*
Phần 1: Sa vào tay địch
Đó là ngày 26 Tháng 10 năm 1967. Tôi đang bay ngay trên bầu
trời trung tâm Hà Nội đan chéo đầy hỏa tiễn trong phi vụ thứ 23 của mình, thì bị
một hỏa tiễn Nga kích thước cỡ cột điện thoại bắn tung cánh phải chiếc Skyhawk
ném bom tôi bay.
Phi cơ bổ nhào từ cao độ khoảng 4,500 feet xuống đất, bị đảo
ngược lại, gần như chúi thẳng đầu xuống đất. Tôi kéo cần bung dù thoát hiểm. Lực
phóng làm tôi bị bất tỉnh vì tốc độ gió đâu khoảng 500 knot (chú thích người dịch:
926 km/giờ). Lúc đó tôi không nhận thức được, nhưng chân phải ngay quanh đầu gối
và ba nơi trên cánh tay phải cùng cánh tay trái của tôi đã bị gãy. Tôi tỉnh lại
ngay trước khi cánh dù của tôi rơi xuống một hồ nước ngay một góc của Hà Nội, một
trong những hồ họ gọi là Hồ Tây. Mũ phi công và mặt nạ dưỡng khí của tôi đã bị
thổi bay đâu mất. Tôi chạm mặt nước và bị chìm xuống đáy. Tôi nghĩ rằng hồ sâu
khoảng 15 feet, cũng có thể 20. Tôi chòi chân phía dưới để nổi lên mặt nước.
Lúc đó tôi không cảm thấy bất kỳ đau đớn nào. Tôi hít một hơi không khí và bắt
đầu chìm xuống lại. Tất nhiên là vậy vì tôi đang mang đồ bay và các thiết bị
trên người nặng ít nhất cũng 50 lbs. Tôi chìm xuống và cố gắng chòi lên mặt nước
lần nữa. Tôi không thể hiểu tại sao tôi không thể sử dụng chân phải hay tay của
mình. Tôi choáng váng, trồi lên lần nữa và lại bị chìm xuống. Lần này thì tôi
không thể trồi lên lại mặt nước. Mang chiếc áo phao cứu sinh trên người, tôi
cúi xuống dùng miệng kéo dây và cuối cùng cũng nổi lên lại mặt nước.
Vài cán binh Bắc Việt đã bơi ra kéo tôi vào bờ và ngay lập tức
họ bắt đầu lột đồ tôi ra, theo như thủ tục chung của họ. Tất nhiên vì đây là
ngay trung tâm thành phố nên có đông người tụ tập, và tất cả bọn họ đã hò reo,
gào hét, chửi rủa, phun nước miếng và đá tôi túi bụi. Khi họ đã cởi gần hết quần
áo của tôi ra, tôi mới bắt đầu thấy đau nhói nơi đầu gối phải. Tôi gượng dậy và
nhìn xuống nó. Bàn chân phải nằm xéo lên đầu gối trái của tôi, gần như vuông
góc. Tôi thốt lên, “Chúa ơi! Chân tôi”. Dường như điều này làm họ điên tiết dù
tôi không biết lý do tại sao. Một kẻ trong số họ dộng báng súng trường xuống
vai tôi một cú khá nặng. Một kẻ khác đâm lưỡi lê vào chân tôi. Đám đông này thực
sự đang nổi cuồng. Ngay lúc đó, một thanh niên xuất hiện và hét nạt đám đông dạt
ra. Một người phụ nữ khác đỡ tôi dậy và kề lên miệng tôi tách trà, trong lúc có
mấy tay chụp hình bấm vài pô hình. Điều này làm đám đông dịu lại một chút. Thế
rồi họ đưa tôi lên cáng, khiêng vào một chiếc xe tải và chở thẳng đến nhà tù
chính của Hà Nội. Tôi được đưa vào một xà lim và đặt xuống sàn nhà. Tôi vẫn còn
nằm trên cáng, chỉ mặc đồ lót và có khoác cho một tấm chăn lên người.
Trong ba hay bốn ngày sau, tôi tỉnh lại vài lần giữa cơn mê
man bất tỉnh. Dù vậy tôi cũng bị đưa ra khảo cung nhiều lần – điều mà chúng tôi
gọi là một cuộc “kiểm tra vấn đáp”. Đó là những lúc tôi bị đánh với đủ gán ghép
về tội phạm chiến tranh. Bắt đầu bị đánh ngay ngày đầu tiên. Tôi không thèm
khai bất cứ điều gì ngoại trừ họ tên, cấp bậc, số quân và ngày tháng năm sinh.
Họ đánh tôi dập vùi, đánh tôi bất tỉnh. Họ liên tục hăm dọa, “Mày sẽ không nhận
được bất kỳ chữa trị thuốc men gì cho đến khi mày mở miệng”. Tôi không tin lắm.
Tôi nghĩ rằng nếu ráng cầm cự, thế nào rồi họ cũng đưa tôi đến bệnh viện. Tôi
được tên lính canh cho ăn một tí thức ăn và uống chút nước. Nước thì tôi còn nuốt
được, nhưng đồ ăn vẫn tiếp tục bị ói ra. Lúc đó, bọn họ chỉ muốn khảo tin tức
quân sự chứ không phải tin tức chính trị. Nhưng mỗi khi họ hỏi tôi một cái gì
đó, thì tôi cũng chỉ khai tên họ, cấp bậc, số quân và ngày tháng năm sinh chừng
đó. Tôi nghĩ đến đâu ngày thứ tư gì đó thì có hai tên bước vào, thay vì chỉ một.
Một tên kéo tấm chăn để chỉ cho tên kia vết thương của tôi. Tôi nhìn xuống đầu
gối. Kích thước, hình dạng và màu sắc của trái banh sao thì nó cũng y vậy. Tôi
còn nhớ khi tôi còn là một sĩ quan huấn luyện bay thì một đồng ngũ của tôi cũng
đã bị đẩy ra khỏi máy bay của anh và bị gãy đùi. Chân bị tụ máu và rồi anh bị
chết, một điều khá bất ngờ đối với chúng tôi – khi có người chết vì bị gãy
chân. Tôi nhận ra rằng tôi cũng đang bị y hệt như vậy.
Khi tôi nhìn thấy vậy, tôi nói với người lính canh, “OK, cho
tôi gặp cấp trên các anh”. Chỉ dăm phút, một sĩ quan tới, đó là người mà chúng
ta sẽ còn biết rõ về sau, tạm gọi là “Con Rệp”. Hắn ta là một kẻ tra tấn tâm thần,
một trong những quái vật tồi tệ nhất mà chúng tôi phải đối phó. Tôi nói, “OK,
tôi sẽ cung cấp cho anh tin tức quân sự nếu anh đưa tôi đến bịnh viện”. Hắn rời
phòng và trở lại với một bác sĩ, một gã mà chúng ta gọi là “Zorba”, một tên
hoàn toàn không có khả năng. Hắn cúi xuống bắt mạch. Hắn không nói được tiếng
Anh, nhưng lắc đầu và lúng búng gì đó với “Con Rệp”. Tôi hỏi: “Các anh có đưa
tôi đến bệnh viện không?” “Con Rệp” trả lời, “Trễ rồi”. Tôi nói, “Nếu anh đưa
tôi đến bệnh viện, tôi sẽ hồi phục”. “Zorba” bắt mạch tôi lần nữa, và lặp đi lặp
lại, “Đã quá trễ”. Họ đứng dậy và bỏ đi, để tôi nằm lại bất tỉnh. Chỉ một lúc
sau, “Con Rệp” ập vào phòng hét toáng lên, ” Cha mày là một đô đốc gộc. Bây giờ
bọn tao sẽ đưa mày đến bịnh viện”.
Tôi kể lại chuyện này để nói lên điều này: Khó mà có tù nhân
cụt tay chân nào còn sống sót trở về vì bọn Bắc Việt sẽ chẳng mất thì giờ chữa
trị cho những ai bị trọng thương. Chỉ riêng việc chuyển từ kiểu đời sống tại Mỹ
sang chốn lao tù bẩn thỉu, bụi bặm và nhiễm trùng, cũng đã khó cho ai còn sống
sót. Trong thực tế, nội việc chữa trị tôi trong bệnh viện cũng đã xém làm tôi mất
mạng.
Phần 2: Trong tay giặc
Tôi thức dậy một vài lần trong ba bốn ngày sau. Huyết thanh
và máu đang được truyền cho tôi. Tôi trở nên khá tỉnh táo. Căn phòng mà tôi nằm
không đến nỗi nhỏ lắm, khoảng đâu 15×15 feet, nhưng dơ dáy bẩn thỉu và bị
trũng, mỗi khi trời mưa thì nước ngập sàn cũng từ nửa đến một inch. Tôi chẳng
được tắm rửa lấy một lần trong bệnh viện. Tôi cũng gần như không hề thấy bóng
dáng một bác sĩ hoặc một y tá nào, ngoại trừ bác sĩ có ghé liếc sơ tôi vài lần.
Họ nói tiếng Pháp chớ không phải tiếng Anh.
Người canh tôi là thằng bé khoảng 16 tuổi, chắc vừa lên khỏi
ruộng lúa. Trò tiêu khiển ưa thích của thằng bé là ngồi cạnh giường tôi và đọc
một cuốn truyện có vẽ hình một ông già cầm khẩu súng trường trong tay, đang ngồi
trên thân máy bay một chiếc F-105 bị bắn hạ. Thằng bé chỉ trỏ gì đó vào mình, rồi
tát và đánh tôi. Nó làm điều đó một cách đầy khoái trá. Nó đút tôi ăn vì cả hai
cánh tay của tôi đã bị gãy. Nó bưng vào chén mì gói có chút xương sụn, rồi đút
tôi. Các xương sụn rất khó nhai. Tôi ngậm đầy miệng đâu ba bốn muỗng gì đó rồi
nuốt trộng. Tôi chẳng ăn thêm được nữa, thế là thằng bé bưng ăn hết. Mỗi ngày
hai lần tôi ăn khoảng ba hoặc bốn muỗng thức ăn như vậy.
