qua chặng đường có những bãi surfing và hang động
này, xe vào thị trấn Margaret River – một vùng rượu nho nổi tiếng, có
con sông Margaret rất lạ, dài chừng chục cây số mà từ con lạch đen
ngòm nơi đầu nguồn trở thành rộng mênh mông nơi cửa biển. Rồi tới
Busselton, nơi đây không khí vui chơi đã rõ nét lắm. Có nhiều hàng
quán và tiệm ăn nhậu ngó ra biển. Chiếc cầu tàu tại đây dài mút
mắt, tới mức người ta làm đường rầy cho chiếc xe lửa nhỏ đưa đón
khách từ bờ ra tới cuối, ngừng ba trạm cho khách có thể xuống hưởng
thú mình thích: câu cá, lặn xem cá, chèo thuyền.... Đi bộ lên cầu
cũng phải trả hơn ba đô, rồi hàng bán rong mồi chài..., tóm lại mất
vui phần nào.
Tới đích: Perth
Loay hoay tính sai đường cho nên qua Busselton chúng tôi
phải tấp vào Bunbury để qua đêm. Thị trấn sầm uất, tiệm tùng, nhà
hàng... tấp nập, nhưng tìm hoài không thấy nét đặc sắc, tóm lại nó
y như nhiều thành phố du lịch để du khách đến shopping và ăn uống. 200
km đường xa lộ nữa là tới Perth mà không ráng nổi. Sáng hôm sau chúng
tôi lên đường, buổi trưa cái đích đã hiện ra trước mắt. Khúc đường này
thực ra có thể đi bằng hai cách: theo xa lộ chính hoặc theo đường nhỏ
qua vùng rượu nho của phần đất này. Tuy nhiên mọi thứ thấy mang vẻ
thương mại, cho nên chúng tôi chọn con đường nhanh nhất, và tới Perth
kịp giờ ăn trưa.
Perth có công viên King với vườn thảo mộc Western
Autralian Botanic Garden rộng mênh mông, miễn phí, còn có tour hướng dẫn
tận tình gần hai tiếng đồng hồ do những phụ nữ tình nguyện đảm
trách. Nhờ khí hậu đặc biệt của Perth, chịu ảnh hưởng của gió ấm
từ Ấn Độ Dương phía tây, gió lạnh từ Nam Băng Dương lên và gió từ
miền sa mạc phía đông thổi vào nên vườn thảo mộc này rất phong phú.
Tôi học được nhiều điều bổ ích về những giống khuynh diệp – tức
Eucalyptus và ngạc nhiên về sự đa dạng của những bông Banksia, từ nhỏ
như ngón tay tới lớn bằng cây chổi lông gà nhỏ. Trong vườn có cây Boab
750 tuổi, được bứng từ vùng sa mạc về trồng. Cuộc di dời vĩ đại
này là một kỳ công. Perth có khu Dalkeith kề bên con sông Swan, với
Jutland Parade và khúc đường Victoria là nơi nếu túi tiền của bạn
không có bảy tám số thì chỉ có đứng ngó những căn nhà đồ sộ, như
tôi hiện giờ. Đi trong khu, tôi bắt gặp chiếc xe hơi mang bảng số FW,
bảng số ngắn nhất tôi được thấy trong những ngày ở Úc (biển số xe
càng ngắn càng phải trả nhiều tiền).
Rất tiếc, vì thời giờ eo hẹp, tôi đã không có cơ hội đi thăm
những khu như Mirrabooka và Gerawheen, là nơi tập trung sinh hoạt của người Việt
tại Perth, cũng như đón phà tới đảo Rottnest, một nơi được nhiều người thích
trò lặn hụp hay lướt sóng viếng thăm.

Cây Boab 750 tuổi tại vườn thảo mộc Tây Úc ở
Perth
Tới Perth mà không đi thăm Fremantle là một thiếu sót.
