Lời dẫn: Đây chỉ là trích đoạn từ một bút ký về chuyến khảo sát Đồng Bằng Sông Cửu Long tháng 12.2017 vừa qua, Đồng Tháp cũng là chặng cuối của chuyến đi ấy.

Hình 1: Đoàn khảo sát môi sinh ĐBSCL 12.2017, từ trái: Ngô Thế Vinh, TS Lê
Anh Tuấn Viện Nghiên cứu Biến Đổi Khí hậu ĐHCT, TS Dương Văn Ni Khoa Quản lý
Tài Nguyên Thiên nhiên ĐHCT, KS Phạm Phan Long Hội Sinh Thái Việt, BS Nguyễn
Văn Hưng, ThS Nguyễn Hữu Thiện Chuyên gia Vùng Đất Ngập / Wetlands, TS Lê Phát
Quới Viện Tài Nguyên – Môi Trường ĐHQG Tp. HCM, và tài xế Sang.
Về tới Cao Lãnh cũng đã gần nửa khuya. Trên chiếc xe Van của tài xế Sang có
Wi-Fi di động, nên suốt cuộc hành trình nếu muốn, chúng tôi vẫn có thể kết nối
mạng và làm việc với iPhone, iPad. Ngày hôm sau 12.12.2017, chúng tôi vẫn thức
dậy sớm để khởi hành đi vào Đồng Tháp Mười, ghé qua Gò Tháp.
Tới vùng trũng Đồng Tháp Mười không thể không nhớ tới một Du kí Biên khảo
ngắn Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười của Nguyễn Hiến Lê (1), năm đó ông
mới 22 tuổi, vừa tốt nghiệp Trường Công Chánh Hà Nội tháng 7 năm 1934, người
cán sự công chánh thời còn rất trẻ ấy đã chọn vào Nam tới nhiệm sở là Miền Tây,
đi đo đạc “lênh đênh trên khắp các kinh rạch từ Hồng Ngự tới Thủ Thừa, từ
Cái Thia lên Mộc Hóa, có khi đi bộ trọn một tuần giữa một vùng bát ngát toàn
lau sậy bàng năng, hai ba chục cây số không có một nóc nhà, một bóng người”. (Nguyễn
Hiến Lê sanh năm 1912 mất 1984, được biết tới như là một nhà giáo, nhà văn, học
giả, dịch giả, với hơn 100 tác phẩm sáng tác, biên soạn và dịch thuật thuộc rất
nhiều thể loại).
Nguồn gốc tên Đồng Tháp Mười, Plaine des Joncs hay Đồng Cỏ Lát có
nhiều giả thiết: hoặc là nơi xây tháp thứ mười của Thiên Hộ Dương kể từ sông
Lớn đi vào trong thời kỳ chống Pháp, hoặc do ngôi tháp có mười bậc, nhưng cũng
có người bảo rằng đó là ngôi chùa tháp thứ mười của người Khmer thời vua
Jayavarman VII tính từ điểm xuất phát.

