Lê Duẩn ví năm 1975 như là bắt đầu một kỷ nguyên mới, kỷ
nguyên cả nước “tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Nếu
gọi thời điểm 1975 là Sản Lịch năm thứ nhất trên phạm vi cả nước chắc không sai
lắm. Bắc Hàn cũng có lịch riêng gọi là Juche Lịch lấy ngày sinh của Kim Nhật
Thành, 1912, làm năm thứ nhất. Dù nhân loại đang ở giữa năm 2018, Bắc Hàn chỉ mới
là năm thứ 107.
Gần hai ngàn năm trước, cũng năm thứ 43 nhưng sau công
nguyên trong lịch sử Việt Nam, cũng là một năm đầy chịu đựng vì trong giai đoạn
lịch sử này nhà Đông Hán Trung Hoa chủ trương Hán hóa Giao Chỉ.
Thử xem hai âm mưu Hán hóa giống và khác nhau sao.
Đồng hóa dân tộc là tiến trình cưỡng chế để thay đổi bản sắc
của một dân tộc bị trị sang dân tộc cai trị.
Theo Hậu Hán Thư “Thái thú Giao Chỉ là Tô Định đã dùng luật
pháp trói buộc nên [Bà Trưng] Trắc tức giận làm phản”. Pháp không chỉ là luật lệ
mà pháp chế, tổ chức hành chánh, chính trị, kinh tế, văn hóa, phong tục. Nói
chung đó là chính sách đồng hóa. (Gs Trần Gia Phụng, Những Câu Chuyện Việt Sử,
Tập 3, nxb Non Nước, Toronto 2002).
Cũng theo Hậu Hán Thư “Xưa ở thời Bình đế, người Hán Trung
là Tích Quang làm thái thú Giao Chỉ dạy dỗ dân Di dần dần hóa theo lễ nghĩa.”
Không phải chỉ hà khắc, chính chủ trương đồng hóa của nhà Tây Hán là lý do sâu
xa cho cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. (Ts Lê Mạnh Hùng, Nhìn lại Sử Việt từ
tiền sử đến tự chủ, nxb Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2011).
Năm 40, Trưng Trắc, người huyện Mê Linh cùng em là Trưng Nhị đánh đuổi Thái thú
Tô Định chạy về Trung Hoa. Bà là người đầu tiên gióng lên sức mạnh của quyền tự
chủ của một dân tộc khát khao có được chủ quyền độc lập từ Trung Hoa đông hơn
và mạnh hơn nhiều.
Năm 41, nhà Đông Hán sai danh tướng Mã Viện, tước Phục Ba Tướng
Quân đưa quân tiến đánh Mê Linh. Sau trận Lãng Bạc, hai bà quân ít thế cô đã bị
đánh bại.
Năm 43, theo Hậu Hán thư, hai bà bị Mã Viện chém và gởi đầu
về Lạc Dương. Theo Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca thời Tự Đức, hai bà đã gieo mình xuống
sông tự vẫn. Dù hy sinh như thế nào cũng đều chứng tỏ hai bà đã chiến đấu tới
hơi thở cuối cùng và là hai phụ nữ đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã anh dũng
chống ngoại xâm, giành độc lập và xưng vương.
Năm 43 Sản lịch tức 2018 Dương lịch, Việt Nam lần nữa đối diện
với âm mưu đồng hóa của Hán Cộng. Khác với thời Đông Hán, chính sách đồng hóa của
Hán Cộng lần này thâm độc hơn nhiều.
Về đối ngoại, các chính sách của CSVN không được tách rời khỏi
toàn bộ chiến lược an ninh châu Á của Trung Cộng. Để che mắt dư luận quốc tế và
dịu lòng công phẫn của nhân dân, Trung Cộng làm ngơ nếu CSVN chỉ giới hạn trong
việc bày tỏ “mối quan ngại” hay tiếp đón nguyên thủ các quốc gia nhưng tuyệt đối
không được có một hành động nào đi ngược hay vượt qua giới hạn của tổng thể chiến
lược của Trung Cộng.
Về hóa văn hóa xã hội thể hiện qua báo cáo của Hồng Tiểu
Dũng, đại sứ Tàu Cộng tại CSVN trong bài viết đăng trên Nhân Dân Nhật Báo Trung
Cộng nhân chuyến viếng thăm của Tập Cận Bình năm 2015 được dịch sang Việt ngữ.
