Thời đó, tại vùng Triệu Phong tỉnh Quảng Trị, nơi quê nghèo,
đất đai khô cằn, nông dân ăn độn khoai sắn gần như quanh năm, có một mối tình đầu
của đôi trai gái quê mùa, yêu nhau từ khi còn để chỏm, mà không thành. Chàng
tên là Ba, một nông dân học hành dở dang, mới vài ba năm tiểu học, nàng tên Lé,
vừa biết đánh vần chữ quốc ngữ. Vào thời Tây đang cai trị xứ “An Nam” và vua Khải
Định trên ngôi đó, thì có trình độ như đôi thanh niên nam nữ nầy, cũng đã được
xem như là thành phần trí thức ở vùng quê xa xôi rồi.
Nhưng bọ (bọ là bố, theo tiếng địa phương) của nàng, không ưa chàng, vì tiếng
chàng oang oang, và ánh mắt dưới đôi mày rậm, có cái gì gian ác. Cộng thêm cái
tính trăng hoa của chàng, về tiếng đồn đi thả dê khắp các làng lân cận. Một ông
thầy tướng số, có phán một câu về chàng rằng: “Anh nầy không lo tu tỉnh, thì về
sau chọc trời khuấy nước, làm chết hàng vạn hàng triệu người đó.”
Khi chàng nhờ người mai mối, bắn tiếng muốn cưới nàng làm vợ, thì ông bố của
nàng từ chối và nói: “Khi mô thằng Ba làm vua, thì tui mới gả con Lé cho hắn.”
Không biết lời từ chối có tính cách khinh khi, thách thức của bố cô Lé có nung
nấu chàng thanh niên tên Ba suốt một đời tranh đấu, chà đạp lên thiên hạ, bất kể
thủ đoạn nào, để mưu cầu cái danh vị quân vương hay chăng.
Người ta bảo rằng, khi yêu thì thần thánh cũng thành dại khờ. Những mối tình đầu
thường ít khi thành, và lắm lúc làm ray rứt, nhức nhối con tim suốt một đời người.
Nhưng nếu lấy được nhau, thì có khi vợ chồng cũng đánh cận chiến u đầu sứt
trán, chửi rủa nhau thậm tệ. Khi tình yêu không mãn nguyện mà tự ái bị tổn
thương, thì dễ trở thành cay cú, lửa hận nung đốt, và lắm lúc tạo thành những động
lực lạ kỳ, thúc đẩy con người làm những việc không ai lường được.
Bị bố mẹ ngăn cấm, nhưng đôi trai gái vẫn bí mật liên lạc với nhau khi bóng đêm
đồng lõa với các sinh hoạt lén lút. Về sau, chính anh Ba cũng công nhận rằng,
nhờ những đêm hẹn hò vụng trộm, mà có kinh nghiệm nhiều trong sinh hoạt bí mật,
tránh được con mắt dòm ngó của địch. Đôi trai gái hẹn hò nhau, đứng hai bên
hàng rào, nói chuyện, than vãn tỉ tê, nói với nhau lời thương lời nhớ, chứ chưa
dám cầm tay, sờ chân, hay đụng chạm thân thể. Như thế, cũng đã là quá liều, quá
bạo vào thời đó.
Một hôm, chàng Ba đánh bạo chui qua hàng rào, làm cô Lé sợ hết hồn, vừa đi thụt
lùi vừa đưa hai tay ra chống đỡ, nói nho nhỏ: “Đừng eng, đừng làm em sợ. Đừng,
đừng…” Cô Lé vấp đống rơm sau lưng và ngã ngửa ra. Anh Ba nhào xuống, ôm chặt
người yêu và toan hít lên má cô.
Chưa kịp hành động, thì con chó mực nhà cô Lé nhảy chồm lên binh vực chủ, ngoạm
một miếng ngon lành vào mông anh Ba, rồi lồng lộn, sủa ầm lên. Bố cô Lé tưởng
có trộm, cầm gậy từ trong nhà phóng ra. Anh Ba khiếp vía, chui qua bụi hàng rào
mà chạy trốn. Bố cô Lé tiện tay, cầm gậy phang cô túi bụi:
“Đồ đĩ thỏa, đánh cho chết mầy đi, rồi gọt đầu bôi vôi, dẫn đi bêu rếu khắp
làng”
“Con lạy bọ, lạy bọ tha cho con, từ nay không dám nữa…”
“Mi đã ‘ngủ ngáy’ chi chưa?”
“Lạy bọ, con ngủ ngáy mỗi đêm.”