Hình 2: Gò Tháp có khu di chỉ Ốc Eo và là chiến khu chống Pháp của Thiên Hộ
Dương, nay là khu di tích quốc gia đặc biệt. [nguồn: Gò Tháp, Nxb Văn Hoá
– Văn Nghệ, Saigon 2016]
Đồng Tháp Mười nằm bên tả ngạn Sông Tiền, bao gồm ba tỉnh Tiền Giang, Đồng
Tháp, Long An với diện tích ngót một triệu hecta nếu kể cả vùng đất giữa hai
con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, [cộng với 300,000 hecta phía Svay Rieng bên
Cambodia]. Đồng Tháp Mười, nơi mà hơn nửa thế kỷ trước đây thôi còn là một vùng
hoang dã bát ngát sình lầy, dưới nước đỉa lội như bánh canh, trên trời muỗi bay
rợp như đám mây… Đồng Tháp Mười ngày nay đã hoàn toàn đổi khác, dân tụ về ngày
một đông, các vùng đất hoang kể cả các khu rừng tràm ngày một thu hẹp nhường
chỗ cho nhà cửa và ruộng đồng. Khi mà đất chật người đông thì thiên nhiên chẳng
còn ưu đãi và cuộc sống cũng không còn dễ dàng như những ngày xưa nữa “những
ngày làm chơi ăn thiệt”.
Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh
Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm…
Đã qua rồi cái hình ảnh ước lệ của một Nam kỳ Lục Tỉnh thời Phạm Quỳnh báo
Nam Phong và thi sĩ Tản Đà Đông Pháp Thời Báo từ ngoài Bắc vào thăm không ngớt
lời ca ngợi về đời sống trong Nam dễ dãi vui tươi, với gạo trắng nước trong và
tôm cá thì đầy đồng: nay thì chính những người nông dân Nam Bộ hào sảng hiếu
khách ấy đang phải đổ mồ hôi sôi nước mắt, làm lúa cao sản ba vụ / năm để kiếm
sống, “làm thiệt mà cũng chưa chắc có ăn”.
Trở lại thăm Đồng Tháp, cũng không thể không nhớ tới con cá đuối nước mặn
Selachian, tên khoa học là chondrichthyes, thuộc loài cá sụn mà ngư dân đánh
bắt được trên sông Tiền, đoạn giữa hai xã Tân Mỹ và Tân Khánh Trung. Con cá
đuối có chiều dài hơn 4 mét ngang 2 mét và nặng tới 270 ký. Đây cũng là lần đầu
tiên ngư dân Đồng Bằng Sông Cửu Long lưới được một con cá nước mặn lớn như vậy
trên một khúc sông nằm sâu trong đất liền rất xa biển mười ngày trước Giáng
Sinh năm 2000. (2)
ĐẾN VỚI GÒ THÁP TRÊN VÙNG TRŨNG ĐỒNG THÁP MƯỜI
Đồng Tháp Mười và khu Tứ giác Long Xuyên vốn là hai vùng trũng thiên nhiên
của ĐBSCL. Theo bài viết ” Vùng Đất Ngập Đồng Tháp Mười” của BS Trần
Ngươn Phiêu thì vùng trũng Đồng Tháp Mười có thể là lòng sông cũ của Cửu Long,
nay sông Cửu đã đổi dòng và dời qua vị trí hiện nay (3). Biển Hồ Tonle Sap là
vùng trũng rộng lớn khác được ví như trái tim của Cambodia. Ba vùng trũng ấy là
ba bể chứa nước khổng lồ có chức năng điều hoà mực nước lên xuống của con Sông
Mekong vùng hạ lưu trong cả hai Mùa Mưa và Mùa Khô. Với những bước phát triển
không bền vững (unsustainable development) chính con người đã và đang phá huỷ
nhịp điều hoà thiên nhiên tuyệt hảo ấy của con Sông Mekong vốn có hàng bao ngàn
năm.
Đến Gò Tháp là đến với một giồng lớn nhất của Đồng Tháp Mười, được biết tới
như vùng đất của “sen hồng” nằm về phía đông nam của Tràm chim Tam Nông, cách
Sài Gòn không quá 100 km. Nơi có di chỉ của nền văn hoá Óc Eo, Vương Quốc Phù
Nam hiện diện từ thế kỷ thứ II trước Công nguyên kéo dài tới thế kỷ XII sau CN
trên ĐBSCL.
Trong lòng gò, qua những lần khai quật đã phát hiện được một di tích kiến
trúc cổ với hai tượng thần Vishnu, được xác định là có niên đại từ thế kỷ thứ
II đến thế kỷ XII, được xếp vào hàng “Bảo vật Quốc gia”, rồi cạnh đó là cây
Trôm trăm tuổi cũng được xếp vào Cây Di sản Việt Nam.
Cũng theo BS Trần Ngươn Phiêu thì “Các nhà khảo cổ danh tiếng như Etienne
Aymonier và Henri Parmentier thuộc trường Viễn Đông Bác Cổ đều đã viếng thăm
Tháp Mười nhiều lần. [Trường Viễn Đông Bác Cổ / École française
d’Extrême-Orient / EFEO, tiền thân là Phái đoàn Khảo cổ tại Đông Dương có từ
năm 1898 và Trường Viễn Đông Bác Cổ chính thức thành lập ngày 20 tháng 1 năm
1900 là một trung tâm nghiên cứu thực địa của Pháp về Đông phương học, có nhiệm
vụ nghiên cứu, khai quật khảo cổ trên toàn bán đảo Đông Dương]. Louis Malleret
là quản thủ Viện Bảo Tàng Sài Gòn, là Viện trưởng trường Viễn Đông Bác Cổ là
người có công nghiên cứu nhiều nhất về Tháp Mười. Malleret còn là tác giả bộ Le
Delta du Mekong, trong đó quyển thứ IV (Le Cisbassac) là chuyên khảo về Đồng
Tháp. Các viên gạch di tích Tháp Mười còn được lưu giữ ở Bảo tàng viện Sài Gòn
là do công của L. Malleret.” (3)

Hình 3: Khai quật tượng thần Vishnu tại Gò Tháp Mười. [nguồn: tư liệu
Bảo tàng Đồng Tháp]

Hình 4: Di tích đền thần Shiva Gò Minh Sư: Gò Minh Sư được khai quật vào
năm 2009 có dạng hai khối gần vuông gá vào nhau. Trong đó, hình khối vuông lớn
ở phía Tây có cạnh dài14.95m, khối vuông nhỏ phía Đông có cạnh dài 4.20m. Tại
di tích này, các nhà khảo cổ đã tìm thấy một nhẫn vàng có khắc hình con ốc
Sankha biểu tượng của thần Vishnu, các vòng đeo tay bằng đồng, một mảnh vỡ Yoni
và đặc biệt là một máng nước thiêng (Somasutra) – dấu hiệu để nhận biết đền
thần Shiva. Các nhà khảo cổ học đã xác định di tích này là đền thần Shiva, có
niên đại từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ XII. Năm 2012, di tích được xây mái để
bảo quản. [Photo by Ngô Thế Vinh]

Hình 5 trái: cây Trôm Trăm Tuổi – Sterculia foetida L., [nguồn: Gò
Tháp, Di tích Quốc gia Đặc biệt. Nxb Văn Hoá-Văn Nghệ, Saigon 2016]. phải: bảng
ghi nhận là cây Di Sản Việt Nam.