Tôi nằm đó đâu khoảng 10 ngày, thì một buổi sáng có một tên
“gook”- kiểu chúng ta gọi bọn Bắc Việt – đến. Gã này nói tiếng Anh rất giỏi. Hắn
hỏi thăm tôi rồi bảo, “Chúng tôi có một người Pháp đến thăm Hà Nội và muốn mang
tin tức về cho gia đình của anh”. Đóng chút ngây ngô vào lúc đó – vì cần phải
khôn ngoan hơn với những loại người này – tôi hình dung chuyện này cũng chẳng
thiệt thòi gì, nếu anh chàng này đến gặp tôi và quay về thông báo cho gia đình
tôi rằng tôi vẫn còn sống sót. Khi đó tôi chưa biết được rằng tên của tôi đã được
công bố trong chiến dịch tuyên truyền rầm rộ của Bắc Việt và bọn họ rất hí hửng
vì đã bắt được tôi. Họ nói với một số bạn của tôi khi tôi bị bắt rằng, “Chúng
tôi đang nắm thái tử trong tay”, làm tôi cũng mắc cười. Họ bảo tay người Pháp sẽ
tới thăm tôi tối đó . Khoảng trưa, tôi được đặt lên chiếc xe lăn và đưa vào
phòng mổ để băng bột tay phải cho tôi. Họ rất vất vả để nối xương lại với nhau,
bởi vì cánh tay tôi đã bị gãy ba nơi, có hai khúc bị trôi dật dờ. Tôi phải chứng
kiến cảnh một gã vật lộn để sắp lại xương tay cho mình trong khoảng một giờ rưỡi
đồng hồ mà không có thuốc tê. Sự đau đớn tột độ làm tôi xỉu đi nhiều lần. Cuối
cùng hắn ta đành bỏ cuộc và gắn cái ngực băng bột vào tôi. Điều này làm tôi kiệt
sức và đó là lý do tại sao sau này, khi một số phim truyền hình được quay, nhiều
người xem thấy tôi như thể đang bị say thuốc là vậy. Khi mọi chuyện đã xong, họ
đưa tôi vào một căn phòng lớn với một chiếc giường ra trắng tươm tất. Tôi nghĩ,
“Boy, mọi thứ coi bộ thực sự khá hơn”. Tay lính canh nói với tôi: “Bây giờ mày
sẽ ở trong căn phòng mới này”.
Khoảng một giờ thì một gã đàn ông được gọi là “Mèo” đến. Về
sau tôi mới biết rằng hắn ta là người đã phụ trách tất cả các trại tù binh tại
Hà Nội cho đến cuối năm 1969. Hắn khá lanh lợi, một loại trí thức đang nắm quyền
Bắc Việt. Hắn nằm trong Cục chính trị của Đảng Lao động Việt Nam. Điều đầu tiên
hắn làm là đưa tôi nhận diện thẻ quân của Đại tá John Flynn – tức tướng John
Flynn bây giờ – viên chỉ huy cao cấp của chúng tôi. Ông cũng bị bắn hạ trong
cùng một ngày với tôi. “Mèo” nói qua một thông dịch viên, hắn không nói tiếng
Anh lúc đó. “Người của truyền hình Pháp đang đến”. Tôi nói, “Tôi không nghĩ rằng
tôi muốn được quay phim”. Hắn xẵng giọng, “Anh cần hai cuộc giải phẫu, và nếu
anh không nói chuyện với anh ta thì chúng tôi sẽ lấy lớp băng bột ở ngực anh ra
và anh sẽ không được giải phẫu gì thêm nữa”. Hắn tiếp: “Anh phải nói rằng anh
biết ơn nhân dân Việt Nam và xin lỗi về những tội ác của mình”. Tôi nói với hắn
ta là tôi sẽ không làm điều đó.
Cuối cùng, một người Pháp tên là Chalais bước vào, một tay cộng
sản, như tôi biết ra sau đó, cùng với hai phóng viên ảnh khác. Ông ta hỏi tôi về
sự đối xử và tôi nói với ông là thỏa đáng. “Mèo” và “Chihuahua”, một tên thẩm vấn
khác, nhắc sau lưng tôi để nói theo rằng, tôi rất biết ơn cho việc chữa trị
khoan hồng và nhân đạo của họ. Tôi từ chối, và khi chúng ép tôi, Chalais nói:
“Tôi nghĩ rằng những gì ông nói với tôi cũng đủ rồi”. Sau đó Chalais hỏi tôi có
nhắn tin gì về cho gia đình. Tôi bảo với ông là hãy nhắn vợ và những người khác
trong gia đình là tôi đang hồi phục và rất yêu thương họ. Một lần nữa, từ đàng
sau, “Mèo” khăng khăng bắt tôi nói thêm đại loại là hy vọng rằng chiến tranh sẽ
sớm kết thúc để tôi có thể được về nhà. Chalais cứng rắn cắt ngang lời hắn ta,
bảo rằng ông đã hài lòng với câu trả lời của tôi. Ông đã giúp tôi thoát khỏi một
tình huống đầy khó khăn. Chalais ở ngay Paris. Vợ tôi sau đó đã bay sang đó gặp
ông ta và ông đã cho cô ấy một bản sao đoạn phim, về sau được chiếu trên đài
truyền hình CBS tại Mỹ. Ngay khi ông vừa đi khỏi, bọn chúng lập tức đưa tôi lên
xe đẩy và tống về lại căn phòng bẩn thỉu trước đó.
Sau đó, đã có nhiều người đã đến nói chuyện với tôi. Không
phải ai trong họ cũng đến để thẩm vấn. Có lần một nhà văn già có chòm râu dài
như Hồ Chí Minh và nổi tiếng của Bắc Việt đến phòng của tôi, muốn trò chuyện về
Ernest Hemingway (Chú: Đó là nhà văn Nguyễn Tuân, người đã đưa cuộc nói chuyện
này vào tập bút ký “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi” theo chỉ thị đảng để ca ngợi chính
sách “nhân đạo” (!?) của đảng với tù binh chiến tranh). Tôi nói với ông ta rằng
Ernest Hemingway chống Cộng bằng vũ lực. Nó cho ông ta một điều gì đó để suy
nghĩ. Những người khác đến để tìm hiểu về đời sống ở Mỹ. Họ hình dung rằng cha
tôi cấp bậc quân sự cao như vậy, tất tôi phải được nhiều đặc quyền và trong
vòng quyền lực. Họ không có khái niệm gì hết về cách vận hành dân chủ của chúng
ta. Một trong những người đàn ông đến gặp tôi là tướng Võ Nguyên Giáp, được gọi
là người hùng của Điện Biên Phủ mà tôi nhận biết qua ảnh sau này. Ông đến xem
tôi ra sao, mà không nói gì. Ông là Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng và nằm trong Trung
Ương Đảng cộng sản Bắc Việt.
Khoảng hai tuần sau, tôi đã được đưa vào giải phẫu chân có
quay phim. Họ chẳng hề chữa trị gì cánh tay trái bị gãy của tôi. Nó tự lành. Họ
bảo chân tôi cần hai cuộc giải phẫu, nhưng vì tôi đã có một ” thái độ xấu” nên
họ sẽ không cho làm cuộc thứ hai. Tôi cũng chẳng biết họ đã làm cái quỷ gì trên
chân tôi. Nhưng bây giờ quay về Mỹ, một bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình sẽ mổ và
xem xét lại. Chưa gì ông đã báo với tôi rằng họ đã rạch sai đường mổ và cắt hết
gân chằng ở một bên. Tôi ở trong bệnh viện khoảng đâu sáu tuần, sau đó được đưa
đến một trại giam ở Hà Nội tạm gọi là “Đồn Điền”. Nó là vào cuối Tháng 12 năm
1967. Tôi được đưa vào chung một xà lim với hai người khác là George Day và
Norris Overly, cả hai cùng là Thiếu tá Không quân. Tôi nằm trên cáng, chân còn
cứng đơ và bộ ngực băng bột mà tôi đã mang được khoảng hai tháng. Từ trọng lượng
bình thường 155 lbs, tôi tụt xuống còn khoảng 100 lbs. Sau này Thiếu Tá Day kể
họ không nghĩ tôi sống thêm quá một tuần. Tôi cố gượng ngồi dậy được. Mỗi ngày
tôi ngủ mê man khoảng 18 giờ, 20 giờ. Họ đã phải chăm sóc mọi thứ cho tôi. Họ
được phép xách một xô nước để thỉnh thoảng rửa ráy cho tôi. Họ đút tôi ăn và
chăm sóc tận tụy, và tôi hồi phục rất nhanh.
Chúng tôi chuyển đến một căn phòng khác ngay sau lễ Giáng
sinh. Vào đầu Tháng Hai năm 1968, Thiếu Tá Overly được đưa ra khỏi phòng của
chúng tôi và được trả tự do cùng với David Matheny và John Black. Họ là ba người
tù binh đầu tiên được Bắc Việt trao trả. Tôi hiểu họ đã được khuyến dụ là không
nên nói gì về việc đối xử tù nhân, để không gây nguy hiểm cho những người của
chúng ta vẫn còn đang bị giam cầm. Chỉ còn lại Day và tôi một mình với nhau.
Ông còn bó bột tay phải vì bị bắn sau lần ông đã bị bắt tận phía Nam, định vượt
trốn và bị bắt lại lần nữa. Ngay sau khi tôi đã có thể đi được, vào khoảng
Tháng 3 năm 1968, thì Thiếu Tá Day bị chuyển đi.
Phần 3: Khí phách người lính
Tôi bị biệt giam từ thời điểm 1968 đó trong hơn hai năm trời.
Tôi không được phép gặp mặt, nói chuyện hay giao tiếp với bất kỳ tù nhân đồng
ngũ nào. Phòng giam của tôi tạm vừa phải- khoảng 10×10, có cửa ra vào chắc chắn
mà không có cửa sổ. Hệ thống thông gió là hai lỗ nhỏ ở trên trần nhà, khoảng
6×4 inch. Mái nhà bằng thiếc nên phòng nóng như thiêu. Phòng mờ mờ đêm cũng như
ngày, nhưng họ luôn bật một bóng đèn nhỏ để có thể quan sát tôi. Tôi bị nhốt
trong đó suốt hai năm.
Theo cái kiểu bị biệt giam này thì điều quan trọng nhất để tồn
tại là liên lạc được với một ai đó, đôi khi nó chỉ là cái vẫy tay hoặc một cái
nháy mắt, gõ vào tường, hoặc có ai đưa ngón tay ra hiệu cũng làm mọi chuyện
khác đi. Nó cũng rất là quan trọng để giữ cho đầu óc mình làm việc và tất cả
chúng tôi đều làm việc này. Một số người thích toán học nên họ nhẩm các phép
toán phức tạp trong đầu vì chúng tôi chưa bao giờ được phép có giấy bút. Vài
người khác thì xây nhà trong đầu, xây từ tầng hầm lên trên. Tôi thì thiên về
triết học. Tôi từng đọc rất nhiều sách về lịch sử nên đã dành hết ngày này đến
ngày khác để ôn lại trong đầu những cuốn sách lịch sử này, suy diễn nơi nào nước
này hay nước khác đã sai đường, hay Mỹ nên làm gì trong lĩnh vực đối ngoại. Tôi
cũng suy niệm rất nhiều về ý nghĩa của đời sống. Cũng dễ dàng rơi vào sự tưởng
tượng. Tôi đã từng viết sách và kịch trong tâm trí mình, nhưng tôi nghi ngờ rằng
trong số này chẳng có cuốn nào hơn được mức tiểu thuyết rẻ tiền nhất. Người ta
đã hỏi tôi làm cách nào mà chúng tôi có thể nhớ được những chi tiết như mật mã,
con số, tên họ cùng mọi thứ khác. Thực tế là, khi anh không có bất cứ điều gì
khác để suy nghĩ, không bị chia trí thì nó thật dễ dàng. Kể từ khi tôi đã quay
lại đây thì lại rất khó cho tôi để nhớ cả những điều đơn giản, ví dụ như tên của
một người mà tôi vừa mới gặp. Trong thời gian bị biệt giam, tôi nhớ tên của tất
cả 335 tù nhân chiến tranh ở Bắc Việt. Tôi vẫn còn nhớ chúng. Điều bạn phải chống
chọi với nó là nỗi lo lắng. Nội tình trạng thể chất mình cũng dễ gây căng thẳng.
