
Có những con đường, tuy cùng trên nước Mỹ, nhưng bạn có thái độ lái xe khác
nhau. Chả hạn như lối lái xe ở San Jose, freeway gấp rút, vượt trên
vận tốc tối đa ấn định không bị coi là một tội ác, so với ở Flaggstaff, tỉnh
nhỏ lạnh lẽo vắng người tận Arizona, ai cũng thong dong, ít Cảnh Sát lưu thông…
nhưng hễ bạn quẹo gắt trong thành phố, lại là nơi bạn rất dễ bị cương quyết cho
giấy đóng phạt. Ấy là tôi chưa nói gì tới Nữu Ước (nơi tôi chỉ nghe), chưa nói gì
tới Paris (nơi tôi chỉ ngồi trong xe), và Sài Gòn (nơi tôi không dám lái cả xe
đạp).
Phải lâu lắm tôi mới quen định hướng, hoà với nhịp lưu thông ở San Jose, thung
lũng điện tử với mật độ Cảnh Sát đông gấp sáu lần chỗ ở cũ ồn ào của Orange
County bằng phẳng – nơi đầy xa lộ thung lũng ngoằn ngoèo, và đầy nhân công điện
tử Việt Nam. Người đâu cảnh đó: người ở đây cũng có “không khí khác”. Có các cô
gái với ngôn ngữ, sinh hoạt khác tôi tưởng tượng. Ðó là hình ảnh của các cô gái
làm nghề điện tử, giờ này tôi có thể khó còn mường tượng ra nhân dáng, nét mặt,
nhưng không quên được những cung cách đối xử với tôi, và giữa họ với nhau…
trong quãng đời tôi làm việc phụ nghề điện tử. Quãng đời ấy chỉ vỏn vẹn khoảng
mươi, mười hai tháng, tôi không nhớ rõ ngày bắt đầu cũng như lý do chấm dứt.
Những chuyện cá nhân tôi, thật không có gì quan trọng: họ, những cô gái trong
lực lượng lao động của một trung tâm sản xuất điện toán cho nước Mỹ, ở San Jose
này mới đáng tôi ghi nhớ.
Không ai viết về họ cả. Thống kê về họ không rõ ràng: Bao nhiêu người? Học
lực? Tuổi tác?… Cái ngày tôi bước vào làm hãng Ðiện tử ở gần Milpitas – do một
người bạn gửi gấm (những gì tôi không rõ, sau một chuyến phiêu lưu vặt từ Santa
Ana đi San Jose), tôi được thu nhận vào làm chức thợ ráp nối điện tử, cấp thấp
nhất: Assembly.
***
Căn phòng làm việc lớn, chứa được hàng chục cái máy hấp, máy hàn, máy rửa
“BO” điện tử. Các từ chuyên môn, tôi xin miễn nói tiếng nhà nghề ở đây. Ðại
khái như Set-up, Surface-Mount… là từ chỉ cách chạy máy, đặt những con “chip”
sao cho đúng chỗ, sao cho đúng vị trí ngược xuôi, cho vừa nhiệt độ v.v…
Có khoảng hai chục nhân viên trong cùng phiên làm của tôi, quá bán là nữ
giới. Nữ giới ở đây là lực lượng thầm lặng, kiên nhẫn, xốc vác nhất… mà hầu
như, có lẽ chưa ai viết về họ. Những ngày đầu tôi làm việc, tôi yên lặng, chỉ
làm những việc vặt, như ráp ốc, tháo thùng chứa “BO”, đọc số thứ tự của ký mã
trong đơn đặt hàng. Những người con gái làm đồng hãng, tươi cười chào tôi. Họ
lễ phép. Thanh niên cũng vậy, đều lễ phép lạ lùng. Họ đối với tôi đều gọi chú,
xưng con. Không khí những ngày đầu tiên tôi vào làm, trong sở như có lúc chậm
lại. Nhớ lại, ra họ thầm lặng quan sát tôi.
Chưa đầy một tuần, một cháu gái lại bàn làm việc của tôi hỏi han. Nào từ đâu
đến, có gia đình chưa, nhà ở đâu. Tôi trả lời cầm chừng.