Hình 6: Có truyền thuyết cho rằng trên con đường bôn ba đầy gian truân khi
bị quân Tây Sơn truy đuổi, Nguyễn Ánh đã mất một người em gái tại đây, cô chết
thời còn rất trẻ và người dân nhớ thương lập miếu lập mộ thờ và nay vẫn còn
ngôi cổ mộ Hoàng Cô. [Photo by Ngô Thế Vinh]
Vào hậu bán thế kỷ XIX (1862-1866), đây cũng là chiến khu chống Pháp nổi
tiếng của Thiên Hộ Dương / Võ Duy Dương. Trong suốt hơn 3 năm, quân đội Pháp đã
vô cùng vất vả, chịu cả tổn thất mà không thể nào xâm nhập được vào chiến khu
Đồng Tháp Mười của Thiên Hộ Dương và Đốc Binh Kiều. Ngoài sức chiến đấu kiên
cường của các nghĩa binh, còn phải kể tới yếu tố trận địa mà đội quân viễn
chinh Pháp rất sợ khi phải lội vào một vùng lau sậy cao hơn đầu người, quanh
năm sình lầy ngay cả mùa khô, với đỉa trâu như bánh canh, đầy muỗi mòng, khí
hậu ẩm thấp với cái nóng thiêu đốt của mặt trời nhiệt đới gần xích đạo. Sau
cùng, nhờ có sự dẫn đường hai tên Quản Tấn và huyện Lộc cùng với đám lính Việt
theo Pháp mà lần đầu tiên quân Pháp thắng được trận chiến sình lầy mà Đô đốc De
Lagrandière cho là một thắng lợi rất lớn về chính trị. (1)

Hình 7 trái: Đền thờ Thiên Hộ Dương là công trình kiến trúc mới xây sau này
[Photo by Ngô Thế Vinh], phải: Tượng đồng Thiên Hộ Dương [nguồn: Gò
Tháp, Di tích Quốc gia Đặc biệt. Nxb Văn Hoá-Văn Nghệ, Saigon 2016]
Từ thời vua Thiệu Trị (1841-1847) trên gò từng có một Ngôi Tháp Cổ Tự. Đến
năm 1956, thời Đệ Nhất Cộng Hoà, chính quyền Ngô Đình Diệm cho dời ngôi Tháp Cổ
Tự về phía bắc để xây dựng một “Viễn Vọng Đài” mười tầng cao 36 mét nhằm “quan
sát hoạt động của lực lượng Cách mạng trong vùng Đồng Tháp Mười. Rạng sáng ngày
04.01.1960, “Viễn Vọng Đài” bị đặc công tiểu đoàn 502 tỉnh Kiến Phong đánh sập
và chỉ còn lại phế tích ngổn ngang trên bề mặt gò.” [sic]
Gò Tháp với diện tích 300 hecta, không chỉ là vùng khai quật khảo cổ quan
trọng, nhưng cũng là nơi diễn ra các lễ hội hàng năm: rằm tháng 3 lễ vía Bà
Chúa Xứ, rằm tháng 11 lễ giỗ Thiên Hộ Dương và Đốc Binh Kiều.

Hình 8 trái: Viễn Vọng Đài hay còn gọi là Tháp Mười Tầng, được chính phủ
VNCH thời TT Ngô Đình Diệm dựng tại Gò Tháp làm trạm quan sát. [nguồn: Gò
Tháp, Di tích Quốc gia Đặc biệt. Nxb Văn Hoá-Văn Nghệ, Saigon 2016]. Phải: bảng
Di Tích Gò Tháp, có ghi ngày 04.01.1960 Viễn Vọng Đài bị đánh sập, nhưng trên
bản viết tay bên trên bài thơ Dân Đồng Tháp ghi ơn Tổng thống Ngô Đình Diệm thì
ghi là ngày 20.12.1959 [Photo by Ngô Thế Vinh]
HỆ SINH THÁI ĐỒNG THÁP MƯỜI
Không có mục đích du lịch khi tới đây, phần chúng tôi quan tâm nhiều hơn là
hệ sinh thái Đồng Tháp Mười. Theo Th.S Nguyễn Hữu Thiện, tốt nghiệp Đại học
Wisconsin chuyên gia về wetlands / các vùng đất sình lầy và TS Lê Anh Tuấn,
chuyên gia về Biến Đổi Khí hậu, TS Lê Phát Quới, Viện Tài Nguyên – Môi Trường
người quê Long An, thì Gò Tháp không trũng sâu như vùng Tràm Chim Tam Nông
nhưng có thể coi đây là một Đồng Tháp Mười thu nhỏ, mang đủ các đặc tính hệ
sinh thái của vùng trũng Đồng Tháp Mười, có thảm thực vật tiêu biểu với rừng
tràm, cỏ lác, năng, và đầm sen, bông điên điển, cùng với các loài động vật rất
đa dạng những loài cá theo mùa, tôm cua ốc, rùa lươn rắn và các loại chim
muông.

