Cách nay lâu lắm vào cái thuở trời đất còn hoang sơ, con người
còn mông muội thì ở khúc sông Bồn chỗ khoét lõm vào chân núi dưới dãy Trường
Sơn bỗng xuất hiện một con thuỷ quái vô cùng tinh khôn và tàn ác là con rắn hai
đầu.
Chưa ai có thể mô tả đầy đủ hình dạng con thuỷ quái này ra
sao bởi vì nó luôn trầm mình dưới nước khi ló lên khúc đầu, khi khúc đuôi, khi
khúc giữa. Những cái vảy của nó cứng, dày và lấp lánh như bạc bao bọc lấy cái
thân láng lẫy to như cột đình. Dễ sợ nhất là hai cái đầu của nó. Chỉ cần nó hả
miệng ra là một người can đảm nhất cũng đủ chết ngất vì cái mồm ấy trông như
cái miệng hang hun hút, tối thui và sặc sụa mùi tanh tưởi. Tuy có hai đầu nhưng
con rắn này chỉ nhai nuốt bằng cái miệng của một đầu, còn cái miệng của đầu kia
thì có ngậm một viên ngọc quí nên không bao giờ mở ra. Đó là viên ngọc có một
không hai trên đời. Chỉ cần thảy viên ngọc vào đống lửa đang cháy phừng phừng
thì tự nhiên lửa tắt ngúm như chưa hề cháy bao giờ.
Con quái thú này thường mai phục dưới những lớp rong dày dưới
đáy sông, chờ thuyền bè đi ngang thì chồm lên đánh đắm và xơi tái những người
trên thuyền. Sau này không thuyền bè nào dám đi qua khúc sông ấy nữa thì nó ăn
thịt những người câu cá hay những người đi hái củi lượm cành khô men bờ nước. Kết
quả là khúc sông Bồn thơ mộng ngày nào nay trở thành một nơi không người lai
vãng và những đống xương trắng hếu cứ mọc lên càng lúc càng nhiều hai bên bờ
sông. Con sông Bồn hiền lành được đổi tên thành sông Cấm, chỗ sông khoét lõm
vào chân núi thành cái hồ tuyệt đẹp chốn trần gian thì được gọi là hồ Cấm, dãy
núi nơi ấy là núi Cấm và khu rừng ấy là rừng Cấm. Nhà vua cho dán cáo thị khắp
nơi hứa gả công chúa Như Hương và trao ngôi phò mã cho người nào giết được con
rắn hai đầu ấy. Biết bao thanh niên trai tráng đã hăng hái ra đi nhưng chẳng thấy
ai trở về. Con rắn hai đầu vẫn mặc tình thao túng, giết hại dân lành, gây ra
bao cảnh chia lìa tang tóc mà không biết còn kéo dài tới bao giờ.
Ngày kia một toán quân của triều đình áp giải những tù nhân
ra chân núi gần khu rừng Cấm để lấy đá đem về xây cất thành quách cung điện cho
nhà vua. Trên đường đi những tù nhân này đã nghe được câu chuyện về con rắn hai
đầu. Một người tử tội tên là Trọng Quỳnh đã bước đến nói với viên quan coi tù:
"Thưa đại quan. Tôi đã mang trọng án, trước sau gì cũng chết dưới lưỡi đao
của triều đình. Nhưng tôi thấy chết như vậy thật uổng mạng. Chi bằng đại quan
cho tôi đi vào hồ Cấm để giết con rắn hai đầu. Hy vọng sống sót của tôi sẽ rất
nhỏ nhoi nhưng biết đâu nếu giết được con rắn ấy thì tôi cũng được đoái công
chuộc tội." Một bạn tù của Trọng Quỳnh là Từ Huy nghe vậy cũng đến dõng dạc
nói: "Xin đại quan cho tôi đi theo anh ấy, sống cùng sống, chết cùng chết."
Viên quan coi tù hỏi: "Hai ngươi đã suy nghĩ kỹ chưa?" Hai người cùng
đáp: "Thưa đã. Chúng tôi đã quyết lòng, không có gì ân hận."