Một lần tôi bị trĩ và đầu óc tôi bị chết dính vào nó khoảng ba ngày. Cuối cùng,
tôi nhủ, “Coi McCain, mày có từng biết thằng nào chết vì bệnh trĩ chưa?”. Vì vậy
tôi bỏ mặc không nghĩ ngợi nữa và sau vài tháng thì nó tự khỏi.
Câu chuyện của Ernie Brace minh họa cho việc liên lạc là
quan trọng với chúng tôi thế nào. Lúc tôi đang bị nhốt tại “Đồn Điền” vào tháng
10 năm 1968, có một căn phòng phía sau phòng tôi. Tôi nghe vài tiếng động bên
đó vì vậy tôi bắt đầu gõ nhẹ vào tường. Tín hiệu mà chúng tôi gọi là “cạo râu
và cắt tóc” để anh chàng khác sẽ gõ lại hai tiếng. Trong hai tuần, tôi không
nghe động tĩnh, nhưng cuối cùng thì có hai tiếng gõ. Tôi bắt đầu gõ theo bảng
chữ cái – một cái là “a”, hai cái là ” b ” và cứ vậy. Rồi tôi bảo: “Áp tai vào
tường”. Cuối cùng anh ta đến và tôi áp cái cốc vào tường, nói cho anh ta nghe
được. Tôi chỉ cho anh mã gõ và các thông tin khác. Anh nói tên mình là Ernie
Brace. Ngay lúc đó thì có tên lính canh lai vãng, tôi nói với Ernie, “Thôi,
ngày mai tôi gọi lại cho anh”. Cũng mất vài ngày anh ta mới quay lại bức tường.
Anh chỉ nói được “Tôi là Ernie Brace” rồi bắt đầu khóc nức nở. Sau khoảng hai
ngày thì anh dằn được cảm xúc của mình, và trong vòng một tuần anh chàng này đã
biết cách gõ, giao tiếp, nhắn tin và làm rất tốt về sau. Ernie là một phi công
dân sự bị bắn rơi ở Lào. Anh bị cùm chân trong một cái lồng tre trong rừng, cổ
bị xích lại trong ba năm rưỡi, hầu như chẳng sử dụng đến đôi chân. Anh trốn
thoát ba lần và sau lần thứ ba bị bắt lại, anh bị chôn đứng xuống đất, chỉ chừa
lại cái đầu.
Trong những ngày đó, vẫn vào năm 1968, theo lẽ là chúng tôi
được phép tắm cách ngày. Nhưng cái trại này thiếu nước nên đôi khi hai ba tuần,
cả tháng cũng không được tắm. Tôi có một tên chuột cống canh ngục, lúc nào cũng
đưa tôi ra sau chót. Bồn tắm kiểu cái chuồng ngựa đổ bê-tông. Sau khi tất cả mọi
người tắm, thường là không còn nước dư nhưng tôi cũng bị tống vào đứng không
năm phút “tiêu chuẩn tắm” rồi bị đưa về lại phòng. Chuyện vệ sinh thì tôi được
phát cho cái xô có nắp đậy không vừa miệng. Ngày nào cũng phải đổ nhưng có người
khác xách giùm vì tôi còn đi chưa nổi. Từ lúc Day và Overly rời tôi, Day rời
vào tháng 2 còn Overly thì tháng 3 năm 1968, việc đối xử căn bản là có đỡ. Khi
tôi bị bắt gặp đang gõ tín hiệu, liên lạc với người phòng khác hay đại loại vậy
thì chỉ bị tặc lưỡi “Tắc, tắc! Không được thế, không được thế”. Thật vậy, tôi
nghĩ cũng không đến nỗi nào.
Ngày 15 tháng 6 năm 1968, một đêm tôi bị đưa lên phòng thẩm
vấn. “Mèo” và một gã đàn ông khác mà chúng ta gọi là “Thỏ” đang ở đó. “Thỏ” nói
tiếng Anh rất giỏi. “Mèo” là chỉ huy của tất cả các trại tù tại thời điểm đó. Với
tôi, hắn làm như không nói được tiếng Anh, mặc dù rõ ràng theo tôi thì hắn biết,
vì trong các cuộc trò chuyện, hắn đặt câu hỏi hoặc nói chuyện trước khi “Thỏ” dịch
những gì tôi nói. Như bạn biết, người phương Đông hay nói vòng vo một chút. Đêm
đầu tiên, “Mèo” nói chuyện với tôi khoảng hai tiếng. Tôi không biết ý hắn ra
sao nhưng đại loại hắn nói với tôi là hắn từng quản các trại tù binh Pháp trong
những năm 1950 và đã tha cho một vài người, và rằng gần đây hắn gặp lại thì họ
đã cám ơn về lòng tốt của hắn. Hắn bảo Overly đã về nhà “với danh dự “. Tôi thực
sự không biết phải nghĩ gì, bởi vì tôi đã từng có những cuộc thẩm vấn khác mà
tôi chẳng khai báo. Lần này thì họ không tra tấn tôi. Họ chỉ nói rằng tôi sẽ
không bao giờ được về nhà và sẽ bị xét xử như một tội phạm chiến tranh. Đó là đề
tài thường xuyên của họ trong nhiều tháng. Đột nhiên “Mèo” hỏi tôi:
– Anh có muốn về nhà không?
Tôi sững người và tôi nói với bạn rất thẳng thắn rằng, tôi
đã trả lời rằng tôi phải suy nghĩ về nó. Tôi trở về phòng và nghĩ ngợi khá lâu.
Tôi đâu liên lạc được các sĩ quan cấp trên để có thể nhận được lời khuyên. Tôi
lo liệu tôi có còn sống hay không bởi vì tôi đang ở trong tình trạng khá xấu.
Tôi vừa bị kiết lỵ khoảng một năm rưỡi nay, bị sụt cân lần nữa. Nhưng tôi hiểu
quân cách sĩ quan rằng “không chấp nhận ân huệ hoặc ân xá ” và “sẽ không chấp
nhận ưu đãi đặc biệt nào”, vì đối với ai đó được về nhà trước đó là một đặc ân
đặc biệt. Không thể phá quân cách này. Ba đêm sau tôi được đưa trở lại. Hắn hỏi
lại: “Anh có muốn về nhà không?”. Tôi nói: “Không”. Hắn ta muốn biết lý do, và
tôi trả lời lý do. Tôi nói rằng, Alvarez (người Mỹ đầu tiên bị bắt) cần được thả
đầu tiên, sau đó là các binh lính. “Mèo” nói với tôi rằng Tổng thống Lyndon
Johnson đã ra lệnh cho tôi về nhà. Hắn đưa cho tôi một lá thư từ vợ tôi, trong
đó cô đã viết: “Em ước chi anh là một trong ba người đã trở về nhà”. Tất nhiên,
cô không cách nào hiểu được những phức tạp phía sau. “Mèo” cho biết rằng các
bác sĩ đã nói với hắn rằng tôi không thể sống nổi trừ khi tôi được chữa trị tại
Mỹ. Chúng tôi cứ vờn nhau điều này và tôi vẫn mực nói “Không”. Ba đêm tiếp sau
đó cũng cứ như vậy. Trong sáng lễ Độc Lập 4 tháng 7 năm 1968, cùng một ngày cha
tôi được thăng quyền Tổng Tư Lịnh Thái Bình Dương các lực lượng Hoa Kỳ, tôi được
dẫn vào một căn phòng thẩm tra khác. “Thỏ” và “Mèo” đã ngồi ở đó. Tôi bước vào
và ngồi xuống. “Thỏ” nói:
– Cấp trên chúng tôi muốn biết câu trả lời cuối cùng của
anh.
– Câu trả lời cuối cùng của tôi cũng vậy. Đó là “Không”.
– Câu trả lời cuối cùng của anh phải không?
– Đó là câu trả lời cuối cùng của tôi.
“Mèo” đang ngồi với một đống giấy tờ trước mặt và một cây viết
trong tay, hắn bẻ đôi cây viết, mực văng tung tóe. Hắn đứng lên, đá sầm cái ghế
phía sau và nói: “Chúng dạy mày tốt lắm. Chúng dạy mày tốt lắm”. Tôi có thể
thêm vào là, hắn nói bằng một giọng Anh rất chuẩn. Hắn quay ngoắt người, bước
ra ngoài và đóng sầm cửa lại, để lại “Thỏ” và tôi ngồi lại. “Thỏ” nói: “Bây giờ,
McCain, chuyện sẽ rất xấu cho anh đó. Về lại phòng”.
Phần 4: Đòn thù
Tất nhiên việc Bắc Việt muốn thả tôi đồng lúc khi cha tôi trở
thành Tư lịnh Thái Bình Dương để làm như họ nhân đạo khi trả tự do cho con trai
bị thương của một sĩ quan cao cấp của Hoa Kỳ. Họ cũng dùng điều này như một
cách khích động đến các tù binh đồng ngũ của tôi vì Bắc Việt luôn đặt nặng chuyện
“giai cấp”, để có thể sẽ rêu rao với người khác rằng, “Hãy xem kìa, đám quỷ tội
nghiệp kia, quý tử của gã đang nắm quyền cuộc chiến đã về nhà và bỏ rơi chúng
mày, không ai quan tâm đến đám lính thường chúng mày đâu”. Lúc nào tôi cũng xác
quyết phải ngăn chặn bất kỳ sự lợi dụng vào cha và gia đình tôi. Thêm điều nữa
là, dù họ nói với tôi rằng tôi sẽ không phải ký bất kỳ tuyên bố hoặc lời thú tội
nào trước khi được trao trả, nhưng làm sao tin được. Họ đưa đến chân máy bay và
nói “Bây giờ ký vào bản tuyên bố này”, thì ngay lúc đó tôi không biết mình có đủ
sức chống chọi lại không, dù cho tôi rất cứng rắn vào thời điểm đó. Nhưng điều
chủ yếu là tôi không cho mình cái quyền hưởng tự do trước những người như
Alvarez, người đã từng bị giam ba năm trước khi tôi “bị tử nạn” – kiểu chúng
tôi nói thay cho việc “bị bắn hạ”, vì cái cách trở thành một tù binh của Bắc Việt
cũng giống như đang bị giết vậy. Khoảng một tháng rưỡi sau, khi ba tù binh được
chọn để thả về đến Mỹ, tôi bị đối xử dã man cả trong một năm rưỡi trời vì thái
độ cứng rắn trước đó.