Tôi ăn cơm, cùng buồng ăn với họ. Giờ giải lao, họ nói chuyện bắt đầu ríu
rít. Những thanh niên bàn về xe cộ hoặc thời sự. Ðây là những người mới qua,
hoặc ở Mỹ hơn mươi năm. Họ ít đọc báo chí Việt ngữ. Dĩ nhiên không đọc báo địa phương
tiếng Mỹ. Phát biểu của họ không dính dáng gì tới nhận định của các tư tưởng
gia viết báo bình luận thời sự Việt ngữ. Còn nữ giới lại lạ lùng hơn, đối với
tôi.
Trong giờ ăn hay ngay cả giờ làm việc, các cô gái san sẻ cho nhau bánh trái,
canh, thịt, hoa quả. Ngôn ngữ họ khác hẳn như tôi mường tượng, cái mường tượng
của ngôn ngữ hoặc trong tiểu thuyết, hoặc trong quá khứ riêng tôi từ mấy chục
năm trước, vốn chỉ trong ký ức.
Một cô chân thành tâm sự, “Hồi mới Giải phóng, nhà cháu nghèo lắm, lắm
khi không đủ no… Bây giờ đỡ hơn rồi, mà cháu chẳng quen thằng nào để lấy ”.
“Sao thế? ”
“Chú tính, cháu đi làm suốt ngày, đi chợ cũng thấy mệt. Thì giờ đâu mà
quen ai. Chắc cháu ế.”
Có thanh niên nhà ở Ðập Ðá, Bãi Bảy… những địa danh tôi chưa bao giờ đặt
chân đến. Những mảnh đời tôi chưa từng được nghe. Họ kể cho tôi nghe chuyện
vượt biên, chuyện làm ăn mánh mung. Và các nỗi nhớ nhà (Việt Nam của họ).
Một không khí tươi vui – nửa học đường ngây thơ nghịch ngợm chòng chọi lẫn
nhau, vừa khôn ngoan tính toán chuyện chồng con, bồ bịch – bắt đầu hiện ra dần
dần, khi càng ngày chúng tôi càng thân nhau hơn. Con người lạ mặt là tôi (sao
qua Mỹ lâu rồi mà chú đi xe cũ thế), bắt đầu được họ cho gia nhập trong vòng
thân hữu, sau hai ba tuần làm việc chung.
NGÂN và DUNG
Cô ta khoảng 35, 36 tuổi, đường nét thân hình và sáng trí, tế nhị có thể
không thua một hoa hậu nào. Khuyết điểm: Cô ta có một tội, là chuyên môn nói
bậy làm tôi điếng người. Khi cần cô ta hát nhái bài BANG BANG (khi xưa ta
lấy cao su, ta bắn con cu… Béng! beng! )
Bị tôi lườm cho một trận, cô mở to mắt, “Cháu hát cho đỡ buồn, cháu đâu
có làm thật? ”
Tôi bảo, “Cô… cô rất là xinh, sao cứ nói bậy?”
“Cháu còn bé thì mới làm vậy. Nay cháu lớn rồi. Cháu…”
“Sao? Cô mà không nói bậy tôi làm mối cho...”
“Dạ. Cháu mà có con cu thì cháu cưng lắm. Cháu không có lấy súng cao su
bắn nó đâu…”
Chưa hết lời là tiếng cười phá lên xung quanh. Toàn là tiếng cười con gái.
Hôm trước Giáng Sinh, công ty có xổ số. Ngân trúng một chiếc TV to tướng. Cô
có ý nhờ tôi chở về giùm. Xe cô ta hẹp 4 cửa hông, không cho TV vừa. Tôi mở cái
cửa sau xe của tôi đàng đuôi thì cái TV to vào được. Chỗ ở cô ta cách nhà trọ
của tôi hai phút lái xe, tôi không nề hà. Tôi khiêng TV vào. Cô rót nước.
Chuyện trò giời ơi một hồi, tôi ra về.