Viên quan coi tù nghe hai người nói có lý nên trình lời thỉnh
nguyện của họ với quan trên rồi quan trên nữa. Cuối cùng hai người tù này được
giải tới khu rừng Cấm với lời dặn dò: "Nếu hai ngươi bỏ mạng vì con rắn đó
thì thôi không có gì nói nữa. Nếu đem đầu nó về thì vinh quang quyền quí tha hồ
hưởng. Còn nhược bằng hai ngươi toan tính bỏ trốn thì binh lính triều đình đã
bao vây khu vực này rồi. Một con kiến cũng không thoát nổi đâu." Trọng Quỳnh
và Từ Huy cúi đầu lạy tạ. Mỗi người nhận một thanh kiếm, một lưỡi đao xong nai
nịch gọn gàng thẳng bước vào rừng Cấm để đến hồ Cấm là sào huyệt của con rắn
hai đầu.
Vì đây là khu rừng hoang không ai dám đến nên dây leo chằng
chịt cỏ lau mọc cao hơn đầu đầy muỗi mòng rắn rít. Đi được một đỗi chợt hai người
nhìn thấy một túp lều tả tơi xiêu vẹo, gió lùa trống phộc bốn bên. Trong lều là
một ông lão gầy gò khẳng khiu đang nướng mấy củ khoai bên bếp lửa. Thấy người lạ
ông lão có vẻ hốt hoảng: "Hai anh là ai? Có biết rằng đi vào đây là đi vào
chỗ chết không?" Trọng Quỳnh và Từ Huy kể cho ông lão nghe câu chuyện của
mình. Ông già trầm ngâm bảo: "Lão là người tiều phu duy nhất còn sống sót ở
đây. Chắc vì con ác thú ấy chê lão không còn bao nhiêu thịt nên nó không muốn ăn.
Con trai và con dâu của lão đã bị nó sát hại rồi. Lão chỉ còn đứa cháu nội đem
gởi ở nhờ nhà người ta ngoài chợ. Lão nguyện nếu có ai giết được con rắn hai đầu
thì lão sẽ cho đứa cháu duy nhất còn lại của mình đi theo người ấy để hầu hạ trọn
đời."
Ông lão vừa nói vừa lôi những mảnh vải vụn rách nát từ dưới
chiếc gối nằm của mình nghẹn ngào kể:"Đây là những gì còn sót lại từ con
trai và con dâu của lão mà lão nhặt được trên bờ sau khi bị con rắn ấy ăn tươi
nuốt sống. Còn đây là bức họa cháu nội của lão." Ông già lôi ra trong cái ống
tre một mảnh vải trên có vẽ hình một cô gái dung nhan như trăng rằm nhưng đôi mắt
buồn mênh mông như ngấn lệ. Ông đưa bàn tay nhăn nheo vuốt lên mặt vải
nói:" Cháu của lão tên là Liễu Nga. Nó cũng nguyện sẽ đem thân trọn đời báo
đáp cho người nào trả thù được cho cha mẹ nó." Trọng Quỳnh và Từ Huy nắm
chặt tay người tiều phu: "Ông yên tâm. Chúng tôi sẽ rửa mối thù này cho
gia đình ông."
Ông lão quệt nước mắt ra nhóm bếp nấu một bữa cơm với canh
măng và thịt gà rừng để tiễn đưa hai người trai trẻ. Ông nhường cơm cho họ ăn,
nhường canh cho họ húp. Ông nghĩ: "Biết có còn gặp lại nhau không."
Trong ánh lửa chập chờn của ngọn đèn thắp bằng sáp ông kín đáo quan sát hai người
này. Trọng Quỳnh ăn to nói lớn, chân mày rậm, mắt sáng quắc, cằm bạnh ra, tướng
mạo này có thể hùng mà cũng có thể gian. Từ Huy trông nhỏ thó hơn nhưng mặt
xanh, môi mỏng, da tái nhợt cũng chưa biết là người thế nào. "Nhân vô thập
toàn- ông nghĩ. Không biết con Liễu Nga của mình sẽ có duyên nợ với ai".
Ăn xong Quỳnh và Huy dục ông lão đi nghỉ còn hai người thì ngồi cặm cụi làm những
cái cọc dài và nhọn giống như loại đặt dưới hầm chông để bẫy thú. Sương lam phủ
trắng núi rừng. Gió lồng lộn trên ngọn cây rít lên từng hồi như ma cười quỉ hú.
Họ tưởng tượng đến cái con thuỷ quái đang náu mình dưới đáy hồ kia. Có lẽ nó
cũng đang ngủ và đang thở ra những đám bọt khí nổi từng giề trên mặt nước. Trọng
Quỳnh ngồi nhổm dậy nói vào tai bạn: "Mình phải làm thế này...thế này...thế
này nhé..."