Một đêm đám lính canh ập đến phòng tôi và nói: “Quản giáo muốn
gặp mày”. Gã này là một tay đặc biệt ngu ngốc. Chúng tôi gọi hắn là “Đầu Lệch”.
Một điều tôi nên đề cập ở đây là các trại tù được tổ chức rất giống kiểu quân đội
của họ. Mỗi trại có một sĩ quan trưởng trại chịu trách nhiệm chính về việc hoạt
động, thực phẩm… Họ có thêm một cán bộ tuyên huấn, thực chất là một sĩ quan
chính trị để chuyên phụ trách các cuộc thẩm vấn và làm công tác tuyên truyền đã
nghe được qua báo đài. Chúng tôi cũng đã có một tay như vậy mà chúng tôi đặt
tên là “Công tử”. Hắn xuất thân từ một gia đình quan trọng tại Bắc Việt. Hắn mặc
quân phục chải chuốt, có oai trong trại. “Công tử” có phần nào ẻo lả nhưng là
người tốt, trong khi gã trại trưởng “Đầu lệch” là kẻ rất tàn bạo. Mỗi khi có điều
gì xảy ra, thường “Công Tử” đến và nói: “Thế cơ đấy, tôi không biết họ đã làm
thế với anh. Anh cứ hợp tác cho tốt vào thì mọi việc cứ đâu vào đấy”.
Trở lại câu chuyện trên, thì họ dắt tôi ra khỏi phòng của
tôi để gặp “Đầu lệch”. Hắn nói “Mày dám vi phạm các nội quy trại. Mày là tên tội
phạm xấu xa. Mày phải thú nhận tội ác của mình…”. Tôi nói rằng tôi sẽ không làm
điều đó. Hắn hỏi “Tại sao mày láo lếu với các cán bộ thế?” Tôi trả lời: “Bởi vì
họ đối xử với tôi như một con vật”. Khi tôi nói vậy, các tên lính canh đứng
trong phòng – khoảng đâu 10 tên nhào vào đánh đấm tôi túi bụi. Chúng đá tôi từ
phía này sang phía kia, vừa đánh đấm vừa cười cợt. Sau vài tiếng thì chúng cột
tôi bằng dây thừng rồi bị tống vào một căn phòng nhỏ. Để trừng phạt, thường
chúng đưa anh vào một căn phòng không có mùng chống muỗi, không giường, không
quần áo gì hết. Trong bốn ngày tiếp đó, tôi bị đánh mỗi ngày khoảng hai ba tiếng
như vậy bởi các nhóm lính canh khác nhau. Cánh tay trái của tôi bị gãy lại và
các xương sườn bị nứt. Họ muốn tôi viết lời xin lỗi về những tội ác mà tôi đã
gây ra với những người dân Bắc Việt và tôi rất biết ơn về các chữa trị mà tôi
đã nhận được từ họ. Đúng là nghịch đời – rất nhiều tù nhân bị đối xử tàn nhẫn
nhưng phải nói rằng họ biết ơn. Nhưng kiểu cộng sản là vậy.
Tôi bị nhốt vậy bốn ngày. Cuối cùng, tôi xuống mức tận cùng
trong 5 năm rưỡi bị tù ở Bắc Việt, đến độ đã nghĩ đến chuyện tự tử, bởi vì tôi
thấy mình đã ở cuối đường hầm. Tôi nói, được, tôi sẽ viết cho họ. Họ đưa tôi đến
một trong những phòng thẩm vấn và trong 12 giờ tiếp đó, bọn tôi đã viết đi viết
lại bao nhiêu lần. Tên thẩm vấn là một tên khá ngu ngốc, đã viết những lời thú
nhận cuối cùng để tôi ký vào. Nó là giọng điệu của họ viết về tội ác xấu xa và
những điều chung chung khác. Bọn chúng thì chưa hài lòng lắm nhưng với tôi thì
cảm thấy nó quá khủng khiếp. Tôi cắn rứt, “Chúa ơi, con thực sự chẳng còn chọn
lựa nào khác”. Tôi hiểu một điều chắc ai cũng hiểu: mỗi người có một lúc yếu đuối
nào đó của mình. Tôi đã chạm đến mức của mình.
Nhưng sau đó thì bọn “gook” đã phạm một sai lầm rất nặng, bởi
vì họ cho tôi quay lại xà lim và tịnh dưỡng một vài tuần. Thường thì chúng
không làm điều đó với những ai đã bị chúng biến thành tệ hại. Tôi nghĩ rằng chắc
chúng thấy tay tôi bị gãy và chân sụm vì bị đánh đập và tra tấn dã man như một
con vật. Cánh tay tôi rất đau đớn, chẳng thể nhấc lên khỏi sàn. Với bệnh kiết lỵ,
đó là cả một thời gian cực hình. Tạ ơn Chúa, chúng để tôi yên vài tuần. Sau đó,
chúng gọi tôi lên một lần nữa và muốn cái gì khác đó. Bây giờ tôi không nhớ là
gì nhưng đại loại không phải viết lời nhận tội nữa. Lúc này thì tôi đã có thể
chống chọi lại. Tôi đủ sức đương đầu. Chúng không thể “hủy” tôi một lần nữa.
Tôi đã nghiệm ra một điều là sự cầu nguyện giúp mình nhiều lắm. Không phải kiểu
cầu mong một sức mạnh siêu nhân hoặc Thiên Chúa xuống tiêu diệt đám Bắc Việt
đó. Nó là sự cầu nguyện để có được một tinh thần và thể chất cang cường, có được
sự dẫn dắt và khôn ngoan để làm điều phải đạo. Tôi cầu sự xoa dịu mỗi khi tôi bị
đau đớn và đôi khi tôi nhận được. Tôi đã được chứng nghiệm điều này nhiều lần.
Trước áp lực như vậy, có vẻ chỉ có hai chọn lựa. Hoặc khuất phục để chúng bẻ
cong mình dễ dàng hơn trong lần tới, hoặc chẳng làm được. Nói cách khác, nếu
mình chịu đựng được thì mình ngày càng lì đòn hơn theo thời gian. Một phần vì
nó chỉ là một quá trình chuyển đổi từ cách sống của mình sang cách sống kia.
Nhưng phải biến căm ghét thành sức mạnh. Bây giờ tôi không còn căm ghét những kẻ
như vậy. Tôi ghét và ghét cay ghét đắng những tên lãnh đạo. Đám lính canh chỉ
biết làm công việc của họ. Khi họ được sai đánh bạn thì họ đánh. Một số coi đó
là chuyện khoái trá. Nhiều tên thì đồng bóng. Một số thì tàn bạo, dường như
luôn phấn khích trong chuyện đánh đập .
Từ đó trở đi, tôi liên tiếp bị đối xử tàn nhẫn. Có lúc tôi bị
đánh ba hoặc bốn lần một tuần, có khi tôi được để yên vài tuần. Nhiều lần là do
tôi vì chúng đã nhận thức hơn trước về mối nguy nếu để các tù binh Mỹ liên lạc
được với nhau, nên mỗi khi bắt gặp thì chúng đánh kiểu đòn thù dã man. Tôi bị bắt
gặp rất nhiều lần. Một phần là tôi chẳng quá thông minh để né được và lý do
khác là tôi bị giam có một mình. Nếu bạn sống với người khác, có ai đó phụ được
mình, có lẽ cũng giúp mình chống đỡ được. Nhưng tôi chưa bao giờ chùn tay. Liên
lạc được với các tù nhân khác có giá trị tột bực, nó là sự khác biệt giữa việc
có khả năng để kháng cự lại hay không thể. Các tù nhân khác có thể lập luận
khác, rất nhiều, phụ thuộc vào mỗi cá nhân. Một số người có khả năng tự sống
còn cao hơn những người khác. Nhưng việc liên lạc chủ yếu để giữ vững tinh thần
của mình. Chúng tôi chấp nhận rủi ro bị đánh đập dù chỉ nhắn với một người khác
rằng, có bạn tù nào đó vừa nhận được một lá thư từ quê nhà. Nhưng nó cũng có
giá trị thiết lập một hệ thống mệnh lệnh ngầm trong trại tù để các sĩ quan cao
cấp đưa ra những cố vấn và hướng dẫn cho chúng tôi.
Phần 5: Đời sống ngục tù
Giai đoạn Bắc Việt liên tục đối xử tàn nhẫn với tù binh Mỹ
kéo dài đến khoảng Tháng Mười năm 69. Họ muốn tôi gặp các nhóm phản chiến đến
Hà Nội, trong đó có rất nhiều người nước ngoài như Cuba, Nga. Tôi nghĩ lúc đó
chưa có nhiều người Mỹ “phản chiến” sớm vậy, dù các năm sau đó thì nhiều hơn.
Tôi từ chối gặp bất kỳ nhóm nào. Với họ thì giá trị tuyên truyền sẽ rất lớn khi
cha tôi là Tổng tư lệnh Thái Bình Dương.