Hình 9 từ trái: Th.S Nguyễn Hữu Thiện, TS Lê Anh Tuấn, TS Lê Phát Quới, TS
Dương Văn Ni (hình dưới), Trong chuyến đi ĐBSCL lần này, chúng tôi có những
người bạn đồng hành khá lý tưởng, thuộc nhiều lãnh vực chuyên môn, các anh là
“kho chất sám” đang có những nỗ lực cứu nguy con Sông Mekong và ĐBSCL, với tầm
nhìn xa ra toàn vùng và điều đáng ghi nhận là tiếng nói của các anh đang bắt
đầu được lắng nghe. Dự trù ban đầu, đoàn có thêm TS Nguyễn Ngọc Đệ, Khoa Nông
Học ĐHCT nhưng anh phải đi tham dự một hội nghị lúa gạo tại Chiang Mai, Thái
Lan. [Photo by Ngô Thế Vinh]
Từ bao ngàn năm rồi, con sông Mekong dài hơn 4,800 km bắt nguồn từ xứ tuyết
Tây Tạng, với ngót nửa chiều dài chảy qua Vân Nam TQ, xuống tới Thái Lào rồi
chảy qua Cambodia, khi tới Phnom Penh thì chia ra là 4 Nhánh (người Pháp gọi là
Quatre Bras / Bốn Cánh Tay): cánh tay thứ nhất là Mekong Thượng hay dòng chính
sông Mekong chảy từ Lào vào Cam Bốt, cánh tay thứ hai con sông Tonle Sap chảy
vào Biển Hồ và hai nhánh kia là Sông Mekong Hạ vào Việt Nam trở thành Sông
Tiền, Sông Bassac trở thành Sông Hậu khi tới Việt Nam. (2)
Điều hoà mực nước Sông Mekong vùng hạ lưu là ba hồ chứa nước lớn: Biển Hồ ở
Cambodia có dung lượng 80 tỉ m3, ĐBSCL có vùng trũng Đồng Tháp Mười với sức
chứa 10 tỉ m3 nước và khu Tứ Giác Long Xuyên có sức chứa 9.2 tỉ m3 [Cánh đồng
Tứ Giác Long Xuyên nối liền với cánh đồng Takeo bên Cambodia về mặt thuỷ văn].
Vào Mùa Mưa, khi lưu lượng nước Sông Mekong dâng cao, về phía Cambodia con Sông
Tonle Sap đổi chiều chảy ngược vào Biển Hồ khiến diện tích Biển Hồ tăng gấp 5
lần vào Mùa Mưa so với Mùa Khô.
Khi xuống tới ĐBSCL, nước hai con Sông Tiền và Sông Hậu dâng cao và rồi tràn
bờ như một tấm thảm nước đổ tràn / sheet flow – “vừa chảy vừa chứa” vào hai
vùng trũng thiên nhiên khổng lồ là Đồng Tháp Mười và Khu Tứ Giác Long Xuyên.
Không chỉ có lượng nước tràn bờ từ hai con Sông Tiền và Sông Hậu, còn phải kể
tới lượng nước tràn từ biên giới Cambodia qua ĐBSCL, do nước khúc Sông Mekong
bên Cambodia cũng tràn bờ đổ vào các cánh đồng lũ / floodplain đổ tràn qua Đồng
Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên.
Chính là nhờ có 3 hồ chứa lớn: một ở Cambodia, hai ở ĐBSCL Việt Nam khiến
hai con Sông Tiền và Sông Hậu vào Mùa Mưa, cho dù lưu lượng dòng chảy rất lớn
từ 36,000 m3/ giây, có khi tới 39,000 m3/ giây nhưng mực nước hai con sông vẫn
chỉ dâng lên từ từ, không đột ngột gây lụt và tàn phá khủng khiếp như ở các
tỉnh miền Trung và miền Bắc, và cư dân Miền Tây quen gọi đó là Mùa Nước Nổi
hàng năm và họ có kinh nghiệm chung sống hài hoà biết xem lũ như một tài
nguyên.
Sang Mùa Khô, con Sông Tonle Sap lại đổi chiều chảy xuôi dòng [Tonle Sap là
con sông duy nhất có đặc tính chảy hai chiều theo mùa]; dòng chảy từ Biển Hồ
kéo theo bao nhiêu tấn cá xuống ĐBSCLvà đồng thời nước từ hai túi chứa Đồng
Tháp Mười và Khu Tứ Giác Long Xuyên cũng bắt đầu rỉ rả đổ ra các con sông, kéo
dài từ 2 tới 4 tháng khiến ruộng đồng không thiếu nước và không bị ngập mặn.
Nhưng rồi sự điều hoà nhịp nhàng và kỳ diệu ấy của hệ sinh thái Sông Mekong
đã phải chịu nhiều “nhân tai”, đang bị chính con người phá huỷ: từ những con
đập thuỷ điện khổng lồ chắn ngang dòng chính Sông Mekong ở thượng nguồn, trước
tiên là Trung Quốc và nay tới Lào, các hồ chứa của những con đập này không chỉ
giữ nước mà còn ngăn chặn nguồn phù sa; Biển Hồ thì đang bị thu hẹp và cạn dần;
hai túi nước khổng lồ Đồng Tháp Mười và Khu Tứ Giác Long Xuyên với tổng cộng
dung lượng ngót 20 tỉ m3 cũng đang bị thu nhỏ lại do đắp đê ngăn đập để làm lúa
3 vụ và mở rộng các khu gia cư.