Tờ mờ sáng hôm sau khi gà vừa gáy tiếng đầu tiên thì hai người
đã thức dậy. Họ mặc quần áo thật sát, dùng dây thừng bó quanh người những cọc
nhọn tua tủa cao hơn đầu, hai tay là thanh kiếm và lưỡi đao bén ngót, sau lưng
còn lận thêm một cây dao găm. Ông lão dặn: "Hai anh cứ đi thẳng con đường
mòn này là ra tới bờ nước. Có chiếc thuyền độc mộc tôi buộc sẵn ở đó. Hai anh cứ
lấy mà chèo đi." Hai người khẽ gật đầu. Họ vẹt cành cây mà đi trên con đường
còn ướt đẫm sương đêm, thú rừng còn ngái ngủ và mặt trời dường như vẫn còn lim
dim trong mộng. Đang đi bỗng Từ Huy níu lấy một cành cây , chân khựng lại, mặt
xanh lét. Trọng Quỳnh gắt: "Cái gì vậy? Bộ sợ không dám đi nữa hay
sao?" Từ Huy nói: "Tôi nghe trong gió có mùi tanh." Trọng Quỳnh
bảo: "Quay về thì cũng chết dưới đao kiếm của triều đình mà còn bị sỉ nhục.
Đi tiếp biết đâu hy vọng sống còn." Vừa nói anh ta vừa lôi bạn đi. Hai đầu
gối Huy run bần bật. Không bao lâu mặt hồ bao la, phẳng phiu và êm đềm đã hiện
ra, gợn những vòng sóng nhấp nhô vỗ về chiếc thuyền con bằng gỗ có buộc sợi thừng
vào gốc cây tùng chơ vơ bên mé nước.
Hai người tháo sợi thừng và bắt đầu chèo ra giữa hồ. Hơi nước
bốc lên trắng xoá, chỗ dày chỗ mỏng, nhìn ra mênh mông như biển. Chiếc thuyền
chẳng khác nào một chiếc lá cỏn con tội nghiệp, trôi trôi trên cái biển chết mà
vách núi trước mặt, khu rừng sau lưng và cả bầu trời bao bọc bên trên hoàn toàn
bất lực với những hiểm nguy mà nó đang đương đầu. Chợt cái cây chèo của Trọng
Quỳnh dường như vướng phải cái gì không rút lên được và con thuyền cũng đứng chựng
không nhúc nhích. Trọng Quỳnh nhìn xuống nước. Anh thấy mái chèo bị vướng vào
những đám rong rất cao và dày mọc đặc kín dưới đáy hồ trông như những cánh tay
lông lá đang đưa lên chực chờ kéo ghịt anh xuống. Anh cố rút cây chèo lên nhưng
rút không được. Anh chồm ra ngoài thuyền. Chiếc thuyền chòng chành nghiêng ngửa.
Từ Huy kêu lớn:" Coi chừng anh Quỳnh ơi." Quỳnh chưa kịp phản ứng gì
thì một cây nước khổng lồ với cái thân tròn láng lẫy từ đáy hồ phóng vụt lên rồi
đổ ập xuống chiếc thuyền con mỏng mảnh. Chiếc thuyền lật úp ngay lập tức còn
hai người trên ấy bị quăng lên dìm xuống giữa những bức tường nước. Trước mắt họ
là một cái mồm ngoác ra, đen ngòm, hôi tanh như xác chết với cái lưỡi nhám như
bàn chải thè ra lúc lắc ngoe nguấy. Quỳnh vung kiếm chém vào cái lưỡi. Thoắt một
cái con rắn nuốt Quỳnh vào bụng nhưng không nuốt được vì những cái cọc nhọn làm
nó mắc nghẹn, nó khạc ra không được nuốt vào cũng không xong. Quỳnh cứ nằm
trong vòm họng của nó mà đâm mà chém. Những thứ nhớt nhao từ miệng con rắn tiết
ra làm Quỳnh gần ngộp thở vì ghê tởm. Con rắn giãy giụa kinh hồn. Trận hỗn chiến
khiến cả vùng hồ sùng sục đỏ ngầu vừa máu người vừa máu rắn cho tới khi lưỡi kiếm
của Quỳnh đâm rách da cổ nó, cắt đứt cuống họng nó thì con rắn mới bắt đầu gục
xuống. Quỳnh chui ra khỏi cái mồm của nó, thấy được bầu trời thì mới hay cái đầu
thứ hai đã bị cắt trên cổ máu còn ròng ròng nhưng không nhìn thấy Huy đâu. Quỳnh
kêu lớn:" Huy ơi...Huy...". Vách núi dội lại lời Quỳnh:" Huy
ơi...Huy...". Không gian im bặt hoang vắng đến rợn người. Quỳnh bì bõm
trên nước với cái xác rắn đầu óc hoang mang nghĩ rằng chắc Huy đã chết rồi. Tay
chân và cả người Quỳnh bắt đầu lạnh và tê dần. Quỳnh gắng gượng gom hết sức lực
cắt cái đầu rắn còn lại rồi một tay nắm cái đầu ấy một tay bơi cho tới khi chân
chạm bờ thì ngất xỉu vì mệt và cũng vì quá nhiều thương tích.