Nhóm David Dellinger đến. Nhóm Tom Hayden đến. Ba nhóm tù
nhân được thả, trên thực tế, dưới sự bảo trợ của các “nhóm hòa bình” vậy. Những
người đầu tiên được thả về với một trong nhóm anh em Berrigan. Nhóm tiếp theo
là toàn bộ một phi hành đoàn, có James Johnson , một trong những Bộ Ba Fort
Hood (Chú: Nhóm 3 Binh Nhất Mỹ phản đối việc bị đưa sang Việt Nam) về cùng vợ của
chủ biên tạp chí “Ramparts” và Rennie Davis. Nói chung, tôi nghĩ có tám hoặc
chín người về kiểu đó. Sau đó là một nhóm thứ ba. Bắc Việt muốn tôi gặp tất cả
các nhóm này, nhưng tôi đã có thể né được. Nhiều khi không thể làm họ mất mặt,
vì vậy bạn phải cố gắng để đu đưa với nó. Bạn biết là “mặt mũi” là chuyện lớn với
loại người này, và nếu bạn để họ có thể giữ thể diện thì được dễ dàng hơn rất
nhiều. Ví dụ họ đánh tôi tàn nhẫn và bắt tôi phải gặp một phái đoàn, tôi trả lời
“Được, tôi muốn gặp một nhóm vậy, nhưng tôi sẽ không nói bất cứ điều gì chống lại
đất nước mình và tôi cũng không nói bất cứ điều gì về việc đối xử với tôi,
nhưng nếu được hỏi, tôi sẽ kể sự thật về các điều kiện tôi đang bị giam giữ”. Họ
bảo, “Anh đồng ý gặp một phái đoàn nên chúng tôi sẽ cho anh gặp”. Nhưng như mọi
người thấy, họ chưa bao giờ cho tôi gặp. Một lần, họ muốn tôi viết vài hàng cho
các tù nhân chiến hữu của tôi nhân dịp Giáng sinh. Tôi viết thế này: “Gởi đến
các tù nhân chiến hữu mà tôi không được phép gặp mặt hay nói chuyện, tôi cầu
mong gia đình các chiến hữu được tốt lành và hạnh phúc, và tôi hy vọng rằng các
chiến hữu được phép viết và nhận thư gia đình theo Công ước Geneva năm 1949 mà
những người đang giam cầm các bạn không cho phép. Xin Thiên Chúa ban phước lành
đến các chiến hữu”. Họ nhận thư nhưng tất nhiên là không bao giờ được công bố
nó. Nói cách khác, đôi khi viết cái gì đó ca ngợi chính phủ mình hoặc chống lại
họ thì tốt hơn chuyện cứ nói “Tôi sẽ không viết bất cứ điều gì”- vì đó cũng có
thể là cách câu giờ khi các điều viết ra này phải được thông lên đủ loại cấp
trên của chúng.
Bây giờ để tôi kể với bạn câu chuyện của đại úy Dick
Stratton. Anh bị bắn rơi vào Tháng Năm 1967, lúc vài nhóm phản chiến Mỹ đã nhao
nhao la làng rằng Hoa Kỳ ném bom Hà Nội dù chúng tôi chưa làm vào thời điểm đó.
Dick bị bắn rơi phía ngoài Hà Nội, nhưng họ muốn có một lời thú tội nhân lúc một
ký giả Mỹ đang có mặt. Đó là vào mùa Xuân và mùa Hè năm 67 – chắc mọi người còn
nhớ những câu chuyện rất giật gân về những thiệt hại do bom Mỹ? “Thỏ” và những
tên khác thẩm vấn Dick Stratton rất tàn bạo. Tay Dick đầy các vết hằn dây thừng
đã bị nhiễm trùng. Chúng thực sự bóp dẹp anh để có được một lời thú nhận rằng,
anh đã ném bom Hà Nội như một bằng chứng sống. Chúng rút móng tay và gí tàn thuốc
lá vào người anh. Dick bị dồn đến mức không thể nói “không”. Nhưng khi chúng
đưa anh đến buổi họp báo, anh làm một hành động cúi chào – anh cúi chào 90 độ
theo hướng này, anh cúi chào 90 độ theo hướng khác, đủ bốn góc. Với đám “gook”
thì không phải điều gì quá lạ lẫm vì chúng quen với việc cúi chào vậy. Nhưng bất
kỳ người Mỹ nào nhìn thấy hình ảnh của một người Mỹ gập mình đến thắt lưng để
cúi chào vậy cũng biết rằng có điều gì đó không ổn, có điều gì đó đã xảy ra với
anh ta. Đó là lý do tại sao Dick làm những gì anh đã làm. Sau đó chúng tiếp tục
tạo áp lực để anh ta nói rằng anh ta không bị tra tấn. Chúng tra tấn anh để buộc
phải nói rằng anh không bị tra tấn. Dick vừa ra tuyên bố mạnh mẽ tại cuộc họp
báo một vài tuần trước ở đây rằng anh muốn thấy Bắc Việt bị buộc tội là tội phạm
chiến tranh. Anh ấy là một người cao quý. Anh và tôi đã ở chung trại “Đồn Điền”
với nhau trong một thời gian dài và anh rất cang cường trong đó. Anh là một sĩ
quan hải quân xuất sắc, một người Mỹ cống hiến hết mình và có đức tin sâu sắc.
Tôi nghĩ đến Dick Stratton rất nhiều. Anh rất, rất là xui bị nhận những đối xử
tàn tệ nhất mà đám “gook” có thể nặn ra.
Chúng tôi đã trải qua một mùa Xuân và Hè 1969 đặc biệt xấu
vì có một cuộc vượt ngục tại một trong những trại tù. Hai người của ta là Ed
Atterberry và John Dramesi lên kế hoạch chuẩn bị rất tốt nhưng đã bị bắt lại.
Atterberry bị đánh đến chết sau cuộc vượt ngục bất thành này. Chẳng nghi ngờ gì
về điều này khi Dramesi thấy Atterberry bị đưa vào một căn phòng và nghe tiếng
đánh đập rồi bị biệt tăm từ đó. Còn Dramesi, nếu anh không phải là một người lì
đòn thì cũng có thể đã bị đánh chết. Anh có thể là một trong những người gai
góc nhất mà tôi từng gặp. Anh là dân từ Nam Philly, từng là một võ sĩ quyền Anh
chuyên nghiệp và là một đô vật khi còn trong đại học. Các đòn thù lây sang tất
cả các trại khác. Họ bắt đầu tra khảo chúng tôi về các kế hoạch vượt ngục. Thức
ăn trở nên tồi tệ. Việc kiểm tra phòng trở nên rất nghiêm ngặt. Anh không thể
có bất cứ điều gì trong phòng mình, không có gì. Họ không cho cả thuốc i-ốt xức
ghẻ như trước vì Dramesi và Atterberry đã bôi i-ốt cho sậm da như người Việt
Nam trước khi vượt ngục.
Mùa hè năm đó, từ Tháng Năm đến khoảng Tháng Chín thì cứ
ngày hai lần, tuần sáu ngày, tất cả chúng tôi được cho ăn chỉ là canh bí đỏ và
bánh mì tại trại mình. Đó là một chế độ ăn uống rất kham khổ, đầu tiên là ngán
tận cổ thứ canh bí đỏ đó, kế đến là nó không có bất kỳ giá trị dinh dưỡng thực
sự nào. Điều duy nhất để có thể giữ cho bất kỳ trọng lượng trên người là bánh
mì, một cục bột nhão nhoét. Ngày Chủ Nhật, chúng tôi được cho ăn món chè đậu, đậu
nấu với đường, không có chút thịt nào. Rất nhiều người chúng tôi ốm tong teo và
hốc hác. Tôi xui xẻo bị bắt gặp đang liên lạc bạn tù bốn lần trong Tháng Năm
năm 1969. Tôi bị tống vào một phòng trừng phạt đối diện với xà lim của tôi nhiều
lần. Cũng Tháng Năm 1969 đó, họ muốn tôi viết, như tôi còn nhớ, một lá thư cho
các phi công Mỹ đang bay trên Bắc Việt để yêu cầu họ đừng làm điều đó nữa. Tôi
đã bị buộc phải đứng liên tục – đôi khi chúng phạt mình đứng yên hay ngồi trên
một chiếc ghế suốt một thời gian dài. Tôi bị bắt đứng vậy cũng mấy ngày, chỉ được
nghỉ vài tiếng khi một lính canh – một người thực sự là con người duy nhất mà
tôi từng gặp ở trong đó – cho tôi nằm xuống cho một vài giờ khi ông gác trong một
đêm khuya. Một trong những thủ thuật chúng tôi đối phó để chúng chẳng hủy được
mình là nếu cảm thấy đứng mệt quá thì tự ngồi xuống, để chúng buộc đứng lên lại.
Vì vậy, tôi ngồi xuống và bị một tên lính canh bé choắt đặc biệt đáng căm ghét
xông vào, nhảy giậm lên xuống đầu gối tôi. Vì chuyện này mà tôi đã phải mang nạng
trở lại cả một năm rưỡi sau đó.
Đó là một mùa Hè dài đăng đẳng và khó khăn nhưng đến Tháng
Mười năm 1969, đột nhiên có những thay đổi lớn trong trại. Sự tra tấn ngừng lại.
Một ngày kia, gã “Công tử” đến phòng của tôi và thông báo tôi sẽ có được một
người bạn tù ở chung phòng. Thức ăn đỡ hơn và phần ăn cũng nhiều hơn, còn đám
lính canh ra vẻ thân thiện. Tôi cho rằng tất cả điều này trực tiếp nhờ vào các
nỗ lực vận động của chính phủ và người dân ở Hoa Kỳ vào năm 1969. Em trai tôi
là Joe rất tích cực trong Liên Đoàn Quốc gia những gia đình các tù nhân chiến tranh
và mất tích người Mỹ tại Đông Nam Á. Tổ chức này bao trùm tất cả các nhóm gia
đình tù binh chiến tranh POW. Joe đã giải thích cho tôi biết lý do tại sao thái
độ Bắc Việt Nam đối với tù binh Mỹ lại thay đổi vậy. Vào khoảng những năm 1965,
1966 trước đó, khi việc ném bom miền Bắc tăng dần, Hà Nội trình diễn màn tuyên
truyền đầu tiên của mình bằng cách điệu các phi công Mỹ bị đánh đập diễn hành
qua các đường phố. Đáng ngạc nhiên với họ là phản ứng của truyền thông thế giới
nói chung là tiêu cực. Kế đó Bắc Việt đã cố gắng chiến thuật buộc Thiếu tá Dick
Stratton xuất hiện và xin lỗi vì những tội ác chiến tranh. Nhưng rõ ràng là ông
đã bị ngược đãi và buộc phải làm điều này chỉ dưới sự cưỡng ép. Điều đó chỉ phản
tác dụng. Họ làm tiếp việc trả tự do hai nhóm ba tù binh vào Tháng Hai và Tháng
Mười năm 1968. Những tù binh này bị bắt dưới sáu tháng, chưa bị giảm cân đáng kể
và nhìn còn khỏe mạnh.