Fremantle là một hải cảng phía nam, nằm ngay cửa sông Swan, cách Perth
nửa giờ xe lửa. Mỗi chiều, gió mát từ Fremantle đưa lên làm dịu bớt
cái nắng gắt của Perth. Không như Perth với những cao ốc đồ sộ, Fremantle
mang vẻ dễ thương, nhà cửa nhỏ nhắn, xinh xắn, đượm nét Âu châu, có
những khu cộng đồng người Ý, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ v.v... sống tập
trung. Nơi đây có viện bảo tàng những chiếc tàu bị đắm, trong đó có
một tầng triển lãm những di tích thu lượm được từ những chiếc tàu
buôn Hòa Lan từ 400 năm trước, phần lớn của công ty VOC. Rất nhiều
tiền cổ và vật dụng, bộ sưu tập này đương nhiên lớn hơn kho cồ vật
ở Hòa Lan rất nhiều. Dưới hầm có cả một sàn nhà rộng lót gạch
nung lấy từ những xác tàu đắm, là nơi dành để triển lãm mảnh vỡ
của con tàu Batavia người ta còn vớ́t được, con tàu với cả một bi
kịch dài mấy năm, từ khi tàu đụng đá ngầm cho tới cuộc phản loạn,
tàn sát tập thể và cuối cùng là những kẻ có tội bị chặt tay
trước khi bị xử tử. Ngoài bến cảng người ta sắp hoàn thành bản sao
của con tàu buôn Hòa Lan Duyfken (theo sử liệu là con tàu Âu châu đầu
tiên tới Úc), sẽ làm tàu du lịch hạng sang, dự định khai trương vào
mùa thu năm nay.

Bản sao của con tàu Duyfken
Tại cảng Fremantle chúng tôi còn thấy được con tàu
nổi tiếng thế giới Ocean Warrior đang neo nơi đây. Tàu này do tiền quyên
góp từ những cuộc xổ số tại Hòa Lan, Anh và Thụy Điển, tặng cho
hội Sea Shepherd Conservation Society để thực hiện chiến dịch chống
hoạt động săn cá voi tại Nam Băng Dương.
Vì lượng du khách tới Fremantle quá đông so với khả
năng cung cấp, mà một phần không nhỏ trong số này là những người tới
bằng du thuyền, nên bến cảng luôn luôn tấp nập, bia rượu tràn bờ.
Buổi trưa tại tiệm Fish & Chips Cicerello's nổi tiếng tại đây, người
chờ tới phiên đứng sắp hàng dài cả chục thước, nhà hàng phải làm
theo kiểu dây chuyền mới phục vụ kịp.
Sau Perth?
Ngồi trong quán trên bến cảng Fremantle, trước ngày
rời khỏi Perth, tôi hồi tưởng lại chặng đường đã qua. Rời Melbourne
ngày 19/04/2017, tới Perth ngày 11/05, nếu kể thêm những ngày ở hai
đầu đường, thì chúng tôi đã rong ruổi đúng một tháng. Hơn 5500 km đã
vượt qua theo kiểu “thích đâu dừng đó” là một trải nghiệm hiếm có
trong đời. Ngẫm lại, rất may khi chúng tôi chọn đúng thời điểm – ngay
sau kỳ nghỉ Phục sinh, khi khách du lịch bắt đầu thưa vắng, và trước
khi trời trở lạnh, bắt đầu một đợt du lịch mới của những người cao
tuổi, họ đi xe camper như đàn chim thiên di vĩ đại lên miền bắc có
nắng ắm. Có những đêm nằm nghe Peter trong giấc ngủ cố chống chọi
lại, theo phản ứng vô thức, những cơn nghẹt thở, tôi thầm cảm ơn trời
cho tôi còn mạnh khỏe và được hưởng sự may mắn kỳ lạ, vì nếu không có
Peter giảng giải thêm, cuộc du hành của tôi, nếu có thực hiện được,