Trong cơn mê Quỳnh thấy hồn con rắn với cặp mắt đỏ ngầu hiện
ra nói:
- Khá khen cho nhà ngươi. Coi như bước đầu như thế là thành
công. Bây giờ hãy tính tới những bước kế tiếp. Một là ngươi đem hai cái đầu ta
về kinh và nhận ngôi phò mã. Hai là ở lại đây làm cháu rể lão tiều phu nghèo kiết
xác. Hãy hành động thế nào để không trễ muộn và không phí cái công của ngươi đã
bỏ ra trong trận kịch chiến vừa rồi...
Con rắn nói xong bao nhiêu đó thì biến mất.
Trọng Quỳnh giật mình tỉnh dậy tâm trí bàng hoàng, chao đảo
. Đến lúc này Quỳnh mới hay là Huy cũng đã bơi được vào bờ nhưng bị thương rất
nặng đang nằm úp mặt mê man bất tỉnh trên cát. Cạnh đó là cái đầu rắn thứ hai bỏ
lăn lóc đang nghếch hàm răng trắng nhởn ra cười một cách thô bỉ. Quỳnh bước tới
gần thấy Huy còn thoi thóp nhưng máu tươm ra đỏ lòm, cổ, ngực và bụng bị những
vết thương sâu hoắm, miệng ngậm đầy cát và rong tảo. Những lời nói của con rắn
trong giấc mộng còn văng vẳng bên tai. Quỳnh mím môi nhìn Huy một lần nữa.
Không thể chậm trễ được - Quỳnh tự nhủ. Nếu Huy chết - bởi những vết thương như
thế này mà không chết là chuyện lạ- thì hẳn là quá tốt nhưng nếu hắn không chết
thì mình phải ra tay ngay không thể chần chờ thêm một phút nào nữa. Nhanh như cắt
Quỳnh cởi cái áo đang mặc, nhặt hai cái đầu rắn gói vào đó rồi xách đi chạy chấp
chới dưới rặng phi lao, xuyên qua những tảng đá vôi, đạp trên gai góc đá, sỏi,
bất chấp vết thương đang nhức nhối, bất chấp tất cả, hướng về phía bìa rừng, hướng
về cái ngôi vị vương quyền đang lơ lửng trước mặt hắn.
Khi Từ Huy tỉnh dậy thì thấy mình đang nằm trên cái vạt tre
thấp, đầu kê trên cái gối rơm rất êm, có tấm chăn mỏng đắp ngang ngực, khung cảnh
quen thuộc. Chàng nhìn thấy một mái tóc dài mềm mại rũ xuống vai chàng và một
đôi mắt nhìn chàng lo lắng cùng với giọng nói như reo lên:
- Ôi chàng... Chàng đã tỉnh rồi à?
Từ Huy cố gắng lắm mới bật ra được mấy tiếng thều thào:
- Nàng... Nàng là ai?
Thiếu nữ đáp:
- Thiếp là Liễu Nga, cháu nội người tiều phu mà chàng đã gặp.
Chàng đánh nhau với con rắn bị thương nặng nằm mê man đã ba ngày rồi. Ông Nội
em và em đã tìm thấy chàng dưới gốc cây tùng, cả người bê bết máu. Nhờ ơn trên
che chở chàng đã thoát chết rồi đó. Chàng cố gắng nghỉ ngơi cho thật khoẻ nhé.
Con rắn ấy đã chết rồi, mình không còn lo lắng gì cả.
Từ Huy cố nhướn đôi mắt nặng nhọc của chàng lên hỏi:
- Anh Quỳnh đâu? Còn sống hay chết?
Liễu Nga đáp:
- Anh Quỳnh đem hai cái đầu rắn theo binh lính của triều
đình về kinh rồi.