Cho đến khi Nixon lên nắm chính phủ đầu năm 1969 thì trước
đó chính phủ ở nhà còn giữ thái độ: “Không nói về tình trạng tù binh chiến
tranh vì e rằng sẽ làm nguy hại tù binh Mỹ đang bị giam”. Bộ trưởng Quốc phòng
Melvin Laird, đầu năm 1969, đã có các cuộc đàm phán hòa bình với Bắc Việt và Việt
Cộng tại Paris (đàm phán đã bắt đầu dưới thời Tổng thống Johnson vào cuối năm
1968). Laird đem hình ảnh của những tù binh bị đánh đập tàn nhẫn mà các hãng
tin nước ngoài chụp được, chẳng hạn như Frishman, Stratton, Hegdahl – tất cả đều
bị xuống ký trầm trọng. Ông nói với Bắc Việt: “Công ước Geneva nói rằng các ông
phải thả tất cả các tù binh bị bệnh và bị thương. Những người này đang bị bệnh
và bị thương, tại sao họ không được trả tự do?”. Tháng Tám năm 1969, Hà Nội thả
Frishman. Anh không còn khuỷu tay, chỉ được gắn cánh tay cao su khập khiễng và
sụt mất 65 lbs. Hegdahl ra tù và sụt 75 lbs. Wes Rumbull cũng được thả, phải bó
bột vì gãy sống lưng. Frishman được phép tổ chức một cuộc họp báo và kể ra các
chi tiết sự tra tấn và ngược đãi. Tin tức này xuất hiện trên toàn thế giới, và
từ đó, bắt đầu từ mùa Thu năm 1969, việc đối xử tù binh đỡ hơn. Chúng tôi nghĩ
tác động trực tiếp là đến từ thực tế Frishman là một nhân chứng sống thực về sự
ngược đãi tù binh Mỹ của Bắc Việt.
Phần 6: Những kẻ phản chiến
Tôi tự hào về các hoạt động tranh đấu cho tù nhân chiến
tranh của em trai tôi là Joe và Carol-vợ tôi, bên nhà. Sự khao khát của những
người vợ có chồng tù tội theo thời gian thường là “Lạy Chúa, bất kể sao cũng được,
con chỉ muốn chồng con được về”. Với Carol thì câu trả lời của cô ấy là, “Chỉ cần
có được chồng tôi trở về không đủ đối với tôi và không đủ với John, mà tôi muốn
anh ấy đứng thẳng người trở về”. Tôi được nhận khá ít thư từ Carol. Chỉ có ba
thư trong bốn tháng đầu tiên tôi bị bắn hạ. Đám “gook” cho tôi nhận chỉ một lá
thư trong bốn năm tù cuối. Gói quà đầu tiên được nhận vào Tháng Năm 1969, sau
đó họ cho mỗi năm một lần. Lý do tôi nhận rất ít thư từ Carol vì cô khăng khăng
chỉ sử dụng các tổ chức hoạt động theo Công ước Geneva về việc đối xử với tù
nhân chiến tranh, mà từ chối gửi thư thông qua Ủy ban liên lạc với các gia đình
tù nhân do các nhóm phản chiến điều hành. Điều này mang lại cho tôi vài điều cần
nói chi tiết hơn.
Như mọi người biết, trở lại thời điểm 1954, Bắc Việt đã ở thế
tay trên trong việc lật đổ chính phủ Pháp tại Paris vì các cử tri Pháp đã chẳng
còn quan tâm đến cuộc chiến Việt Nam mà chính phủ của họ đã dự phần. Đó là cách
Bắc Việt chiến thắng vào năm 1954, thắng ngay tại Pháp chớ không phải tại Việt
Nam. Pháp đồng ý rút khỏi Đông Dương mà không đặt vấn đề gì khác khi ký thỏa
thuận và kết quả là họ chỉ nhận lại một phần ba số tù binh chiến tranh của
mình. Tôi tin rằng Hà Nội cũng hy vọng sẽ giành chiến thắng trong trường hợp
chúng ta bằng cách làm suy giảm tinh thần dân Mỹ như vậy. Họ phải dẫn đưa dư luận
thế giới về phía họ. Tôi nhớ vào năm 1968 hoặc 69, trong bài phát biểu của Phạm
Văn Đồng với Quốc Hội VN, chúng ta bị banh tai với diễn văn có tiêu đề “Cả thế
giới ủng hộ chúng ta” chớ không phải kiểu “Chúng ta đã đánh bại quân Mỹ xâm lược”
hoặc bất cứ điều tương tự vậy.
Năm 1969, sau khi ba tù nhân được trả tự do về đến Mỹ và kể
lại sự tàn bạo trong các trại tù binh chiến tranh thì Tổng Thống Nixon đã bật
đèn xanh cho công bố điều này. Nó tác động mạnh đến việc đối xử với chúng tôi.
Cảm tạ Chúa cho điều này, bởi nếu không phải vậy thì rất nhiều người trong chúng
tôi sẽ chẳng bao giờ còn cơ hội sống sót trở về. Một ví dụ nhỏ về cách thay đổi
như sau: trên cửa xà lim tôi là các chấn song sắt, thường bị che bởi một tấm
ván để tôi khỏi nhìn ra ngoài và để chặn sự thông gió. Một đêm, vào khoảng cuối
Tháng Chín năm 1969, “Đầu Lệch”- tên trưởng trại tù đích thân đến và lấy nó ra
để tôi bắt đầu có chút thoáng gió. Tôi chẳng tin vào mắt mình. Từ đó, mỗi đêm họ
hé ô cửa trên để tôi có được chút thông gió. Chúng tôi bắt đầu được tắm thường
xuyên hơn. Thiệt hết sức là ngạc nhiên. Vào Tháng 12 năm 1969, tôi được chuyển
từ “Ngũ Giác Đài” sang “Las Vegas”, là một khu vực nhỏ tại Hỏa Lò do người Pháp
xây năm 1945. Người Mỹ thì gọi nó là “Hà Nội Hilton”. “Khách Sạn Tan Tác” cũng
là ở đó – đó là nơi đầu tiên mà ai cũng bị đưa đến thẩm vấn mở màn và sau đó bị
đưa đến các trại khác. Toàn bộ nhà tù này có diện tích khoảng hai block đường.
Tại “Las Vegas “, tôi bị đưa vào một nhà nhỏ gọi là “Gold Nugget” có ba phòng
giam. Chúng tôi đặt tên cho các ngôi nhà theo tên các khách sạn tại Las Vegas
như “Thunderbird”, “Stardust”, “Riviera”, ” Gold Nugget” và “Desert Inn “. Bị
chuyển đến “Gold Nugget” và ngay lập tức tôi có thể tạo sự liên lạc với những
tù nhân quanh trại, vì khu vực tắm ở ngay cửa sổ phòng tôi nên tôi có thể nhìn
qua kẽ trên cửa phòng tắm và liên lạc với nhau. Tôi bị biệt giam ở đó cho đến
Tháng Ba năm 1970.
Họ ép tôi gặp các đoàn phản chiến Mỹ đã bắt đầu tăng dần
nhưng không bị bất kỳ sự tra tấn nào để ép buộc. Vào Tháng Giêng năm 1970, tôi
được đưa đến “Mèo” để thẩm vấn. Hắn nói với tôi rằng, hắn muốn tôi gặp một
khách nước ngoài. Tôi lặp lại điều đã luôn nói với hắn trước đó rằng, tôi sẽ gặp
họ nhưng tôi sẽ không nói bất cứ điều gì chống lại đất nước mình và nếu được hỏi
về việc đối xử, tôi sẽ kể với họ về sự khắc nghiệt của nó. Rất ngạc nhiên cho
tôi, hắn nói: “Tốt, anh không cần phải nói bất cứ điều gì”. Tôi nói với hắn tôi
sẽ suy nghĩ về đề nghị này. Tôi trở về phòng và tìm cố vấn từ một sĩ quan cấp
trên trong khu vực tù của mình và ông khuyên tôi cứ đi gặp. Vì thế tôi đã gặp một
tay nói rằng hắn đến từ Tây Ban Nha, nhưng sau này tôi nghe được là đến từ
Cuba. Hắn chẳng hỏi tôi bất kỳ câu hỏi nào về các vấn đề gây tranh cãi hoặc
chuyện đối xử hay suy nghĩ của tôi về cuộc chiến. Tôi nói với hắn là tôi chẳng
hối hận gì về những gì tôi đã làm và nếu có xảy ra lần nữa, tôi cũng sẽ làm lại
y vậy. Điều đó dường như làm hắn nổi giận vì hắn là một cảm tình viên của Bắc
Việt. Giữa lúc đó, một phóng viên bước vào chụp vài tấm hình. Tôi đã nói với
“Mèo” trước đó là tôi không muốn có bất cứ sự công bố hình ảnh nào của tôi, vì
vậy khi tôi về phòng sau cuộc phỏng vấn kéo dài khoảng 15, 20 phút gì đó, tôi
nói với hắn là tôi sẽ không gặp khách nào khác vì hắn đã không giữ lời hứa. Sau
đó Đại Tá Jeremiah Denton, người đang điều hành khu tù chúng tôi lúc đó đưa ra
đường lối là chúng tôi không nên gặp bất kỳ đoàn nào khác. Tới Tháng Ba, tôi có
được một bạn tù chung phòng là Đại tá Không quân John Finley. Ông và tôi sống
chung được khoảng hai tháng. Một tháng sau khi ông nhập phòng, “Mèo” đến gặp tôi
và bắt phải gặp một phái đoàn khác. Tôi từ chối nên bị phạt ngồi ghế ngoài trời
trong ba ngày đêm liên tục. Sự ép buộc lên chúng tôi liên tục để phải gặp các
phái đoàn phản chiến. Đầu Tháng Sáu tôi bị tách khỏi Đại tá Finley và bị đưa
vào một xà lim gọi là “Calcutta”, cách xa các tù nhân gần nhất cũng khoảng 50
mét. Nó rộng chỉ 6×2 feet, không có lỗ thông gió và rất, rất là nóng. Suốt mùa
hè tôi bị lả nhiệt vài ba lần và bị lỵ. Sức khỏe tồi tệ hẳn, tôi không được tắm
rửa và khẩu phần bị cắt giảm xuống còn một nửa, thỉnh thoảng lại bị bỏ đói một
ngày hay hơn. Suốt thời gian này tôi bị đưa đi thẩm vấn và bị ép phải gặp những
người phản chiến nhưng tôi từ chối .
Tháng Chín tôi bị chuyển đến khu gọi là “Riviera” nằm tách
biệt sau trại. Tôi ở đó cho đến khi Tháng Mười Hai năm 1970. Ở đó tôi có thể
liên lạc với bạn tù khá tốt vì có một cánh cửa có lỗ thông gió quay ra ngoài.
Tôi đứng lên cái xô rồi dùng bàn chải đánh răng để quơ tín hiệu cho các tù nhân
khác và họ sẽ quơ lại cho tôi. Tháng Mười Hai tôi bị chuyển đến “Thunderbird”,
một trong những ngôi nhà lớn với khoảng 15 phòng giam. Việc liên lạc với bạn tù
rất tốt ở đây khi chúng tôi gõ tín hiệu lên vách giữa các phòng giam với nhau.