Hình 10: Vùng Lụt Cambodia và Đồng Bằng Sông Cửu Long [nguồn: Akira
Yamashita, Department of Environment and Natural Resources Management, Cần Thơ
University, Vietnam]
Nói về hướng đi trong tương lai cho Đồng Tháp Mười, Th.S Nguyễn Hữu Thiện
chuyên gia Vùng Đất Ngập / Wetlands đưa ra một phân tích:
“Bản thân những con đê không sao cả, nhưng đê khép kín không cho nước
vào quanh năm để canh tác liên tục 3 vụ mới là vấn đề. Lý tưởng nhứt là
giảm xuống còn 2 vụ, để cho nước trong mùa lũ có thể tràn đồng được,
mang theo phù sa, tôm cá, làm tươi mới lại đất đai. Nhưng mà việc này khó
vì khi người dân ở trong đê bao 25 năm thì nhà cửa, mồ mả, vườn tược đều
xây dưới thấp trong vùng trũng, nên bây giờ xả lũ vào không được nữa.
Thực tế là khi mới có đê bao khép kín ở Đồng Tháp Mười, người dân thích
lắm vì có thêm thu nhập, có môi trường khô ráo, có đê làm đường giao thông
thuận tiện, cá mắm thì vẫn còn, nước vẫn còn. Sau đó, khoảng 10 năm mới
thấy chi phí canh tác tăng lên do dinh dưỡng trong đất bắt đầu suy kiệt,
vẫn chưa sao. Sau 15 năm thấy chi phí tăng, nước ô nhiễm quá, cá mắm không
còn, cũng chưa sao. Sau 20 năm thì thấy không ổn, chi phí canh tác đã đuổi
theo gần bằng thu nhập từ lúa. Một gia đình 5 người canh tác 1 hecta lúa
3 vụ không thể đủ sống (trước đây canh tác 2 vụ sống được), phải bỏ
nhà cửa đi Bình Dương, ra các thành phố kiếm kế sinh nhai. Bây giờ nhiều
người sống trong đê lâu năm đã thấy vấn đề, muốn xả lũ vào lấy phù sa
lại, nhưng không được. Một ô đê bao như vậy từ 100-500 hecta tức là có
khoảng 100-500 gia đình. Muốn xả lũ vào thì phải “trưng cầu dân ý”, nhưng
không thể đồng thuận được xả lũ vào lại sẽ thiệt hại nhà cửa, mồ
mả, vườn tược như đã nói ở trên. The point of no return!”
Th.S Nguyễn Hữu Thiện còn đưa ra những con số cụ thể để giải thích thêm:
“Hiện nay ở một số ô đê bao, người ta xả lũ luân phiên, cứ 3 năm
xả vào một lần, tức là thay vì 3 năm 9 vụ, người ta làm 3 năm 8 vụ,
nghỉ một vụ. Nhưng xả lũ kiểu này là chỉ cho nước vào vài tấc vào
cuối mùa nên chỉ có tác dụng rửa bớt độc chất chứ không mang vào được
phù sa, trứng cá, mà môi trường ô nhiễm bên trong ô đê bao cá cũng khó
sống. Canh tác thâm canh hại ghê lắm, bây giờ sông ngòi đâu ai dám tắm,
bơi lội nữa, ngứa lắm. Ở nông thôn miền sông nước Cửu Long bây giờ
cũng toàn xài nước ngầm. Cả đồng bằng này, có khoảng 1 triệu giếng
khoan, mỗi ngày rút lên khoảng 2 triệu mét khối nước ngầm, dùng cho công
nghiệp, thủy sản, sinh hoạt, đủ thứ, vậy nên đồng bằng đang bị sụt
lún, chìm xuống nhanh gấp 10 lần nước biển dâng. Với lại, bây giờ
người dân đã phụ thuộc vào thu nhập từ lúa vụ ba, bỏ một vụ người dân
không biết làm gì để có thu nhập. Cho nên dù biết cứ tiếp tục ba vụ thì
càng không ổn về lâu dài, nhưng muốn bỏ bớt vụ ba, chuyển đổi ngược
lại thì phải dần dần chứ không đột ngột được. Giải quyết chuyện này