Hai hàng mi của Huy khép lại. Quỳnh đã đi rồi à? Liễu Nga
dùng một cái khăn thấm nước lau mặt mũi và tay chân cho chàng. Một cảm giác mát
rượi và dễ chịu lan toả khắp thân thể. Từ Huy tỉnh táo dần. Những diễn biến của
trận ác chiến ngày hôm ấy lần lượt hiện ra trong trí Huy theo thứ tự. Huy nhớ
là mình đã quăng được cái vòng dây thòng lọng vào cổ con rắn-cái cổ trơn trợt nối
với một cái đầu gớm ghiếc- giữa muôn ngàn ngọn sóng đang lồng lên dữ tợn như bầy
ngựa chứng. Con rắn chống trả quyết liệt nhưng càng vùng vẫy bao nhiêu thì sợi
dây càng xiết chặt bấy nhiêu. Nó lấy đuôi đập mạnh vào người Huy. Huy trèo lên
cổ nó mà xiết. Hai mắt nó lồi ra như hai cái lục lạc. Và vì nghẹt thở nên nó phải
há miệng ra. Huy nhìn thấy viên ngọc trong miệng nó nhưng không thể nào thò tay
vào giữa hai hàm răng lởm chởm của nó để lấy ra được. Viên ngọc to bằng khoảng
cái trứng cút chiếu ra hàng ngàn tia sáng lộng lẫy, chói chang như mặt trời làm
Huy lóa mắt và chính ở cái phút thập tử nhất sinh ấy Huy thấy con rắn quay lại
nhìn mình bằng cái nhìn vừa giễu cợt vừa khinh bỉ trước khi khạc ra cái báu vật
có một không hai trên đời ấy. Huy nhoài người ra chụp nhưng đã quá muộn. Viên
ngọc lướt chạm vào bàn tay Huy rồi rơi tỏm xuống nước, chìm lỉm dưới đáy hồ và
biến mất đâu đó giữa những đám rong rêu chằng chịt. Huy điên tiết chém tới tấp
vào con rắn cho tới khi nó gục hẳn thì Huy cắt đầu nó bơi vào bờ. Tới được gốc
cây tùng thì Huy khuỵu xuống, ngã lăn ra và không còn biết gì nữa.
Tiếng nói của Liễu Nga cắt ngang dòng hồi tưởng của Huy:
- Chàng ngồi dậy ăn cháo.
Huy mở mắt ra nhìn. Khuôn mặt của Liễu Nga nghiêng xuống bên
chàng, đẹp vời vợi như một mảnh trăng vàng lấp lánh trong đêm. Huy ngồi lên đỡ
chén cháo từ tay nàng. Mùi cháo thơm ngây ngất. Những sợi khói bàng bạc âu yếm
vờn quanh ôm ấp khuôn mặt nàng, mái tóc nàng, đôi hàng mi nặng trĩu ân tình của
nàng. Rồi Liễu Nga đỡ chàng đứng lên, dìu chàng xuống giường, đỡ chàng đi từng
bước nho nhỏ ra thềm nhà. Trong vòng tay của nàng Huy thấy trời hình như xanh
hơn, gió hình như mát hơn, và hình như tiếng một cái lá rụng cũng khiến hồn
chàng xao xuyến hồi hộp. Liễu Nga nói:
- Chàng. Chàng đừng suy nghĩ gì nữa. Chàng đã báo thù được
cho cha mẹ của thiếp thì từ nay thiếp thuộc về chàng.
Nói xong nàng nhoẻn miệng cười. Từ Huy thấy hai má mình nóng
bừng như có một ngọn lửa vừa nhen lên trong trái tim thanh xuân của chàng. Tình
yêu của Liễu Nga làm những vết thương của Huy mau lành lại. Chàng như quên mất
Trọng Quỳnh, quên con rắn, quên viên ngọc đang nằm đâu đó dưới đáy hồ. Chàng ôm
Liễu Nga vào lòng và nghĩ rằng đây mới là báu vật thật sự của đời chàng, quí
giá gấp vạn lần viên ngọc chết tiệt mà chàng nguyện sẽ yêu thương gìn giữ trọn
đời.