Hôm sau vào sở, không khí căng thẳng. Một cháu gái khác lại bàn tôi, nghiêm
nghị hỏi chuyện hai chú cháu khiêng TV về hôm qua. Tôi bảo, không có gì lạ.
Không biết Ngân kể làm sao, từ lúc vào phòng làm việc, các cháu gái tôi mặt
nặng như chì. Chúng không vui vẻ lại chia kẹo cho tôi như mọi bữa. Kêu Dung,
một cháu gái tín cẩn ra, tôi hỏi đầu đuôi.
Dung bảo, “Sao chú dắt chị Ngân vào MOTEL? ”
“Cái gì? Hai người đi hai xe, chú chở giùm rồi chú về nhà ăn cơm mà.”
“Trước khu nhà chị Ngân, có cái MOTEL. Ðúng không? ” Dung nhìn mắt
tôi.
“Ðúng. Nhưng làm sao lại hỏi chú? ”
“Chị Ngân bảo chú chạy sau, đến gần nhà chị ấy, chú quẹo vào MOTEL.”
“Bậy.”
“Chú chở thẳng chiếc TV vào MOTEL. Chị ấy bảo, chị ấy sợ mất TV, phải
lái xe vào theo ”. Dung nói tiếp, rành rẽ, chậm rãi, “Chú thuê phòng,
rồi hai người…ở trong ấy nửa giờ ”. Rồi thở dài, “Chị ấy kể thế.”
Tôi nhìn sang phía Ngân. Cô này chăm chú làm việc. Tôi chống nạnh, nhìn
chòng chọc.
Mặt Dung quan trọng, giọng trầm hẳn. “Chỉ vì tiếc cái TV, chị Ngân đành
phải lái xe vào MOTEL với chú ”.
Tôi vừa muốn phì cười, vừa muốn điên lên. Nhiều tiếng cười rúc rích. Bàn làm
việc có cô cháu thủ phạm đặt điều đang ngồi, làm như điếc. Tôi lại gần.
“Cô Ngân. Tôi nghe người ta nói là tôi…”
“Cháu giỡn mà.”
“Nói thật là… Thôi được lắm. Cô hết chuyện giỡn rồi.”
Tôi làm bộ buồn rầu, “Mà giả sử, có người nào muốn lấy tôi, họ vào đây
điều tra tôi, giả như nghe chuyện cô đặt điều, có phải cô giết tôi...”
“Người ta không ai tin con hết. Chú đừng lo.” Ngân nhe hàm răng đều
như bắp, cười.
TRÚC và LOAN
Trúc, một cháu khác, gần ba mươi, chưa có chồng, hay buộc tóc đuôi ngựa, ghé
ngang bảo, “Chị Ngân, chuyện đã thế rồi, chị sao lại còn xưng con với chú? ”
Ngân lảnh lót chen vào, mắt tròn xoe, “Ban ngày thì chú-chú-chú,
con-con-con. Ban đêm thì em, em, em…”
Tôi đi về chỗ làm. Lát sau… Trúc kêu tôi ra, bảo, “Chú xem hình đám cưới
bạn cháu nè.”
Một lô các cháu tôi chụm đầu vào nhau. Giờ làm việc, họ coi như không. Các
nhân viên đốc công đành lờ họ. Ðây là những người làm việc thâm niên, quen
việc, đoàn kết và giỏi việc. Một cháu gái bỏ đi, “Tao cóc có thèm xem. Ðám
cưới nhà giàu, không xem.” Tôi giật mình, quả thật những người này, mỗi
người đều có ý tưởng và bản sắc riêng họ.
Tôi đùa, “Ðứa nào ngoan, chú làm mai. Cháu chú nhiều đứa kỹ sư đàng
hoàng.”
“Không cần kỹ sư. Cháu chỉ cần thương cháu thôi.”
“Thế nào là thương cháu? ”
Con bé xinh và ít nói nhất tên Loan, lên tiếng, “Thương cháu là lấy cháu
về, phải cho cháu nằm trên.”