Cô Lé không hiểu chữ ‘ngủ ngáy’ của ông bố, nên trả lời sự thực, là đêm nào cô
cũng có ngủ có ngáy. Ông bố thì tưởng cô thú thật tội lỗi, thất vọng quá, làm
rơi cả cây gậy trên tay, than hai tiếng “Trời ơi” rồi ôm đầu đứng lặng. Cô Lé
đau đớn nằm khóc trên đống rơm khô. Bỗng ông bố cô gầm lên như cọp rống:
“Tao phải giết chết thằng vô lại trước, rồi giết mi sau”.
Ông bố cô xách gậy phóng ra ngõ, đi tìm tên vô lại đã hại đời con gái quý của
ông.
Anh Ba sợ quá, bỏ làng ra đi từ dạo đó. Cô Lé mang bệnh nằm liệt giường hơn hai
tháng mới chống tay dậy nổi. Sáu tháng sau, khi cô bắt đầu có da có thịt lại,
thì được gả chồng. Chồng cô, cũng là một nông dân trong làng, đã yêu trộm cô từ
lâu mà không dám tỏ bày với ai, vì đã có anh Ba cản mũi kỳ đà. Anh nầy và anh
Ba, cũng là chốn bạn bè.
Cô Lé thương chồng, thương con, luôn luôn vuông tròn đạo vợ chồng. Nhưng thỉnh
thoảng, trong mơ, cô thấy hình bóng anh Ba hiện về.
Từ ngày anh Ba bỏ làng ra đi, tin tức về anh rất hiếm hoi. Có người đi xa về, bảo
rằng có thấy anh Ba đứng bẻ ghi đường sắt cho xe lửa. Rồi lâu lắm, có người nói
anh đi đánh xe ngựa, khi khác, có người nghe nói anh đang làm công nhân lao động
cho sở lục lộ. Ba lần anh Ba bị Tây bắt đi tù, cả làng đều biết, và ai cũng sợ,
không dám công khai bàn tán về anh.
Cả ba lần, cô Lé đều khóc với chồng, xin bán một ít lúa, mua đồ tiếp tế cho anh
Ba. Cô tỏ cái tình cảm một cách công khai, vì cô không làm điều chi sai trái cả,
khi nào cũng một lòng với chồng, con. Anh chồng cô hiền lành nói:
“ Phải rồi, hắn hoạn nạn, mình cũng nên giúp hắn.. Vả lại, nhờ hắn bỏ làng đi,
tui mới lấy được mụ. Hắn đi xa, không có ruộng đất cày bừa, làm ăn, thì đói
khát, nên phải làm giặc mà sống.”
Phần anh Ba, trôi dạt theo giòng đời cơm áo, gian truân và hiểm nguy cũng nhiều.
Làm đủ thứ nghề để kiếm sống. Tình ái vụn vặt, lăng nhăng khắp nơi. Nhưng trong
lòng không khi nào quên được cô Lé, mối tình đầu nơi quê hương. Vừa yêu vừa hận.
Có thời anh Ba dùng bạo lực cách mạng, cưỡng hôn được một giai nhân, nguyên là
hoa khôi một trường nữ trung học lớn nhất ở Sài gòn, đem về làm “áp trại phu
nhân”, nhưng hình ảnh cô Lé, vẫn chói ngời đau đớn trong trái tim anh. Anh thề,
phải có ngày gặp lại người xưa. Có ngày gặp lại ông bố khắc nghiệt của cô Lé,
cho ông tiếc, ngày xưa đã chối từ, không gả con gái cho anh.
Mấy chục năm sau, kể từ ngày anh Ba vắt giò lên cổ chạy trốn cơn thịnh nộ của
ông bố cô Lé, anh leo dần lên đến chức vụ tối cao của một nước, được mệnh danh
là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa. Anh trở thành “lãnh tụ vô vàn kính yêu”. Bấy giờ
đã 66 tuổi, có kẻ gọi bằng anh, nhưng nhân dân gọi là ông lãnh tụ. Ông lãnh tụ
không dám để thiên hạ gọi bằng “ông”, vì chức ông cao hơn chức bác. Chức bác để
dành riêng cho kẻ khác mà ông vừa tôn thờ, vừa diễu cợt.
Sau năm 1975, ông lãnh tụ cho người đi khắp nơi dò la, tìm kiếm gia đình bà Lé,
nhưng biệt vô âm tín. Chiến tranh tàn khốc, ác liệt, đã càn qua quê hương Quảng
Trị của ông không biết bao nhiêu lần. Tàn phá, chết chóc, li tán. Không gặp lại
được những người ngày xưa, đã chê bai chối từ ông, để cho họ thấy cái quang
vinh huy hoàng tột đỉnh của ông, thì uổng lắm. Cũng mất đi một phần ý nghĩa của
cuộc đấu tranh trường kỳ gian khổ trong quá khứ của ông. E rằng, vết thương
tình ái đầu đời, ông phải còn phải mang theo mãi cho đến khi xuống đến tuyền
đài chăng.
