(Tiếp theo phần 1)
Trong địa ngục chiến tranh, người lính Huỳnh Hữu Võ ví mình
như con bọ hung, một giống loài quá hèn mọn:
“Nếu rừng Thái An đạn bom không dẫm nát
Thì rượu nếp than sẽ đốt cháy tơi bời
Anh hiên ngang như con bọ hung lửa
Xới tan tành mấy bãi cứt trâu khô…”
(Khi anh hành quân - Huỳnh Hữu Võ)
Lời thơ thật ngang tàng nhưng không ngang ngược, như thái độ
sau đây của Nguyễn Sinh Từ:
“…Ta hái hoa rừng ngỡ em chưa phụ
Ta gọi bạn bè ngỡ đứng sau lưng
Ta ném đời ta trong cơn binh lửa
Như ném cây khô đốt lá soi rừng…”
(Trần tình - Nguyễn Sinh Từ)
Cũng có giọng thơ rất hào hiệp nhưng không phách lối:
“…Lòng ta sẽ nở ngàn hoa mới
Tặng cho nhân loại một ngày mai
Khi bom đạn không còn vang nổ
Khi ta nhìn thấy lửa tương lai…”
(Khi dắt quân đi tắm biển - Trần Đắc Thắng)
Cũng có lúc những lời thơ lại vô cùng mềm yếu và đầy tình cảm…với
những nỗi buồn, niềm khát khao, ham muốn…của những con người, rất người.
Hãy nghe những thèm muốn của Lê Công Sinh:
“...Mấy tháng rồi tao chưa thấy Saigon
Mấy tháng rồi tao không được hôn em
Tao thèm làm tình như tao thèm sống
Tao thèm hôn em hôn liên miên…”
(Người về - Lê Công Sinh)
Và lời xin rất cảm động của Trần Yên Hòa:
“…Cho tôi ngủ nhà một đêm
Để nghe hơi thở của vợ, của con mùi nước tiểu thương yêu
đã từ lâu tôi thèm muốn
Âu yếm nào trên môi
Hãy cho tôi lời xin thật nhỏ
Một lần rồi thôi
Đã từ lâu ba hằng nhớ các con
Như đã khóc một mình”
(Lời xin - Trần Yên Hòa)
Cùng với súng ống, hào lũy và bom đạn, không gian thi ca của
họ - những người lính làm thơ - tràn đầy những ly rượu và… tiếng chửi thề… thể
hiện cái tâm trạng bức bối, căng thẳng… của đời lính trận ăn bờ ngủ bụi, sống
nay chết mai:
“…Làm cạn cốc này đi thằng bạn
Để lâu rượu nhạt uống không ngon
Ba năm trôi nổi miền quan ải
Không lẽ mày chưa đủ trí khôn?”
Để rồi:
“…Chinh chiến tạm quên đi thằng bạn
Mềm môi đù má cuộc đời chơi”
(Uống rượu với Duyên ở Thạnh Phú Đông - Dã Nhân)
Có người lính có tửu lượng khá cao như Huỳnh Hữu Võ:
“…Đặc lệnh hành quân bảy ngày “cơm no áo ấm”
Bảy ngày đi năm lít rượu trong người
Mở nắp bi-đông cho hơi nồng trận mạc
Cho đất trời một vũng dưới chân anh…”
(Khi anh hành quân - Huỳnh Hữu Võ)
Lính cũng phải uống rượu để mừng lệnh ngừng bắn trong dịp Tết:
“…Xin hãy cạn chén này - thêm chén nữa
Rừng hoang vu cỏ dại cũng lên hoa
Trong giây phút bình an còn mở cửa
Ta ngồi nghe tim trỗi những lời ca…”
(Chén rượu chiều ba mươi - Huỳnh Kim Sơn)
Và uống, trước khi lên đường:
“…Khi ly rượu này chưa làm đắng môi
Thì anh sẽ…em ơi…còn uống nữa
Lần thứ nhất trong đời không lần lữa
Uống cho say còn tiếp tục lên đồi…”
(Khởi hành - Lữ Quỳnh)
Trong lúc nghỉ ngơi, lính cũng uống:
“…Khi dưỡng quân khề khà dăm ly đế
Ngất ngưỡng say ta học nói tiếng Miên
Quên chữ thánh hiền quên con quên vợ
Ta như than lem luốc đủ trăm miền…”
(Ba Thu - Ngô Đình Khoa)
Trên đường hành quân gặp bạn thì tất nhiên phải uống:
“…Uống đi mày, hãy uống cho cạn