thì cần nhà nước mới làm được. Chuyện đầu tiên là phải chuyển hướng nông
nghiệp, không tiếp tục đổ tiền của vào thúc đẩy hướng thâm canh nữa mà
đầu tư vào nông nghiệp sạch hơn, tăng giá trị nông sản, đầu tư tạo việc
làm trong ngành chế biến thì dần dần mới giảm số vụ được.
Bây giờ nhà nước đã nhận ra vấn đề rồi. Gần đây đã có Nghị quyết
về chuyện bỏ chạy theo sản lượng mà tập trung vào chất lượng nông
nghiệp, nhưng quá trình chuyển hướng này chắc phải 10 năm mới xong. Tạm
thời chỉ hy vọng diện tích lúa ba vụ không tăng nữa là tốt lắm rồi,
từ từ tính tiếp.”
Khó có thể tưởng tượng được là hiện nay “diện tích phần nguyên sinh Đồng
Tháp Mười” chỉ còn lại khoảng 2%. Sự can thiệp của con người vào hai vùng
trũng Đồng Tháp Mười và Khu Tứ Giác Long xuyên bất kể hậu quả, đã làm mất nguồn
nước dự trữ cho mùa khô nơi ĐBSCL và cũng có nghĩa là vắt cạn kiệt tài nguyên
môi sinh Đồng Tháp Mười không thể nào phục hồi lại.
Cư dân ĐBSCL đang phải trả giá cho những bước phát triển huỷ hoại ấy
(destructive development). Phục hồi nguyên trạng hệ sinh thái Sông Mekong và
ĐBSCL gần như là không thể được, nhưng phải biết dừng lại những bước sai lầm để
giới hạn tổn thất /damage control và không làm trầm trọng thêm tình trạng vốn
đã bi đát như hiện nay. Vấn đề là làm sao tạo được ý thức nơi người nông dân,
và cả với giới chức quyền đa số đến từ Miền Bắc phải hiểu thế nào là phát triển
bền vững (sustainaible development). Để hướng tới những bước phát triển hài hoà
cho toàn vùng ĐBSCL thay vì phát triển tự phát và cục bộ, điều ấy đòi hỏi rất nhiều
kiên nhẫn thuyết phục và cả thời gian.
TS Dương Văn Ni người nhỏ nhắn có nét thuần chất của một nông dân, với đôi
chân từng lội ruộng dính phèn. Năm 9 tuổi đã phải xa gia đình, Tết Mậu Thân, Ni
còn là một cậu bé đi rao bán bánh mì kiếm sống. Ni đã thoát ra khỏi cảnh nghèo
bằng cắp sách tới trường đi học. Với kiến thức anh thu thập được từ các đại học
tiên tiến [anh có bằng MS tại Philippines, rồi Ph.D ở Anh], anh Ni và các bạn
đi với chúng tôi ngày hôm nay đang là bước tiếp nối thế hệ bậc thầy Phạm Hoàng
Hộ, thầy Nguyễn Duy Xuân và rồi tới thế hệ Võ Tòng Xuân về sau này. Trong cố
gắng bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên, các anh còn có nỗ lực kích hoạt quá
khứ ấy và làm sao kết nối với đời sống hiện tại. Anh Ni lúc nào cũng đau đáu
nghĩ tới thực trạng cuộc sống của bà con nông dân cũng là phần đời của anh
trong đó.
Đến bên một đầm sen, anh Ni giải thích: “Sen là loại cây phổ biến ở Việt
Nam, nhiều nhất là vùng Đồng Tháp Mười. Lợi ích của cây sen được mọi người biết
tới: từ hoa, hạt, tim sen, ngó sen, lá sen đều có công dụng và ăn được; ngay cả
cọng sen đem gọt phần vỏ nhám đem muối dưa ăn cũng rất ngon và dòn, ngon hơn cả
rau muống. Duy có tơ sen lấy từ cọng sen là chưa được khai thác đúng mức tuy
mới đây đã có một cô doanh nhân trẻ từ Sài Gòn bắt đầu đi vào thử nghiệm khai
thác.”