Thủa mới lớn 30 năm trước của tôi, cũng ăn nói bặm trợn, lại là con trai,
nhưng chưa bao giờ tôi nghe những câu phát biểu thế này. Phải chăng thời thế
đổi thay? Các cháu tôi biết tôi còn lớn tuổi hơn bố mẹ chúng, nhưng thời này
không phải thời xa.
Người ta đòi giải phóng phụ nữ. Nhưng sao tôi vẫn không hoà được với những
thực tế này. Những thực tế mà, “Chú ơi, hôm qua tụi cháu xem phim nghèo! ”
“Hả. Phim gì? ”
“Phim nghèo đó. Phim không có áo quần.”
Tôi hiểu ra, các cháu tôi cũng biết cả phim XXX. Sao không?
Mỗi khi nghe đến đây, tôi bỏ đi. Nhiều khi mỉm cười một mình, không dám cho
các cháu biết tôi hiểu họ nói gì, khi đề tài có vẻ vượt quá giới hạn đối với
tôi, tôi tránh tham gia, không muốn tiếp tục đề tài. Nhưng trong lòng, cũng có
lúc tôi băn khoăn. Hay tôi đạo đức giả? Ðây là một không khí kỳ lạ. Mỗi lần vẫn
nghe họ xưng hô lễ phép, vẫn nghe họ tinh tế giao thiệp với nhau, vẫn những ân
cần, thân tình và có buồn bã đâu đó.
“Chú ơi, cháu cứ làm hoài ở đây chắc cháu chẳng quen thằng nào. Chắc
cháu ế quá.”
Tôi bảo, “Sao không đi chơi? Cứ ở nhà làm gì? ”
“Ði làm về là hết giờ, ” Loan thở dài, “nhà cũng chẳng biết đi
đâu, có khi đến sở lại vui.”
Các cháu tôi đều ăn trắng mặc trơn, đều ngồi phòng lạnh, đều tươi mát vui
vẻ, da dẻ hồng hào… đang thuộc về một lực lượng điện tử cốt lõi nhất cho xứ San
Jose này, xứ sản xuất đồ dùng điện tử nổi danh thế giới.
Họ có bao nhiêu người? 10 ngàn hay 30 ngàn? Quả thật đây mới là thành phần
lao động nòng cốt của thung lũng điện tử. Nhưng không ai học xong trung học,
vậy mà việc khó đến đâu – tôi không hiểu, và có lẽ chả bao giờ làm nổi – họ vẫn
làm xong. (Có lần một cháu trai nhìn vào màn hình điện toán, hỏi, Iu-ét-Ê ‘USA’
thì cháu biết rồi ! Còn Iu-ét-E ‘Use’ là gì chú?)
Thường đa số chỉ ở trình độ Việt Nam ở lớp 7 lớp 8. Nay họ học hỏi lẫn nhau,
mò mẫm đo đạc set-up, hoặc đang chạy máy điều khiển sản xuất điện tử. Họ may mắn
hay hẩm hiu?
May mắn sao có những buổi có đứa ngồi bãi đậu xe một mình, nét mặt buồn buồn
kêu nhớ Tết Việt Nam? Có đứa bảo đi làm về thì chỉ biết ngủ, cuối tuần nếu
không làm giờ phụ trội, chỉ biết đi lễ?
THỦY và TRÂN
Những ngón tay thoăn thoắt sử dụng dụng cụ điện tử, những trí khôn tính toán
theo trực giác, vì không đọc được chữ Mỹ, nhưng cái gì họ cũng làm trọn. Những
cái miệng xinh xắn sẵn sàng nói bặm trợn.
“Thuận tay trái là hay nói bậy lắm đây!” Vừa nghe tôi vui vẻ chê
trách, Trân, một cháu gái 26 tuổi, trả lời lập tức, “Chú à, thuận tay trái,
bóp dái không đau.”
Những câu nói đùa tàn nhẫn sống sượng, chứa ẩn ý tâm lý gì? Họ giải thích
ngay, “Chú à, tụi cháu nói đùa cho qua thời giờ. Tụi cháu không hỗn đâu.”