Rượu trùng phùng trên đường hành quân
Lát nữa biết đâu chừng đụng trận
Có chút men đánh đấm thêm hăng…”
(Chờ xuồng qua sông tình cờ gặp bạn - Nguyễn Văn Ngọc)
Còn khi ở hậu cứ chờ lệnh hành quân, lính còn uống “dữ”:
“…Đ.m. ! Sao mày không uống đi
Mặt con gà chết thấy mà ghê
Ngày mai xung trận còn hay mất
Phú quý, công danh, một tiếng khì…”
(Ly chiến sĩ - Phạm Quang Ngọc)
Được uống rượu với địch quân quả là chuyện hy hữu, vì thế
Phan Xuân Sinh đã rất “hứng chí”:
“…Những thằng lính thời nay không mang thù hận
Bạn hay thù chẳng có một lằn ranh
Thôi hãy uống. Mọi chuyện bỏ lại sau
Nếu có thể ta gầy thêm cuộc nhậu…”
(Uống rượu với người lính Bắc phương - Phan Xuân Sinh)
Còn khi đồng đội ra đi thì người lính thương bạn và lại nhớ
những lần cùng uống rượu:
“…Đ.m ! Tụi bây chết thật rồi
Ta nghe hồn chết giữa mưa rơi
Bao giờ ta lại ngồi uống rượu
Cùng kể nhau nghe những chuyện rời…”
(Khóc chiến hữu - Trần Đắc Thắng)
Cũng có khi người lính uống rượu rất “triền miên”:
“…Hãy uống cạn cho lòng vơi nỗi nhớ
Rượu chất đầy: nón sắt, bình đông
Người lấy rượu đốt men xuân càng nồng
Ta say khướt để quên đời dưới đó
Dẫu là xuân, hay hạ, đông, gì cũng thế
Bởi quanh năm ta với rượu: đôi bạn già
(Tiễn thằng bạn vừa mất ta nốc đầy cốc rượu
Mừng kẻ nhập đàn ta lại cụng ly…”)
(Mưa xuân ngoài biên khu - Vũ Hoàng)
Đời lính chiến là buồn, khi phải đi đến những vùng đất lạ để
chiến đấu… mang theo hình ảnh quê nhà, gia đình, vợ con, bè bạn, người yêu… mà
sự gặp lại có khi chỉ là mơ ước. Những nỗi nhớ thương này có lúc là một ngậm
ngùi:
“…Rồi cũng mình anh ngùi thương kỷ niệm
Giận ngày xưa quên tính chuyện ngày về
Khi dong ruổi với trăm lần lỡ vận
Bỗng nghe thèm tắm lại nước sông quê…”
(Lại một mùa xuân viễn xứ - Hoàng Lộc)
Có lúc rất nao lòng:
“…Ta cũng có mẹ già mòn mỏi đợi
Những mùa xuân biền biệt bóng ta về
Tóc mẹ trắng đã bao chiều sương khói
Mắt đìu hiu sầu mấy dặm sơn khê…”
(Chén rượu chiều ba mươi - Huỳnh Kim Sơn)
Nỗi buồn nhớ quê nhà và mẹ của Lâm Hảo Dũng rất giản dị:
“…Thương mẹ ngày xưa muốn bỏ đời
Nhớ gian nhà lá đám mồng tơi
Nhớ sân giậu cũ chùm hoa bí
Và mẫu vườn xanh ổi chín mùi…”
(Ba năm làm lính về Dakto - Lâm Hảo Dũng)
Người lính cũng biết ở quê nhà những người thân yêu vẫn từng
ngày nhớ thương và chờ mong họ trở về:
“…Thôi, má ngủ đêm nay ngon giấc
Con ngồi đưa chiếc võng rách quê nhà
Đạn vòng cầu đừng đi trong đêm tối
Lệ sẽ đầy giấc má nhớ con xa…”
(Đêm cuối năm viết cho má - Nguyễn Dương Quang)
Và từng đêm nguyện cầu cho họ được bình yên:
“…Bây giờ đã tháng tư trời mây vào hạ
Mẹ chắc đang sửa soạn đi lễ chùa
Và em nguyện cầu cho anh mỗi tối
Cho người miệt mài sớm nắng chiều mưa…”
(Tường trình cho em - Phạm Văn Bình)
Làm lính xa nhà là một thiệt thòi. Có lúc người lính nhớ đến
người yêu trong nỗi ngờ vực:
“…Buồn lắm em ơi nào hiểu không
Ở đây vết lệ giòng tuôn giòng
Phương kia thành phố vui bè bạn
Có nghĩ gì ta một nẻo mong?...”