Trong khi Từ Huy và Liễu Nga say sưa trong hạnh phúc thì nắng
ấm ngày xưa cũng tìm về bên dòng sông Bồn thơ mộng thuở nào. Tin con rắn chết
lan truyền đi rất nhanh. Những người dân ngày xưa lánh nạn ra đi nay tìm về chốn
cũ, dựng lại nhà, phát hoang rừng rậm, cuốc đất làm rẫy, làm nương, mở mang ruộng
vườn. Những đống xương trắnh hếu ngày nào không còn nữa. Thay vào đó là những
mái tranh, mái ngói, người với người ra sức cùng nhau tạo dựng lại từ những
hoang tàn đổ nát khi xưa. Không còn tiếng cú kêu trong đêm vắng. Không còn tiếng
khóc, tiếng sụt sùi nức nở bi ai. Thay vào đó là tiếng ca, tiếng hát, tiếng bi
bô của các em thơ rộn ràng đầu trên xóm dưới. Từ Huy cũng làm rẫy, trồng rau,
nuôi gà, còn vợ chàng - Liễu Nga - thì dệt vải quay tơ. Những đêm có trăng hai
vợ chồng cùng nhau ra hàng hiên đón ngọn gió trong lành, lắng nghe tiếng dòng
sông chảy rì rào bất tận và tưởng rằng hạnh phúc của đời mình có lẽ không bao
giờ có thể bị một trở lực nào làm đoạn lìa chia cắt cho được.
Vào một đêm giữa mùa trăng trời bỗng dưng oi bức lạ. Liễu
Nga đang dệt vải bỗng bị thoi đâm vào tay. Nàng kêu lên một tiếng, rịt tay vào
vạt áo. Từ Huy nhìn gương mặt hơi xanh của nàng bảo:
-Nàng vào phòng nghỉ sớm đi, đừng thức khuya dệt vải nữa.
Coi chừng bệnh. Ta ra hàng hiên trải chiếu nằm cho mát
Liễu Nga vâng lời. Huy đem chiếc chiếu và cây quạt lá ra sân
nằm phe phẩy. Mồ hôi rịn ra ngứa ngáy khó chịu. Huy có cảm giác rất bồn chồn,
khó tả nhưng cố nhắm mắt dỗ giấc ngủ. Được một lát Huy thiếp đi hồi nào chẳng
rõ. Trong giấc mơ chàng nhìn thấy con rắn hai đầu hiện về với hai mắt lồi ra
như hai cái lục lạc giống y cái hồi Huy xiết cổ nó. Nó cất giọng nói rền vang
như tiếng chuông:
- Chào người anh em. Ngươi vẫn khoẻ đấy chứ? Không ngờ công
việc đồng áng làm cho ngươi tàn tạ mau chóng đến như vậy. Da dẻ thì chai sần,
chân tay thì nứt nẻ, mặt mũi đen sạm cùn mằn. Ngươi có nhớ đến Trọng Quỳnh
không? Cái tên bạn cùng chia cơm xẻ áo với ngươi trong tù, cái tên bạn đã bỏ
ngươi lại trong cơn hấp hối để chạy đi hưởng vinh quang phú quí một mình. Ngươi
có biết là hiện giờ hắn đã là phò mã, sống trong bạc vàng nhung lụa, mỗi bước
đi có kẻ hầu người hạ. Còn ngươi, ngươi là ai? Ngươi bất quá chỉ là một gã nông
phu nghèo nàn, quần quật quanh năm , còng lưng kham khổ mà không ai biết đến.
Trọng Quỳnh có bao giờ nghĩ đến ngươi không hay đặt chân về đây xem ngươi còn sống
hay đã chết. Ta thật tiếc là viên ngọc đã vuột khỏi tay ngươi. Nếu không cuộc đời
ngươi đã khác chứ không phải như thế này đâu...
Con rắn nói tới đó thì biến mất.
Từ Huy choàng tỉnh giấc mộng. Mồ hôi tuôn đầm đìa. Chàng đứng
thẳng dậy, hai mắt long lên như người mất trí (hay chính từ giờ phút này Huy đã
bắt đầu mất trí). Chàng giơ nắm đấm về phía trước và lao về phía bờ hồ trong
bóng đêm mịt mùng miệng không ngừng thét lên: "Ta phải tát cạn cái hồ đó.
Ta phải tát cạn cái hồ đó."