Tôi học được rất nhiều về âm học trong thời gian này, vì nếu bạn biết gõ đúng
chỗ trên vách thì có thể nghe được người khác ở cách xa bốn năm phòng. Cuối
Tháng 12 năm 1970, tôi đoán là khoảng ngày 20, tôi được cho ra ngoài vào ban
ngày với bốn người khác. Vào đêm Giáng Sinh, chúng tôi được đưa ra khỏi phòng
mình và chuyển đến “Trại Thống nhất “, một phần khác của Hỏa Lò. Khoảng 45 người,
chủ yếu bị đưa từ “Vegas” bị nhốt chung vào một phòng lớn. Có bảy phòng lớn như
vậy và mỗi phòng giam 45 hoặc 50 tù nhân. Chúng tôi có tổng cộng 335 tù nhân tại
thời điểm đó. Có bốn hoặc năm người không trong tình trạng tốt nên bị nhốt
riêng. Các Đại Tá Flynn, Wynn, Bean và Caddis cũng bị nhốt riêng biệt, không được
chuyển vào với chúng tôi lúc đó.
Tên giám thị của chúng tôi lại là “Con Rệp” mà chúng tôi rất
căm ghét. Hắn hành hạ chúng tôi đủ điều, không cho chúng tôi tụ tập hơn ba người
cùng lúc. Chúng sợ chúng tôi sẽ thiết lập sự truyền bá chính trị cho nhau.
Chúng không cho chúng tôi được làm Thánh lễ. Tháng Ba năm 1971, các sĩ quan cấp
trên quyết định rằng chúng tôi sẽ tổ chức một Thánh lễ. Đó là điều quan trọng với
chúng tôi và cũng là điều đúng để tranh đấu. Chúng tôi tiến hành và tổ chức lễ.
Những người chủ Thánh lễ ngay lập tức bị đưa ra khỏi phòng. Chúng tôi bắt đầu
hát vang những bài Thánh ca và Quốc ca. Đám “gook” nghĩ đó là một cuộc nổi loạn
nên mang dây thừng và dùng judo vật trói chúng tôi. Sau khoảng một hoặc hai tuần
họ bắt đầu đưa các sĩ quan cấp trên ra khỏi phòng chúng tôi đến nơi khác. Cuối
Tháng Ba chúng lại đưa thêm ba hay bốn người mỗi một trong bảy phòng ra, tổng cộng
là 36 người. Chúng tôi bị đưa đến một trại chúng tôi gọi là “Skid Row”, một trại
trừng phạt từ Tháng Ba đến Tháng Tám, được trở về khoảng bốn tuần khi có ngập lụt
quanh Hà Nội, rồi sau đó chúng tôi lại bị đưa ra đó lại cho đến Tháng Mười.
Ở đó chúng không đối xử tệ lắm với chúng tôi. Đám lính canh
được phép đánh chúng tôi chỉ khi chúng tôi ngang ngạnh nhưng không được phép
tra tấn chúng tôi để có được các tuyên bố mang tính tuyên truyền. Các xà lim đều
rất nhỏ, khoảng 6×4 feet và chúng tôi bị biệt giam lần nữa. Đó là điều khó chịu
nhất vì cứ làm mình nghĩ đến tất cả bạn bè đã từng bị giam chung một phòng lớn
với nhau. Nhưng so với những năm 69 và trước đó thì chẳng đáng gì. Lợi thế lớn
nhất khi bị giam chung phòng lớn là chỉ cần vài ba người trong nhóm phải đối
phó với đám “gook” còn khi bị biệt giam thì lúc nào cũng phải tự mình đối phó với
chúng, mà lúc nào chẳng có chuyện lục đục với chúng. Lẽ ra mình được phép có 15
phút để tắm nhưng mới năm phút thì tên “gook” đã bắt về lại phòng, vì vậy phải
cãi với hắn và thế là bị hắn nhốt lại, không cho tắm một tuần. Nhưng khi ở
trong một phòng lớn với những người khác, chẳng thèm dòm ngó đến chúng sẽ làm
mình dễ chịu hơn rất nhiều.
Suốt giai đoạn này, bọn “gook” tấn công chúng tôi bằng các
phát biểu phản chiến từ một số nhân vật cao cấp ngay Washington. Đây là cách
tuyên truyền hữu hiệu nhất để tấn công chúng tôi khi dùng chính phát biểu,
tuyên bố của vài người nói chung là được trọng vọng tại Hoa Kỳ. Chúng dùng nhiều
lời lẽ của Thượng Nghị Sĩ Fulbright, rồi TNS Brooke. Chúng lặp đi lặp lại lời của
TNS Ted Kennedy, cũng như Averell Harriman. Chúng cũng thích Clark Clifford,
ngay sau khi ông trở thành Bộ Trưởng Quốc Phòng thời Tổng Thống Johnson. Đến
khi Ramsey Clark vào cuộc thì họ xem đó là bước tuyệt vời cho mục tiêu của họ
(Chú: Ramsey Clark, cựu Bộ Trưởng Tư Pháp thời TT Johnson, người phản đối mạnh
mẽ chiến tranh Việt Nam và năm 1972 đã sang Hà Nội để phản đối việc ném bom Hà
Nội). Khi công luận ồn ào sau vụ công bố Hồ Sơ Ngũ Giác Đài (Chú: Pentagon
Papers là tài liệu nghiên cứu mật của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ về sự can dự chính
trị và quân sự của Hoa Kỳ vào Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau Đệ Nhị Thế
Chiến cho đến năm 1967, đã bị một nhân vật phản chiến trong nhóm nghiên cứu tiết
lộ cho báo New York Times vào năm 1971) thì đây là một bước đệm lớn lao cho Hà
Nội để tận dụng nó như một bằng chứng về những “âm mưu đen tối của đế quốc” mà
họ vẫn thường rêu rao trong nhiều năm.
Phần cuối: Tự do
Tháng 11 năm 1971, Bắc Việt chuyển chúng tôi từ trại trừng
phạt “Skid Row” về lại trại giam chung “Thống Nhất” trong phạm vi Hỏa Lò. Từ đó
về sau thì hầu như chúng tôi bị nhốt chung với những người khác, kể cả những
người được đưa vào sau, cũng khoảng 40 tù binh. Tháng 5 năm 1972, khi Mỹ bắt đầu
oanh tạc mạnh sau khi Tổng Thống Nixon ra lịnh ném bom Bắc Việt và thả mìn các
cảng, họ chuyển hầu như tất cả các sĩ quan cấp nhỏ lên trại “Dogpatch”- Trại
Chó Vá gần biên giới Trung Cộng, chừa lại các sĩ quan cao cấp và nhóm chúng
tôi. Tôi nghĩ rằng họ sợ Hà Nội sẽ bị đánh bom và nếu nhốt chung tất cả chúng
tôi cùng một trại thì chỉ một quả bom rơi trúng cũng có thể xóa sổ tất cả. Vào
thời điểm này, đám “gook” rất cộc cằn, hung dữ. Chúng từng kéo một tù binh ra
khỏi phòng chúng tôi và đánh anh ta một trận bán sống bán chết vì anh đã làm lá
cờ Mỹ trên lưng áo một tù binh khác. Anh là một thanh niên tốt, có tên là Mike
Christian. Chúng thoi anh túi bụi ngay ngoài cửa phòng giam chúng tôi, sau đó cứ
kéo lê vài feet lại đánh anh tàn nhẫn hết cả vòng quanh sân trại. Anh bị bể một
bên màng nhĩ và gãy xương sườn. Nó là một bài học dằn mặt tất cả chúng tôi.
Cuối cùng đến cái ngày mà tôi sẽ không bao giờ quên được là
ngày 18 tháng 12 năm 1972. Khắp nơi rền tiếng bom theo lịnh ném bom dịp Giáng
Sinh của Tổng Thống Nixon. Hà Nội bị đánh bom tức thời. Từ khung cửa sổ phòng
giam nhìn ra trời, đó là cảnh tượng ngoạn mục nhất tôi đã từng chứng kiến và tất
nhiên, nhìn rõ những ánh chớp trong đêm. Bom thả rất gần làm rung chuyển cả tòa
nhà. Hỏa tiễn SAM đất-đối-không đan chéo bầu trời giữa tiếng còi hụ báo động
inh tai quả thực là một cảnh tượng dữ dội. Khi một chiếc B-52 trúng đạn, ở độ
cao hơn 30,000 feet, nó nổ sáng rực cả bầu trời, rồi ánh đỏ như ban ngày khá
lâu vì rơi xuống từ trên không rất cao. Vào thời điểm đó chúng tôi biết là
chúng tôi sẽ không bao giờ được trả tự do trừ khi chính phủ có hành động gì đó
rất quyết liệt. Chúng tôi bị giam ba năm rưỡi trời mà không có vụ ném bom nào xảy
ra nên nhận thức khá rõ cách duy nhất để chúng tôi được thả là chính phủ phải mạnh
tay với Hà Nội. Vì vậy chúng tôi rất vui mừng, hò reo cổ vũ. Đám “gook” thì
không thích điều đó chút nào, nhưng chúng tôi cóc để ý. Với chúng tôi thì rõ
ràng là đàm phán sẽ không giải quyết được vấn đề. Lý do duy nhất tại sao Bắc Việt
bắt đầu chịu đàm phán vào tháng 10 năm 1972 bởi vì họ cũng có thể đọc được các
thăm dò và biết rằng Nixon sẽ chiến thắng áp đảo trong việc tái tranh cử nên họ
muốn đàm phán Hiệp định đình chiến trước bầu cử.