(Buổi dừng quân tháng ba - Phan Nhự Thức)
Cũng có khi tình yêu lính đã nhuốm màu phản bội:
“…Ta vẫn nằm. Trên đồi gió thổi
Chim hót ban ngày, pháo dội ban đêm
Em cứ chạy theo từng mốt mới
Còn ta, uống rượu để tìm quên….”
(Nghe chim hót trên đồi 55 - Phan Xuân Sinh)
Dù vậy, người lính vẫn còn có mẹ và em để nhớ:
“Lòng nhớ mẹ phương Tây
Ý thương em chạy giặc
Xóm làng sầu khôn khuây
Đất trời thêm hiu hắt…”
(Bữa cơm ngoài chiến trường - Trần Dzạ Lữ)
Nỗi nhớ thương mẹ và em là nỗi nhớ ngập lòng:
“…Phất phơ áo lụa trên cầu
Nắng nghiêng cổ tháp ngả màu thời gian
Gió xao sóng nước mênh mang
Thương em nhớ mẹ ngập tràn nhánh sông…”
(Chiều qua sông - Trần Vạn Giã)
Còn nỗi nhớ người yêu thì luôn quay quắt:
“Em đừng hỏi ở rừng có gì lạ
Có gì đâu rừng rú điêu tàn
Nai lạc dấu-ngàn thương trăng cũ
Ta nhớ người tình quay quắt trong sương…”
(Thư gửi người ở lại - Trần Dzạ Lữ)
Nhưng, nhớ thương là vậy, còn người lính thì vẫn chưa về được
vì còn bận rộn:
“…Đêm rơi sương ướt đẫm
Quả tim vết đạn hằn
Ba năm ôm súng đạn
Chưa một lần về thăm…”
(Đêm kích ở Đồn Đền - Trần Văn Sơn)
“…Chim chiều khắc khoải xa xa
Lòng buồn như ứa mắt ra đầm đầm
Tính ra, ừ đã nhiều năm
Phong trần ta vẫn biệt tăm chốn nào…”
(Ghé Krongpha ngồi nhớ - Phan Ni Tấn)
Đó là tình cảm của người lính với quê nhà, gia đình và người
yêu.
Còn với địch quân thì sao?
Một điều đặc biệt, khác thường… không tìm thấy trong tâm thức
người lính của một quân đội nào khác đang lâm chiến với một quân đội nào khác ở
các cuộc chiến tranh nào khác. Đó là lòng thù hận hoàn toàn vắng bóng trong những
bài thơ này.
Mặc dù đi đánh nhau một sống một chết, lòng thù hận không có
ở những người lính QLVNCH. Không tìm thấy một câu thơ, một danh từ, một tính từ
hay trạng từ nào nói lên lòng căm thù những người lính phương Bắc ở bên kia chiến
tuyến là địch quân của họ.
Chính những người lính này cũng đã xác nhận như vậy; hãy
nghe Lâm Chương kể về những đồng đội của mình:
“…Ơi những thằng bạn nhỏ
Cầm súng không hận thù
Dừng quân ngồi tâm sự
Lòng nao nao nhớ nhà…”
(Lá xanh hồn du mục - Lâm Chương)
Còn Nguyễn Dương Quang thì nói về chính mình:
“…Cỏ biết không ta không lòng thù hận
Lũ chúng ta một thuở thế thôi
Ngày mai cỏ sẽ thành đồng lúa
Cỏ sẽ thấy người nắm tay người…”
(Đêm kích dưới chân đồi Pá - Nguyễn Dương Quang)
Thật là những câu thơ đẹp - cái đẹp của tình người.