cũng mất nhiều phần thích thú. Phần nữa là tôi đã học được từ Peter
nhiều điều bổ ích. Chúng tôi đã qua những làng mạc heo hút, những
thị trấn nhộn nhịp, lên núi xuống biển, xem tận nơi cả mấy ngàn
loại cây, chắc có hơn trăm loài động vật khác nhau không sao nhớ hết
tên. Thấy được đời sống dân Úc tại nhiều vùng đất khác nhau, mà tôi
cảm phục nhất là những người tình nguyện tại các vườn thảo mộc,
công viên và lâm viên quốc gia. Hầu hết những nơi này bạn vào thăm
không phải mua vé. Làng nào có hơn trăm người là có phòng hướng dẫn
du lịch, họ chỉ bảo tận tình những địa điểm nên xem trong khu vực
một cách sốt sắng như đang hãnh diện giới thiệu căn nhà riêng của họ
cho khách mới tới chơi, và chỉ cho những chỗ trọ tùy sở thích của
bạn. Chúng tôi đã nhờ họ rất nhiều. Là người từng đi du lịch nhiều
nơi, tôi chưa thấy quốc gia nào chăm sóc cho cái khoái thứ tư của bạn
chu đáo như Úc. Ở mọi nơi, phố cũng như rừng, bạn không phải lo cuống
lên đi kiếm WC, để rồi tới nơi chưng hửng vì bạn phải trả tiền (có
khi qua máy tự động) mà trong túi lại không có bạc cắc. Và đậu xe
nơi những thắng cảnh thường là miễn phí.

Thú vị nhất là trên suốt con đường dài, thỉnh
thoảng chúng tôi gặp lại những “người bạn mới quen”, tốc độ đi có
thể khác nhau, nhưng mục đích thì giống nhau, là thực hiện “giấc
mộng lớn” của mình. Và nghe chuyện của dân đi bụi trong các quán
rượu, chuyện vui cũng nhiều mà chuyện buồn cũng lắm.
Tới Perth, giấc mộng du lịch từ bờ đông sang bờ tây
đã đạt, tôi quay về Adelaide để tiếp tục du ngoạn trong vùng sa mạc
Trung Úc. Peter vài ngày sau cũng phải tạm bỏ xe lại ở đó, bay về
nhà vì cái máy thở gặp trục trặc. Ông nói khi xong sẽ trở lên để...
đi tiếp theo một con đường khác về nhà lại.
Bạn đọc xong bài du ký dài, chắc có câu hỏi: vậy
chứ cái gì của Úc để lại ấn tượng mạnh nhất trong tôi? Câu trả lời
có lẽ sẽ làm bạn ngạc nhiên: đó là tấm bảng “coi chừng trẻ em”.
Tấm bảng, với logo đứa bé gái dáng điệu hăng hái tự tin đang dắt
đứa em trai. Em bé này rõ ràng rụt rè nhưng vẫn phải ráng chạy theo
cô chị. Nó đặc sắc ở chỗ diễn tả đúng tâm sinh lý trẻ em trai gái và
thói tục xã hội. Bạn có bao giờ thấy thằng anh dắt đứa em gái kiểu
đó không? Tấm bảng này được dựng rất nhiều nơi, ngay cả bên đường xa
lộ trong khu sa mạc hoang vắng. Nhiều chỗ tôi tự hỏi họ phải dựng
bảng đó làm gì, vì xem địa thế thì chẳng thể có em bé nào trong
suốt một vùng rộng lớn. Nơi phố thị, bảng này thường được kèm theo
một bảng hạn chế tốc độ – thường là 40km/giờ, và người dân thường
tỏ ra tôn trọng giới hạn. Có thể họ sợ bị phạt, nhưng khi đi sâu vào
xã hội Úc, tôi thấy chính phủ rất quan tâm đến trẻ em, và đây là
điều tôi muốn chia xẻ với bạn: một quốc gia biết lo nghĩ nhiều đến
trẻ em là một quốc gia văn minh, nhân bản. Hẳn bây giờ thì bạn đồng
ý với tôi.
Nguyễn Hiền