Tôi ngưỡng mộ sự dũng lược của Tổng Thống Nixon. Có thể có
chỉ trích ông trong vài điều, như vụ Watergate chẳng hạn. Nhưng ông phải đưa ra
những quyết định không được ủng hộ lắm mà tôi có thể tưởng tượng như thả mìn,
phong tỏa, ném bom. Tôi biết làm điều đó rất, rất là khó khăn cho ông nhưng đó
là điều để kết thúc chiến tranh. Tôi nghĩ lý do ông hiểu điều này vì ông có
kinh nghiệm đối phó với cộng sản. Ông biết sử dụng chiến thuật cây gậy và củ cà
rốt. Chuyến công du của ông tới Trung Cộng và khi ký Hiệp ước Giới hạn Vũ khí
Chiến lược với Nga được dựa trên thực tế là chúng ta mạnh hơn Cộng sản nên họ mới
đàm phán. Họ chỉ hiểu khi dùng vũ lực. Và đó là lý do tại sao bây giờ tôi vẫn
còn khó hiểu là trong khi mọi người đều biết rằng việc ném bom cuối cùng đã dẫn
đến thỏa thuận ngừng bắn, thì tại sao mọi người vẫn chỉ trích chính sách đối
ngoại của ông? Sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968, Bắc Việt lên mặt hẳn. Họ biết
Tổng Thống Johnson sẽ ngừng thả bom trước cuộc bầu cử 1968. Tháng Năm 1968, hai
tướng Bắc Việt thẩm vấn tôi trong hai lần riêng biệt thì cả hai đều nói hầu như
giống nhau từng chữ rằng: “Sau khi chúng tôi giải phóng miền Nam thì sẽ sang giải
phóng Campuchia. Sau Campuchia sẽ đến Lào và sau Lào, chúng tôi sẽ giải phóng
sang Thái Lan, Malaysia, Miến Điện. Chúng tôi sẽ giải phóng hết cả khu vực Đông
Nam Á”. Họ làm tôi chẳng còn nghi ngờ gì nữa về âm mưu của họ không chỉ riêng với
Nam Việt Nam. Một số người cười cợt bác bỏ “lý thuyết domino” nhưng Bắc Việt
tin vào nó, chưa bao giờ chối bỏ nó. Hồ Chí Minh đã phát biểu nhiều, rất nhiều
lần rằng, “Chúng ta tự hào ở tuyến đầu trong cuộc đấu tranh vũ trang giữa phe
Xã hội Chủ nghĩa và bọn đế quốc Mỹ xâm lược”. Nó hiện hình không còn là cuộc đấu
tranh dân tộc, đấu tranh giành độc lập cho miền Nam Việt Nam mà mang đúng nghĩa
những gì ông ta đã nói. Đó là tất cả những gì chủ nghĩa cộng sản nhắm tới: một
cuộc đấu tranh vũ trang để lật đổ các nước Tư bản Chủ nghĩa. Tôi đọc nhiều sách
lịch sử của họ. Họ đưa chúng tôi khá các loại sách tuyên truyền. Tại thời điểm
sau Tết Mậu Thân này, Bắc Việt nghĩ rằng họ đã thắng cuộc chiến. Họ nghĩ họ làm
tướng Westmoreland mất chức. Họ tin rằng họ làm đắm cơ hội để Johnson tái đắc cử.
Và họ nghĩ rằng đa số người dân Mỹ đứng về phía họ. Đó là lý do tại sao họ oang
oang tham vọng của mình quá sớm vì đánh giá sai bản lĩnh của Tổng Thống Nixon.
Quay trở lại vụ đánh bom Tháng 12 thì thoạt đầu, Bắc Việt có
lẽ có rất nhiều hỏa tiễn SAM trong tay nhưng ngày càng thấy bắn ít dần, có
nghĩa họ đã xài gần hết. Ngoài ra, trong vài ngày đầu tiên thì B-52 thả bom chủ
yếu ngay quanh Hà Nội, sau đó trải ra xa thành phố thì theo tôi nghĩ, ta đã phá
hủy được tất cả các mục tiêu quân sự trong Hà Nội. Tôi không biết số lượng phi
hành đoàn B-52 bị bắn rơi bởi vì họ chỉ đưa các phi công bị thương vào trại của
chúng tôi. Thái độ của các phi công chúng ta rất tốt. Tôi hỏi một phi công trẻ
khóa West Point 70 rằng “Anh nghĩ sao khi nhận lịnh ném bom Hà Nội?”. Anh trả lời,
“Tinh thần chúng tôi tăng vọt”. Tôi cũng nghe có một phi công B-52 khước từ nhiệm
vụ trong vụ đánh bom Giáng sinh. Bạn luôn gặp chuyện kiểu đó, gặp những người
khi khó khăn thì họ bị lương tâm cắn rứt. Tôi muốn nói điều này với bất cứ ai
trong quân đội rằng, nếu anh không biết quốc gia mình đang làm cái gì thì nên
tìm hiểu chúng và nếu thấy mình không thích điều quốc gia mình đang làm thì hãy
đứng ngoài trước khi mọi chuyện được quyết định.
Một khi trở thành một tù binh chiến tranh, anh không có quyền
bất đồng chính kiến, bởi vì những gì anh làm sẽ tổn hại đến quốc gia của
mình. Anh không còn nói với tư cách cá nhân, mà nói như một quân nhân của quân
đội Hoa Kỳ và mang trách nhiệm trung thành với Tổng Tư Lệnh chứ không phải với
lương tâm của mình. Vài bạn tù của tôi đã không làm vậy nhưng chỉ là một thiểu
số rất nhỏ. Tôi tự hỏi họ có nên bị truy tố không và thấy chẳng dễ dàng để trả
lời chút nào. Nó có thể phá hủy hình ảnh đẹp của phần lớn chúng tôi mang về từ
địa ngục đó. Hãy nhớ rằng, một số kẻ thay lòng đổi dạ sau chiến tranh Triều
Tiên đã làm phần lớn dân Mỹ nghĩ rằng hầu hết các tù binh trong cuộc chiến này
cũng là những kẻ phản bội. Nếu họ có bị xét xử thì không phải vì lập trường chống
chiến tranh của họ, mà vì họ đã hợp tác với Bắc Việt đến mức độ gây nguy hại
cho các tù binh khác. Và có điều này cần xem xét: Hoa Kỳ sẽ có những cuộc chiến
tranh khác để chiến đấu cho đến khi Cộng Sản từ bỏ chủ thuyết bạo lực lật đổ
chúng ta, những người này phải chịu sự lên án để sẽ không gây tiền lệ cho thái
độ làm tổn hại quốc gia trong những cuộc chiến tương lai .
Vào cuối Tháng Giêng năm nay (1973), chúng tôi biết việc kết
thúc chiến tranh đã đến gần. Tôi bị chuyển đến “Đồn Điền” và được cho ở chung
theo nhóm được phân loại theo thời gian bị bắn hạ. Họ đã chuẩn bị sẵn sàng để
trả tù binh theo nhóm. Đó là ngày 20 Tháng Giêng. Kể từ đó, mọi chuyện trở nên
dễ chịu, họ chẳng sách nhiễu chúng tôi nữa. Nhưng theo kiểu của họ thì chúng
tôi vẫn bị ăn uống kham khổ trong khoảng hai tuần, chỉ đêm trước khi được trao
trả mới được ăn một bữa no nê ngon lành. Có một điều rất thú vị là sau khi tôi
trở về, Henry Kissinger có kể với tôi rằng khi ông ở Hà Nội để ký thỏa thuận cuối
cùng, Bắc Việt có đề nghị cho phép ông ta có thể mang một người cùng theo về
Washington và đó là tôi. Tất nhiên là ông từ chối và tôi đã cảm ơn ông về điều
đó rất nhiều, vì tôi không muốn là biệt lệ. Hầu hết mọi người đều cá cược rằng
tôi là người cuối cùng được thả, nhưng bạn không bao giờ có thể hiểu được bọn
“gook”.
Không có nghi lễ đặc biệt gì khi chúng tôi rời trại. Ủy ban
kiểm soát Quốc tế đến và chúng tôi được phép nhìn quanh trại lần cuối. Có rất
nhiều phóng viên ảnh, nhưng chẳng có gì trịnh trọng. Chúng tôi lên xe buýt và
được đưa ra sân bay Gia Lâm. Người bạn cũ của tôi là “Thỏ” đã ở đó. Hắn đứng
phía trước và bảo chúng tôi: “Khi nghe tôi đọc tên, các anh lên máy bay và về
nhà”. Đó là ngày 15 tháng 3. Cho đến tận lúc đó, tôi cũng không cho phép bản
thân mình có nhiều hơn một cảm giác hy vọng đầy thận trọng. Chúng tôi đã mừng hụt
rất nhiều lần trước đó đến độ tôi quyết định rằng mình sẽ không được phấn khích
cho đến khi nào bắt tay được với một người Mỹ mang quân phục. Điều đó đã xảy ra
tại Gia Lâm và tôi biết nó đã kết thúc thật sự. Tôi chẳng thể nào diễn tả được
cảm xúc của mình khi đi về chiếc phi cơ Không Quân Hoa Kỳ.
Bây giờ khi về nhà, tôi thấy có rất nhiều cuộc tranh cãi về
quốc gia chúng ta. Tôi không đồng ý lắm. Tôi nghĩ nước Mỹ ngày nay là một quốc
gia tốt đẹp hơn so với khi tôi rời nó sáu năm trước. Bắc Việt cung cấp cho
chúng tôi rất ít tin tức, ngoại trừ các tin xấu về Hoa Kỳ. Chúng tôi không biết
cuộc đổ bộ thành công lên mặt trăng đầu tiên năm 1969 cho đến khi nó được đề cập
trong bài phát biểu của George McGovern rằng, Nixon có thể đưa con người lên mặt
trăng nhưng ông không thể kết thúc chiến tranh Việt Nam. Họ dội lên chúng tôi
những tin tức về cái chết của Martin Luther King và các cuộc bạo loạn sau đó.
Thông tin như vậy cứ liên tục nhả ra khỏi loa. Tôi nghĩ Hoa Kỳ bây giờ là một
quốc gia tốt đẹp hơn vì chúng tôi đã trải qua một quá trình thanh lọc, tái thẩm
định chính mình. Tôi thấy một tinh thần tri ân về đời sống của chúng ta nhiều
hơn, thấy tinh thần ái quốc cao hơn và nhìn thấy Quốc kỳ tung bay khắp mọi nơi.
Tôi nghe thấy những giá trị mới đang được nhấn mạnh, như mối quan tâm về môi
trường chẳng hạn.
Tôi nhận được rất nhiều thư từ các bạn trẻ và nhiều người đã
gửi tặng tôi những chiếc vòng đeo tay POW có tên tôi mà họ đã mang. Một số
không biết gì nhiều về cuộc chiến, nhưng họ có lòng ái quốc mạnh mẽ, các giá trị
của họ đều tốt đẹp và tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ nhìn thấy họ sẽ lớn lên thành
những người Mỹ tốt hơn nhiều người trong chúng ta. Những tình cảm tuôn tràn này
làm những người tù binh chiến tranh chúng tôi choáng ngợp và có chút ngượng
ngùng bởi vì trên căn bản, chúng tôi cảm thấy rằng chúng tôi chỉ là người lính
Hải Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Không Quân bình thường. Bất cứ ai khác ở vị
trí của chúng tôi cũng làm vậy. Dự tính tương lai của tôi là vẫn tiếp tục phục
vụ trong Hải Quân nếu tôi còn có thể bay được. Điều đó phụ thuộc vào sự thành
công của các phẫu thuật chỉnh hình cho cánh tay và chân tôi. Nếu tôi phải rời Hải
Quân, tôi hy vọng sẽ phục vụ cho chính phủ trong khả năng của mình, tốt nhất
trong ban đối ngoại của Bộ Ngoại Giao. Tôi đã có rất nhiều thời gian để suy
nghĩ trong tù và nghiệm ra rằng, một trong những điều quan trọng nhất trong cuộc
đời mỗi người là, bên cạnh gia đình, hãy đóng góp gì đó cho đất nước của mình.
John McCain
Đinh Yên Thảo
chuyển ngữ