Khi ngồi uống rượu với địch quân, Phan Xuân Sinh đã nói:
“…Ta cũng có người yêu nhỏ dại
Mỏi mắt trông chờ song cửa quê nhà
Chuyện sống chết căn bệnh trầm kha
Đâu dễ gì thoát vòng sinh mệnh
Những thằng lính thời nay không mang thù hận
Bạn hay thù chẳng có một lằn ranh
Thôi hãy uống. Mọi chuyện bỏ lại sau…”
Và anh kêu gọi:
“…Uống với bạn hôm nay ta phải uống thật say
Để không còn phải nhìn nhau hận thù ngun ngút…”
(Uống rượu với người lính Bắc phương- Phan Xuân Sinh)
Ở trường Sĩ quan nơi đã đào tạo họ (đây là Trường Sĩ
Quan Trừ Bị Thủ Đức hay Trường Bộ Binh hoặc trường HSQ Đồng Đế), cũng có những
giờ học môn chiến tranh chính trị. Những bài học đó chỉ dạy sơ lược cho họ về
chủ nghĩa CS, một thứ mà trên lý thuyết lẫn thực tiễn, chắc hẳn là họ đã thấy (với
lương tri của họ) đầy phi lý và quái gở. Họ không thích “những thứ
đó”, thế thôi. Hãy nghe Nguyễn Dương Quang tâm sự:
“…Có kẻ dạy ta về chủ nghĩa
Ta nghe mà có hiểu gì đâu
Chỉ biết xót xa rừng tít biển
Lòng đau như mìn chặt chân cầu…”
(Trong đêm mưa tiền đồn - Nguyễn Dương Quang)
Chiến tranh vẫn cứ tiếp diễn, những người lính miền Nam vẫn
phải chiến đấu - trong tư thế của người tự vệ - và chỉ mơ ước thanh bình, để có
thể trở về và sống cái lối sống của họ, cái lối sống mà họ ưa thích. Còn những
người lính ở phía bên kia chưa hẳn đã cùng một tâm tư như họ. Hãy nghe Ngô Đình
Khoa mô tả đối phương của anh:
“…Người làm giặc từ Bắc phương tràn tới
Giáp trận súng tay cơm vắt muối vừng
Miệng giải phóng lưỡi điêu ngoa trăm tội
Tim óc người chất ngất những hờn căm…”
(Lính thú - Ngô Đình Khoa)
Vì thế mà vẫn cứ tiếp tục đánh nhau, như lời kể của Trần Dzạ
Lữ:
“…Chiều Mai Lộc núi đồi điên loạn
Quân hai bên đánh đấm mút mùa
Thằng xấu số chết vì xấu số
Bỏ vợ con đau xót ở quê nhà…”
(Chiều Mai Lộc - Trần Dzạ Lữ)
Không những phải chiến đấu để tự vệ mà lòng không thù hận,
người lính chiến miền Nam còn đã xử sự rất cao thượng vì lòng nhân ái có sẵn
trong họ. Hãy nghe Nguyễn Phúc Sông Hương kể trong thơ anh:
“…Đêm nay ta chẳng cần căng võng
Giường đá, ba-lô kê gối nằm
Bên kia núi địch chắc buồn lắm
Nên đốt lửa hồng xua ánh trăng…”
Đã chiếm được đỉnh cao, là một ưu thế trong chiến thuật hành
quân, và biết rằng địch đang ở phía bên kia núi, ở phía thấp hơn; vậy mà người
lính miền Nam vẫn không muốn đánh. Vì sao? Hãy nghe Nguyễn Phúc Sông Hương kể
tiếp:
“…Mặc tiếng cọp gầm người lính trận
Gạo sấy, muối mè, ăn dưới trăng
Đỉnh cao ta chẳng cần xin pháo
Để cho địch sống qua đêm rằm…”
(Người lính làm thơ trên đỉnh núi - Nguyễn Phúc Sông
Hương)
Đêm trăng đẹp quá; tiểu đoàn của anh đang “gác súng” vì
đã “chìm trong mênh mông một đêm rằm…” để nghe “hồn
man mác tiếng thơ rung…”. Nguyễn Phúc Sông Hương (một vị tiểu đoàn trưởng)
cũng muốn cho địch được thưởng thức đêm trăng êm đẹp đó; anh không nỡ gọi pháo…
Thật là hào hiệp!
Còn Trang Châu, một bác sĩ quân y của QLVNCH, sau khi chăm
sóc vết thương cho một địch quân, đã làm những câu thơ như sau:
“…Nó nằm chờ tử thần
Sững sờ bắt gặp tình thương
Đồng loại
Đôi mắt sát nhân vụt bỗng hiền từ
Nhen hai giòng lệ nhỏ
Trong cuộc chiến hôm nay
Tôi xin chiến đấu
Không hận thù
Xin những vết thương bình đẳng
Cho tôi đổi một trăm chiến thắng
Lấy một giọt nước mắt kẻ thù…”
(Giọt nước mắt kẻ thù - Trang Châu)
Tình người còn thể hiện qua hai câu thơ sau đây của Ý Yên:
“…Tôi chợt thấy thương thù và yêu bạn
Chúng ta đều bình đẳng trước thương đau…”
(Sau chiến trận – Ý Yên)
Bàng bạc trong những bài thơ này, là một nỗi “thống hận”,
không phải đối với địch quân, mà chỉ là đối với chiến tranh và vận rủi của đất
nước.