“Chị Thủy à,” một thanh niên đồng sở bảo, “Ðừng nói bậy cho chú
nghe. Tối chú ngủ không được.”
Thủy chừng 30, thích ngồi một mình nghe nhạc, mủm mỉm bảo, “Không ngủ
được thì bụm lại.” Thế là cả đám con gái bụm miệng lại… cười. Phải vậy, họ
cứ đùa như thế.
Họ ăn mặc đồ MỐT. Ví da cá sấu cả 5, 7 trăm đô-la. Cháu nào cũng xinh. Kiếm
ra tiền nhưng hiếu thảo, đưa tiền góp với bố mẹ mua nhà. Nhưng không nghĩ xa
hơn. Họ lập gia đình với ai? Người trẻ nhất sấp sỉ 30. Có người trên 40 tuổi.
Thâm niên? Thì có người đã trên 10 năm. Có người lương cao gấp đôi tôi.
Những mảnh đời của tôi, lúc ở miền Nam, lúc về lại Sài gòn, lúc ở một nơi
gọi là đỉnh nước Mỹ. Tôi đã đánh bạn với người Da đen, Da đỏ. Những người cháu
gái này tôi thân cận họ nhất. Trong sở, có những người Phi, người Tàu, người
Mễ. Nhưng chỉ những người thợ Việt Nam này thông sáng, đùm bọc nhau và năng
suất cao nhất. Có lần, sắp giao hàng, một người gắn lộn một bộ phận quan trọng.
Họ không ai bảo ai cùng ở lại làm suốt đêm cho xong việc. Yêu mến, phì cười,
kinh ngạc và biết ơn lòng lân mẫn của họ, nhưng tôi không biết nói sao để đáp
được hết thân tình của họ, biết làm gì cho họ vui hơn. Rất nhiều khi, âm thầm
tôi thấy cách xa họ, y như cách xa các người bạn đồng tuế với tôi, những người
bạn mỗi người một nghề, những người bạn chỉ còn đi làm, không biết gì khác
ngoài công việc, họp hành hội ái hữu, và lâu lâu lại nghe một bạn hữu lìa đời.
Các thế hệ cách nhau, gần nhau, chung một quá khứ hay không… nhưng cũng vẫn
thấy cách xa nhau bao nhiêu. Cứ như mỗi người một mạch điện đời riêng. Mỗi mảnh
đời, một con đường.
Tôi có làm thử một hãng điện tử khác, được hơn một tuần. Lần sau, là một
hãng có người đốc công là người Trung Ðông. Toán làm việc, toàn những người gốc
Ấn, nhưng họ không nói tiếng Hindu với nhau, mà bằng tiếng Anh. Không khí làm
việc không thân ái, đoàn kết bằng. Hiệu năng cũng không bằng, vì không khí
không tươi vui, tương trợ. Nhưng những người nhân công Việt Nam khéo tay, vui
vẻ, tinh nhanh của San Jose này, thành quả sản xuất của họ thuộc về một thế
giới khác. Thế giới ấy, họ không hiểu rõ: Những người hưởng thành quả do họ
mang lại, những người như ông Bill Gates, hẳn họ không biết là ai. Cuộc sống
hiện tại chỉ cho họ được một nỗi vui vì họ làm việc, có lương tốt và được đùa
cười trong chỗ làm việc với nhau – cho qua thì giờ.
Hôm tôi bước ra khỏi sở sau buổi làm cuối, tôi rảo bước, cố tình không lại
chào từng đứa “cháu”, cứ lẳng lặng ra bãi đậu xe, lái một mạch về nhà. Tôi đã
ái ngại thế nào cũng có đứa, thương hại tôi nghỉ việc, có lẽ khóc cũng nên. Có
thể họ đã quên tôi rồi, nhưng nay, chính tôi mới là người thương nhớ họ, những
công nhân điện tử người Việt, bạn tôi, cùng sở làm hơn nửa năm trời. Những công
nhân không biết có thật là tốt số, mà nếu có tình cờ gặp lại ngoài đường, tôi
không biết cười nói gì với họ.
Vũ Huy Quang
8/99