Khi một người đã điên loạn vì ganh ghét, tham lam và thù hận
rồi thì có còn nhận ra đâu là lý lẽ trên đời nữa. Như một con thiêu thân chỉ biết
lao vào lửa Từ Huy dựng cái chòi rơm bên bờ hồ và cắm đầu vào việc tát nước để
tìm cho ra viên ngọc. Mặt hồ mênh mông như biển mà mỗi gàu nước có vỏn vẹn bao
nhiêu đâu. Trời ơi... Đi tới đâu cũng nghe người ta rỉ tai nhau: "Thằng ấy
điên rồi." Huy tránh né không muốn tiếp xúc với ai, mặt mũi lầm lì, bỏ ăn
bỏ uống, bỏ ngoài tai tất cả những lời xầm xì, bỏ mặc cả người vợ của chàng
ngày đêm khóc than nài nỉ. Thân xác Huy càng lúc càng tiều tuỵ, ánh mắt chàng
càng lúc càng đờ đẫn như thể cái linh hồn bên trong đã bị ma quỉ khống chế mất
rồi. Quá đau đớn Liễu Nga quì xuống dưới chân chàng khóc lóc:
- Từ lang. Tại sao chàng lại thay đổi đến như thế? Chúng ta
đang sống bên nhau êm đềm hạnh phúc thì tại sao chàng lại bỏ tất cả để đi tìm một
cái mà không giờ chàng có thể tìm được?
- Tại sao nàng nói là ta không tìm được? - Từ Huy thét lên.
Viên ngọc đã rớt xuống đó thì nó phải còn ở đó. Một ngàn năm nữa nó cũng còn ở
đó. Có ai đụng tới nó đâu mà nó xê dịch đi nơi khác.
Liễu Nga kêu lên:
- Nhưng không lẽ chàng nghĩ là chàng có thể tát cạn cái hồ
này hay sao?
Từ Huy giậm chân xuống đất, quăng cái gàu, mặt phừng phừng lửa
giận:
- Nàng nói rằng ta không bao giờ có thể tát cạn cái hồ này
à. Thôi được. Ta không cần tát nữa. Để ta lặn xuống đó mà tìm. Nàng chống mắt
lên mà coi. Cái thằng Trọng Quỳnh khốn kiếp kia cũng chống mắt lên mà coi ta rửa
cái nhục này như thế nào.
Vừa nói Huy vừa chạy ra chỗ buộc thuyền, giựt phăng sợi dây
neo chèo hùng hục ra giữa hồ nơi chàng đã đánh nhau với con rắn rồi nhảy ùm xuống
nước trong cơn điên cuồng không gì kềm chế được. Hỡi ôi... có ai ngờ đâu đó là
cái kết cuộc bi thảm của đời chàng. Chàng bị đám rong quấn chặt không ngoi lên
được nên đã vĩnh viễn không bao giờ trở về nữa. Mặt nước im lìm, khép kín lấy
cái chết của chàng. Ngày xưa cái viên ngọc vô tri vô giác ấy vuột khỏi tay
chàng chỉ do một chút sơ sẩy ngoài ý muốn, còn ngày nay thì chính chàng, chính
những mù quáng nông nổi của chàng mà cả tình yêu, hạnh phúc lẫn sinh mạng đều
vuột khỏi tay chàng và nằm lại dưới đáy cái hồ oan nghiệt ấy.
Còn Trọng Quỳnh?
Lòng tham của Quỳnh bắt đầu nảy sinh sau khi Quỳnh giết được
con rắn và Huy thì đã kề bên cái chết. Rồi từ đó những tham vọng trong con người
Quỳnh chẳng khi nào dừng lại. Chúng tựa như con ngựa đã mất cương, đẩy Quỳnh đi
trên con đường vô định, không còn phân biệt đâu là phải trái nữa.
Lợi dụng ngôi vị phò mã Quỳnh len lỏi vào việc triều chính
và từ từ nắm bắt được những bí mật quốc gia. Quỳnh đem nhũng bí mật này tiết lộ
với giặc, thông đồng với giặc, âm mưu tạo phản lật đổ triều đình. Đến khi giặc
tràn qua cửa ải, chiếm được kinh thành thì việc đầu tiên là chúng cho người thủ
tiêu Quỳnh thay vì đưa Quỳnh lên ngôi hoàng đế như đã hứa. Việc mưu sát không
thành, Quỳnh bỏ chạy, chúng đuổi theo. Mới đầu Quỳnh còn ngồi trên mình ngựa.
Được một đoạn đường con ngựa chạy hết nổi té nhào hất Quỳnh về phía trước. Quỳnh
lồm cồm bò dậy chạy tiếp, chạy mà không biết mình chạy đi đâu, chỉ nghe tiếng
gió ù ù bên tai và tiếng hò reo của giặc đuổi sau lưng. Quỳnh chạy vào rừng,
băng qua những bãi lầy, vách đá, đầm, truông. Tới một lúc tiếng hò reo chấm dứt
Quỳnh dừng lại ôm ngực thở thì thấy mình đứng trước một bờ sông hoang vắng, cảnh
vật giống giống như con sông Bồn thuở nào dưới chân núi.