Hình 11: Cánh đồng sen Đồng Tháp đang mùa trổ hoa. [photo by Dương Văn
Ni]

Hình 12: lá sen non làm rau và dùng lá sen cuốn gỏi cá; hạt sen rang (thay
vì đậu phọng rang) là những món ăn quen thuộc của cư dân Đồng Tháp. [Photo
by Ngô Thế Vinh]

Hình 13 trái: TS Dương Văn Ni đang giảng về cây cỏ Đồng Tháp, từ công dụng
làm thuốc của cây cỏ bắc sao thổ nay làm trà; tới lợi ích của cây sen: từ hoa,
hạt, tim sen, ngó sen, lá sen đều có công dụng và ăn được; ngay cả cọng sen đem
gọt phần vỏ nhám đem muối dưa ăn cũng rất dòn, và ngon hơn cả rau muống. Duy có
tơ sen là chưa được khai thác đúng mức. Phải: KS Phạm Phan Long, Hội
Sinh Thái Việt đang học rút tơ sen từ một cọng sen. [Photo by Ngô Thế
Vinh]

Hình 14 trái: những sợi tơ sen rất mịn rút ra từ một cọng sen; phải: người
phụ nữ Myanmar đang dệt lụa sen. [nguồn: tư liệu Dương Văn Ni]
Theo TS Lê Anh Tuấn, loại lụa đặc biệt làm từ tơ sen không phải là mới với
một số quốc gia Đông Nam Á. Đó là một nghề truyền thống có từ cả trăm năm nơi
ngôi làng Paw Khon, Miến Điện. Lụa này được dệt từ những sợi tơ kéo ra từ thân
cây sen, tuy là sản phẩm hiếm và đắt giá nhưng rất thu hút du khách. Một chiếc
khăn san dệt bằng tơ sen có giá thành đắt hơn lụa / silk có thể lên đến 100
USD. [vnexpress.net] (4)
Mới đây 2009, một doanh nhân trẻ người Pháp Awen Delaval, đã lập một Công ty
thời trang làm lụa từ tơ sen ở tỉnh Siêm Riệp, nơi có khu đền đài Angkor. Đây
là một ngành tiểu công nghệ đòi hỏi nhiều công đoạn và rất tốn thời gian: để
dệt được 1 mét lụa sen, phải cần khoảng 15.000 cọng sen để kéo được 3.000m sợi
chỉ sen. Giá thành sản phẩm từ lụa sen rất cao như một chiếc áo làm từ lụa sen
có giá 2.000 USD, một chiếc váy có giá lên tới 4.000 USD nhưng vẫn có người tìm
mua. Do mức sản xuất không đủ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách, công
ty của Awen Delaval đã phải lập riêng một nông trại sen với diện tích 20 hecta,
để có thêm nguyên liệu cọng sen mở rộng sản xuất. [vtv.vn/kinh-te] (4)
Nguyên liệu sen thì Đồng Tháp không hề thiếu, chỉ cần giới doanh nhân trẻ
dám mạnh dạn đầu tư và đem lại công ăn việc làm cho bao cô gái Đồng Tháp, hay
các cô gái Miền Tây nói chung, thay vì bỏ mặc họ phải bỏ quê lên thành phố kiếm
sống hay phải chọn đi lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan và mới đây nhiều hơn, đang được
khuyến khích là kết hôn với đám công nhân Tàu đang làm việc ở Việt Nam, hợp
pháp hay không. Mong rằng tấn thảm kịch bị Hán hoá / Sinicization như quốc gia
Tây Tạng không diễn ra ở ĐBSCL vào những thập niên tới. Người Tây Tạng ngày nay
đã trở thành thiểu số trên chính quê hương họ.
ĐẾN VỚI NHỮNG KHỐI ĐÁ LÃNG QUÊN
Rải rác trên nền lá khô, dưới các tầng cây cao không thể không chú ý tới
những khối đá tảng, có hình như những khối vuông hình cột. Theo anh Võ Tấn
Nghĩa người trông coi khu Bảo tồn Gò Tháp, thì đây là những khối đá có gốc gác
từ nền văn hoá Phù Nam hơn 1,500 năm trước, nguyên là chiếc cổng bằng đá đi vào
Đền Thần Shiva; do một trận đại hồng thuỷ vào Thế kỷ thứ VII, bị đổ sập một số
trôi dạt xuống đây. [sic]
Nhìn kỹ trên mặt đá, có chút tò mò mới thấy được những nét chữ khác nhau
khắc trên mặt đá, và có lẽ chỉ mới đây thôi – từ thế kỷ trước, nay đã lu mờ do
sức tàn phá của những trận mưa acid và sức bào mòn của thời gian. TS Lê Phát
Quới trong nhóm tìm đọc và chụp hình với ống kính zoom những bài thơ rải rác
trên mặt đá. Mấy dòng thơ cảm khái anh Quới đọc mà tôi còn nhớ được, có tựa đề Đồng
Tháp Mười, không ghi ngày tháng, tác giả thì khuyết danh
Còn non còn nước còn ta
Non mòn biển cạn lòng ta vẫn đầy