Theo đó Hồng Tiểu Dũng khoe khoang “tứ đại danh tác cổ điển của Trung Quốc được
lưu truyền rộng rãi ở Việt Nam. Hình tượng Tôn Ngộ Không trong Tây Du Ký được sự
đón nhận nồng nhiệt của nhi đồng Việt Nam …Rất nhiều thanh niên Việt Nam thuộc
làu ca khúc “Ánh trăng nói hộ lòng tôi” và nhiều bài hát tiếng Hoa khác … Trên
thực tế, trong quan hệ đối ngoại của Trung Quốc, những quốc gia có nhiều yếu tố
tương đồng với Trung Quốc giống như Việt Nam không nhiều. Hai nước có vận mệnh
chung mang ý nghĩa chiến lược.” (Đại sứ TQ: “Nhiều thanh niên Việt Nam thuộc
làu các bài hát TQ”, Soha.vn, 05/11/2015)
Không giống các lãnh vực chính trị, quân sự, xâm thực văn
hóa như Hồng Tiểu Dũng tường trình là một tiến trình nhỏ giọt và thấm dần vào
thói quen, thị hiếu, đam mê của con người.
Thật khó biết một cách chính xác ngân sách Trung Cộng dành
cho xâm thực văn hóa, nhưng theo Giáo sư David Shambaugh thuộc đại học George
Washington University trong một nghiên cứu dành cho Hội Đồng Về Quan Hệ Ngoại
Giao (Council On Foreign Relations) tại Mỹ ước đoán Trung Cộng dành khoảng 10 tỉ
đô la mỗi năm cho mục đích tuyên truyền quốc tế. (David Shambaugh, China’s Big
Bet on Soft Power, Council On Foreign Relations, February 9, 2018)
Nguyễn Phú Trọng ngày nay chính là Tô Định ngày xưa.
Những gì đang xảy ra tại Việt Nam cho thấy kẻ đầy tớ trung
thành này đang thực hiện một cách nghiêm túc và hoàn hảo các chính sách do Tập
đưa ra trong moi lãnh vực, kể cả bịt miệng, trấn áp, tù đày đồng bào mình.
Trong quan hệ quốc tế, những cái bắt tay thật chặt, những nụ
cười rạng rỡ, những lời xã giao, chúc tụng, những tuyên bố với nội dung ngọt
ngào cũng chỉ là ngôn ngữ ngoại giao. Chỉ có hiệp ước, hiệp định được ký kết ở
cấp lãnh đạo cao nhất quốc gia mới đáng kể.
Nhìn lại các chính sách của CSVN trong vòng mười năm nóng bỏng
của thế giới vừa qua, Nguyễn Phú Trọng đã làm gì, một điểm thôi, để gọi là bảo
vệ được chủ quyền lãnh thổ Việt Nam?
Những người Việt quan tâm hãy vào google đánh hai chữ “Phú
Lâm” để thấy trên hòn đảo thân yêu của tổ tiên Việt Nam để lại nay đã có phi
trường quân sự Trung Cộng với phi đạo dài 3.000 mét, các tàu chiến, giàn phóng
hỏa tiễn và cũng là bản doanh của bộ chỉ huy quân sự Trung Cộng tại Hoàng Sa.
Không cần phải đợi một trăm năm hay một ngàn năm nữa mà ngay
hôm nay những tên tuổi địa danh vô cùng thân thiết, đẹp như thơ và cách Đà Nẵng
chỉ 170 hải lý như Nguyệt Thiềm, Duy Mộng, Tri Tôn, Bãi Ngự Bình, Quang Hòa,
Tri Tôn v.v.. xa xôi tưởng chừng như cổ tích.
Về phương tiện và kỹ thuật chiến tranh, điều kiện quốc phòng
của CSVN ngày nay không hơn gì Việt Nam thời Tự Đức khi liên quân Pháp-Tây Ban
Nha đánh thành Đà Nẵng lần thứ nhất năm 1858.