Trời lúc ấy đã về chiều. Những đám mây rời rạc mang những
tia nắng sau cùng bay lững thững về xa gợi một nỗi buồn hiu hắt. Bốn phía hoang
vu không người, không nhà cửa. Quỳnh không biết mình đang ở đâu, con sông trước
mặt là sông gì, hoàn toàn mất phương hướng. Còn đang ngơ ngác thì từ giữa sông
một cột khói khổng lồ cuồn cuộn bốc lên, rung rinh và thoáng chốc định hình
thành con rắn hai đầu với cái lưỡi dài thụt ra thụt vào và đôi mắt ti hí. Quỳnh
hoảng hốt đứng như trời trồng, chưa biết phải làm gì thì con rắn nhìn Quỳnh và
bắt đầu cất tiếng:
- Chào phò mã. Cuộc hội ngộ này không làm cho ngươi sửng sốt
chứ. Chúng ta là người quen mà, có phải ai xa lạ đâu. Chắc ngươi đang tự hỏi là
ngày ấy ngươi đã cắt được đầu ta và cống nộp cho triều đình rồi thì tại sao bây
giờ lại gặp ta ở đây. Ha ha ha... Ngươi khờ khạo quá ông phò mã à. Làm gì có thể
giết được ta, bởi linh hồn của ta là bất tử, sức mạnh của ta là vĩnh hằng. Cái
chết của ta trong cuộc giao tranh ngày hôm ấy chỉ là một màn kịch do ta sắp đặt.
Ta giết các ngươi làm gì. Ta để cho các ngươi tự huỷ diệt mình bằng lòng tham
lam và sự ngu xuẩn của chính các ngươi. Ngươi hãy nhìn lại chính mình xem. Yên
giáp tả tơi, thân sơ thất sở, rách rưới thê thảm còn tệ hơn cả một gã ăn mày. Bạn
ngươi là Từ Huy thì đã chết. Vợ ngươi là công chúa Như Hương thì đã sa vào tay
giặc. Cả đất nước này oán hận ngươi. Ngươi không còn ai trên đời này cả. Vậy
thì thử hỏi giữa ta với ngươi ai là người chiến thắng?
Quỳnh thét lớn:
- Đồ khốn nạn. Đồ đểu giả. Tao phải tử chiến với mày.
Con rắn phá lên một tràng cười ngạo nghễ. Máu trong người
sôi lên Quỳnh nhào xuống sông với thanh kiếm tuốt trần lăm lăm định chém thì
con rắn rùng mình biến thành cột khói bay vút lên không rồi tan biến giữa trời
mây diệu vợi. Một tiếng chim chợt thảng thốt ré lên rồi nín bặt giữa vô cùng trống
trải. Quỳnh kêu rống lên:" Cứu tôi với. Có ai không? Cứu tôi với."
Không một tiếng trả lời. Có giọt gì mằn mặn lăn trên má Quỳnh, thấm vào môi,
vào lưỡi mà Quỳnh không biết là mồ hôi, nước mắt hay máu nữa. Quỳnh thẫn thờ
buông rơi thanh kiếm, thẫn thờ nhìn hai bờ lau sậy đang sẫm lại dần trong bóng
tối, thẫn thờ trong cái cô tịch của chính mình.
Ôi... Câu chuyện nào rồi cũng đến hồi kết thúc. Những người
trong chuyện đã nằm xuống cả rồi. Còn lại chăng là dòng sông Bồn xanh rì muôn đời
không ngơi nghỉ, là ngọn núi bạc màu bất diệt với thời gian nơi chứng kiến tất
cả những lầm lạc, u mê, sân hận, thống khổ của bao kiếp người. Người ta quên dần
đi con rắn cùng với những chuyện đâm chém, máu me, tranh giành, thủ đoạn nhưng
câu chuyện về viên ngọc rơi xuống đáy hồ thì mãi còn vương vấn trong tâm trí của
nhiều người. Cái hồ ấy được đặt tên là hồ Ngọc, nước trong vắt, long lanh như một
viên ngọc. Nghe nói về sau có người không ngại tốn kém, huy động cả một đội thợ
lặn, sục sạo, quần kiếm cả vùng hồ với bao kỹ thuật tiến bộ mà mãi mãi không
bao giờ tìm ra viên ngọc ấy...
Viết xong ngày 14 tháng 8 năm 2018
Phương Nghi