Hình 15: theo anh Nghĩa, người trông coi khu Bảo tồn Gò Tháp, thì đây là
một trong những tảng đá từ cổng vào Đền Thần Shiva có gốc gác từ nền văn hoá
Phù Nam từ hơn 1500 năm, bị ngã đổ và trôi dạt sau một trận đại hồng thuỷ vào
Thế kỷ thứ VII. Các bài thơ và bàn cờ tướng khắc trên đá chỉ mới có từ thế kỷ
XX về sau này. Từ phải: anh Nghĩa Gò Tháp, TS Lê Phát Quới Viện Tài
Nguyên – Môi Trường ĐHQG Tp. HCM, TS Lê Anh Tuấn Viện Biến Đổi Khí hậu ĐH Cần
Thơ. [Photo by Ngô Thế Vinh]
THÊM MỘT BÀI THƠ KHÁC TRÊN ĐÁ, GÒ THÁP 1956
Trên mặt bằng phẳng một khối đá khác, tôi không khỏi ngạc nhiên khi đọc được
một dòng chữ tương đối còn rõ nét: Toàn dân Đồng Tháp ghi ơn Ngô Tổng Thống
và đó cũng là câu đầu của một bài thơ mộc mạc nhưng cảm động ghi lại
chuyến viếng thăm Đồng Tháp của Tổng Thống Ngô Đình Diệm vào ngày 13 tháng 7
năm 1956 tức năm Bính Thân.
Anh Nghĩa người trông coi khu Bảo tồn Gò Tháp, tuổi chừng 40 có dáng vẻ đôn
hậu của người dân Nam Bộ, khi TT Ngô Đình Diệm tới đây thì anh chưa sinh ra,
anh nói lại như một cổ tích: “Tháng 7 năm 1956, Ngô Đình Diệm tới đây khánh
thành một công trình tỉnh Đồng Tháp, có tới ngồi đây đánh cờ, ăn chén bắp xôi,
uống ly rượu nghĩa tình với dân Đồng Tháp.” [sic]
Chúng tôi cùng nhau phải vừa đọc vừa đoán, dù hết sức tập trung, cũng vẫn là
câu được câu mất. Hơn 60 năm rồi còn gì, liên tục phơi mình trong những cơn mưa
lũ trong cái nóng ẩm miền nhiệt đới, những khối sa thạch ấy đang bị bào mòn
theo thời gian.
Khi hỏi, mới được biết bài thơ khắc trên đá ấy không có trong cuốn sách Gò
Tháp (5) vừa tái bản nhưng anh Nghĩa cũng đã ghi lại bài thơ bằng máy đánh
chữ rồi được lưu trong máy như tài liệu riêng. Chúng tôi yêu cầu có bài thơ ấy
và anh Nghĩa hứa là sẽ gửi cho chúng tôi.
Và rồi ba ngày sau, trước khi rời Sài Gòn, tôi đã được anh Nghĩa Gò Tháp gửi
qua điện thư cho một bản chụp và dưới đây là nguyên vẹn bài thơ dân Đồng Tháp
ghi ơn Tổng thống Ngô Đình Diệm khắc trên đá.

Hình 16: bài thơ toàn dân Đồng Tháp ghi ơn Ngô Tổng Thống được khắc trên
một tảng đá vào ngày 13.7.1956, nay đã phai mờ, ít ai chú ý và gần như bị lãng
quên không bị đập phá, có thể là do bản tính hiếu hòa của dân Nam Bộ.
[Photo by Ngô Thế Vinh]

Hình 17: bài thơ Toàn dân Đồng Tháp ghi ơn Ngô Tổng Thống. Nơi đầu trang
toàn bài thơ là ba dòng chữ viết tay [nguồn: tư liệu của anh Nghĩa Gò
Tháp]
Toàn dân Đồng Tháp ghi ơn Ngô Tổng Thống
Ngàn năm một thuở, vùng chính khí in bước Ngô chí sĩ
Quan san cách trở viếng cảnh người xưa suối vàng chắc hẳn
Tổng Đốc Binh Kiều. Tất* dạ khuây, cho hay, nhân sinh
tự cổ thuỳ vô tử, tử ư quốc sự, tử cương thường.
Hết viếng người xưa, đến viếng dân,
Toàn dân Đồng Tháp đến tri ân, thương người lận đận
vì non nước, ký thác cuộc đời cho núi sông.
Nơi đây 13/7 năm Bính Thân ” 1956 ”
Tổng Thống ăn ngồi chung với dân,
Xếp bằng mặt đất bên chén bắp sôi,
Chai rượu nếp, tình người cao cả rộng bao la.
Đại tá Văn Là tường thuật sự,
Tháp mười đô thị thành hồng khách,
Báo quốc vong thân độc nhất quân,
Gẫm chuyện cổ kim chưa từng có,
Gò Tháp chốn nầy tạt* đá ghi.
Gò tháp ngày 14/7 năm Bính Thân 1956.
Một giải phóng quân Đồng Tháp đã khổ
mới chịu khổ để cứu khổ kẻ khác
Viết theo trên tản* đá còn lại ở nền Tháp Mười tầng.
Một trang sử đã qua đi, không luận tới chuyện thành bại, ngậm ngùi để thấy
rằng Miền Nam, Châu Á đã mất đi một khuôn mặt lãnh đạo “nhân cách.”
Ngô Thế Vinh
Đồng Tháp Mười 12.2017
* Ghi chú của người viết: vẫn giữ nguyên các từ ngữ “địch, ta” và những đánh vần sai chánh tả từ bản gốc.
Tham khảo:
1/ Nguyễn Hiến Lê. Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười. Nxb Nguyễn Hiến Lê, Saigon 1954.
2/ Ngô Thế Vinh. Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng. Nxb Văn Nghệ California 2000.
3/ Trần Ngươn Phiêu. Vùng Đất Ngập Đồng Tháp Mười. Amarillo, Texas 2006. [tư liệu Ngô Thế Vinh]. Diễn Đàn Thế Kỷ 6.12.2010
4/ Lụa dệt từ sợi tơ sen khá phổ biến ở Myanmar và Cambodia: Lụa từ tơ sen [vnexpress.net]; Độc đáo lụa làm từ cuống sen tại Campuchia [vtv.vn]
5/ Nguyễn Hữu Lý. Gò Tháp, Di tích Quốc gia Đặc biệt. Nxb Văn Hoá-Văn Nghệ, Saigon 2016