Những lạc hậu kỹ thuật ngày đó, dù sao cũng phát xuất từ các
lý do khách quan. Nhận thức của triều đình nhà Nguyễn không vượt qua khỏi bốn bức
tường thành bao bọc bởi tứ thư ngũ kinh. Các ngài không đi đâu, không học cái
hay cái mới nên không có tầm nhìn xa, nhìn rộng. Ngày nay khác, các giới cầm
quyền và gia đình của các chóp bu CSVN ăn ở, học hành, du lịch và ngay cả chữa
bịnh ở Mỹ, ở Pháp nhưng nhận thức vẫn đui mù.
Thời Tự Đức, Việt Nam chỉ có một Nguyễn Trường Tộ sau khi du
học ở Pháp trở về đã hiến dâng trí tuệ để bảo vệ đất nước qua 58 bản điều trần.
Thời CS, có hàng ngàn, hàng vạn người có dịp du học khắp nơi trên thế giới
nhưng ngoài việc trở về làm phên giậu che chở cho tội ác, gần như không ai có một
cống hiến nào đáng kể để thay đổi và đưa đất nước hội nhập vào dòng tiến của
văn minh thời đại.
Giống như tình trạng chạy đua của các nước châu Âu trước thế
chiến thứ nhất, nguyên thủ các quốc gia Á Châu hiện đang như thoi đưa để liên
minh với các khối, tạo các tuyến phòng thủ, liên kết với các láng giềng cùng vị
trí chiến lược thì CSVN bị chiếc vòng kim cô “Ba không” siết chặt trên đầu và
ngồi im như pho tượng.
Dưới thời TT Donald Trump chính sách của Mỹ tại Thái Bình
Dương không chỉ năng động hơn mà còn mở rộng hơn cho cả Thái Bình Dương và Ấn Độ
Dương (Indo-Pacific strategy) như một phương pháp đối ứng với tham vọng Một
Vòng Đai Một Con Đường của Tập Cận Bình. Chính sách của Mỹ có lợi cho các quốc
gia nhỏ đang tranh chấp chủ quyền với Trung Cộng, nhưng từng cơ hội đến và đi,
giới cầm quyền CSVN uống phải “quyền lực não thần đan” của Tập nên im lặng và
im lặng.
Việt Nam hiện nay vẫn còn đang giữ một vị trí chiến lược
quan trọng tại Biển Đông nhưng nếu không vận dụng các điều kiện quốc tế, một
khi tranh chấp mở rộng và mâu thuẫn trở nên quá sâu sắc, các tình trạng đang hiện
hữu (status quo) thay đổi, Việt Nam có thể không còn quan trọng nữa vì bị các
liên minh và cường quốc xem như đã nằm hẳn trong vòng đai an ninh sinh tồn của
Trung Cộng.
Dân tộc Việt Nam thật bất hạnh. Trong cuộc Chiến tranh Lạnh
trước, đâu cũng lạnh chỉ Việt Nam là nóng. Cuộc Chiến tranh Lạnh lần này cũng
không khác, cả vùng Ấn Độ – Thái Bình Dương đều lạnh ngoại trừ Việt Nam sắp bị
ném vào chảo dầu Đại Hán mà có thể quốc tế chẳng quan tâm.
Cố linh mục Trần Cao Tường đã viết về tinh thần và giá trị lịch
sử cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng: “Ðể gầy dựng tinh thần, người Do Thái đã
làm lễ nghi tuyên thệ tại Bức Tường Khóc, tại đồi Massada nơi cha ông họ đã tử
thủ và thà chết tập thể chứ không chịu đầu hàng. Chỉ khi biết cùng khóc với
nhau, cùng nhục với nhau, người dân một nước mới thực quyết tâm nắm tay nhau mà
cùng cố ngóc đầu lên. Mong rằng một ngày nào đó người dân Việt cũng sẽ biến Ðền
Hát Môn thành nơi tuyên thệ như vậy mà phục sinh hồn Việt thay vì những phóng
chiếu mặc cảm khác.” (Trần Trung Đạo, Linh mục Trần Cao Tường từ đồi Massada đến
bờ sông Hát, vietcatholic.com, 23-11-2010)
Cuối cùng, như lời nhà văn hóa Trần Cao Tường để lại, chỉ
còn dân tộc Việt Nam và sẽ không còn ai khác sống thay hay chết thế cho mình. Vậy,
hãy “cùng khóc với nhau, cùng nhục với nhau” nhưng cũng đừng quên “cùng nắm tay
nhau” để cố ngóc đầu lên.
Trần Trung Đạo