“…Còn một ngày nhìn mặt nhau đó con
Nước cũng đã khô trong lòng giếng cạn
Chiến tranh kéo dài đã thật quá lâu
Mẹ ôm nỗi buồn không sao nói được…”
(Đêm Giáng Sinh ở Việt Nam - Hồ Minh Dũng)
Cùng một nỗi buồn này, Hoàng Lộc chỉ còn biết trách móc:
“…Bởi Thượng đế đã già nên lú lẫn
Quyền tử sinh bỏ lạc xuống tay người
Trên nước Chúa thấy ngựa về mặt trận
Trước đau thương chẳng biết khóc hay cười…”
(Lần hành quân trở về - Hoàng Lộc)
Huỳnh Hữu Võ thì chất vấn:
“…Anh ở đây dưới chân đồi nắng cháy
Vùng đất khô cằn của một quê hương
Quê hương của một giống người bị trị
Một ngàn năm, một trăm năm
Rồi còn bao nhiêu năm?...”
(Nơi anh đồn trú - Huỳnh Hữu Võ)
Huỳnh Kim Sơn thì cố quên đi nỗi buồn:
“…Tay ghì súng tạm quên niềm thống hận
Trời đã cho thêm một tuổi trên vai
Ta cùng bạn chưa tan giòng cay đắng
Buồn mà chi biển rộng với sông dài…”
(Chén rượu chiều ba mươi - Huỳnh Kim Sơn)
Mặc dù rất oán ghét chiến tranh nhưng người lính miền Nam ý
thức rõ về bản chất của cuộc chiến, một cuộc nội chiến:
“…Ta bắt được người gọi tên vô sản
Người bắt được ta gọi lính ngụy quyền
Khi xưa sống tổ tiên chung một họ
Máu chia ngành giờ hết anh em…”
(Lính thú - Ngô Đình Khoa)
Vì mầm mống phân ly đã sẵn có trong huyền thoại của thuở ban
đầu:
“…Ngày ấy ta theo Cha xuống biển
Người theo Mẹ một chuyến lên rừng
Ta vẫn nghĩ một ngày sum họp
Lẽ người quên bọc trứng sau lưng?”
(Trong đêm mưa tiền đồn - Nguyễn Dương Quang)
Cho nên Ý Yên lên tiếng kêu gọi:
“…Xin nghĩ đến một ngày sau chiến trận
Súng buông rồi và lửa tắt đằng sau
Kẻ sống sót nhìn nhau và sẽ nhận
Mình da vàng cùng tiếng nói như nhau…”
(Sau chiến trận - Ý Yên)
Trong chiến tranh, những người lính của QLVNCH là như thế.
Có người trong số những tác giả này đã chết trận, nhiều người bị thương và mất
đi một phần thân thể… Nhưng lửa rồi cũng đã tắt, chiến tranh rồi cũng đã kết
thúc, để rồi những người lính này còn phải chịu đựng, không chỉ là những cơn
đau nhức do mảnh đạn còn sót lại trong thân thể, mà là vết chấn thương trong
tâm hồn.
Đó là những gì tiếp theo sau chiến tranh - không phải là đề
tài của tiểu luận này.
Không còn nghi ngờ gì nữa khi nói đến giá trị văn học, Thơ
lính chiến miền Nam là một tập thơ quý vì đã bao gồm những gì là tinh
hoa của thơ do những người lính miền Nam làm ra. Đây là một dòng thơ tất yếu phải
có – và đã có – trong một thời kỳ đen tối kéo dài quá lâu của đất nước. Lịch sử
sẽ không lặp lại, sẽ không bao giờ có được những bài thơ như thế này trong
bất kỳ một tương lai nào nữa.
Những bài thơ này, nếu không được gìn giữ, biết đâu rồi sẽ
mai một, sẽ bị quên lãng, sẽ biến mất … thì quả là đáng tiếc cho tất cả chúng
ta, nhất là với những nhà nghiên cứu và phê bình văn học Việt Nam.
Nguyễn Hữu Thời
(Tháng 8/2012)
(Thư Quán Bản Thảo số 55, Tháng 1-2013)