Hai năm sau ngày hòa bình, người ta mới tìm ra được tung tích bà Lé. Gia đình
bà đã trôi dạt về khu tị nạn Bình Tuy. Ông Ba lãnh tụ tức tốc bỏ cả việc nước,
bay thẳng từ Hà Nội về Sài gòn. Cho người đem xe đến tận nhà, rước bà Lé vào
dinh lãnh tụ. Trong xứ cộng sản, cái gì cũng là bí mật quốc gia. Người đi rước
bà cũng chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra sau đó. Gia đình bà Lé khóc lóc kêu than,
tưởng cách mạng bắt bà đi học tập cải tạo vì mối thù năm xưa của ông lãnh tụ.
Bà Lé ôm theo một bộ áo quần, hai củ khoai lang gói trong giấy báo. Bà cũng lo
lắm, nhưng bà nghĩ rằng, bà chưa làm gì trái pháp luật, thì chắc cũng không đến
nỗi nào. Có ở tù thì sau nầy sẽ được minh oan và về sớm.
Bà Lé được dẫn vào dinh. Trong đời bà, chưa thấy nơi nào sang trọng, nhà cao cửa
rộng như thế nầy. Phòng khách rộng như cái đình làng. Đèn thắp sáng trưng như
ban ngày thật là phí phạm. Bà Lé suy nghĩ lung lắm. Nếu nhà tù mà sang trọng
như thế nầy thì bà cũng xin đi tù cho sướng thân. Ngồi chờ một lúc, thì cửa mở.
Bà Lé thét lên mừng rỡ khi nhận ra ông Ba, người tình năm xưa:
“Eng, có phải eng không? Mấy chục năm rồi, mới chộ lại eng. Eng mần chi ở đây?”
(Anh, có phải anh không? Mấy chục năm rồi, mới thấy lại anh. Anh làm gì nơi
đây?”
Rồi bà khóc hu hu làm ông lãnh tụ cũng cảm động mắt cay xè. Ông ngồi im lặng nhìn
cố nhân, một bà già nhăn nheo, má tóp, tóc búi tó, sún hai răng hàm trên, một
răng hàm dưới, mắt hấp hem, chân đen nứt nẻ, cái quần bạc màu nhăn nhúm. Ông thở
dài nhè nhẹ. Bà Lé lấy tay áo quệt nước mắt và hỏi:
“Nghe nói bi chừ eng mần vua phải không?” (Nghe nói bây giờ anh làm vua phải
không)
“Ừ, thì cũng giống như rứa”.
Bà Lé lên giọng: “Vua, viếc? Vua chi mà ăn mược (mặc) bần hàn rứa. Không có áo
hoàng bào, mà mược áo sơ–mi trắng ngắn tay bỏ ra ngoài quần. Cũng không có hia
mão chi cả, chỉ mang dép nhựa. Thiệt có hơn chi eng (anh) tài xế xe đò?”
Ông Ba lãnh tụ nhìn bà Lé mà cười với ánh mắt tinh nghịch, trả lời: “Tui thuộc
giai cấp công nông, lãnh đạo cách mạng, làm cách mạng. Ăn mặc cách nào cho gần
gũi với nông dân thì cũng tốt thôi”.
“Rứa răng eng không ở trần, mược quần xà lỏn, đi chưn đất cho khỏe, chộ giống
nông dân hơn? Hay là ngoài Bắc thiếu vải, eng không có vải mà may hoàng bào?”
(Thế sao anh không ở trần, mặc quần xà lỏn đi chân đất cho khỏe, thấy giống
nông dân hơn? Hay là ngoài Bắc thiếu vải, anh không có vải mà may hoàng bào?”).
Ông Ba trợn mắt lên mà nói rõ ràng, chắc nịch: “Thiếu gì, cả nước!”
“Tui tin eng. Giưng eng mần cách mạng để mần chi rứa? (Tôi tin anh. Nhưng anh
làm cách mạng để làm gì thế?).
“Mụ ni hỏi chi mà dị chưa tề. Làm cách mạng để đem no ấm, hạnh phúc và công bằng
cho toàn dân, đem thế giới đến đại đồng chứ để làm gì” (“Bà nầy hỏi chi mà kỳ
chưa. Làm cách mạng để đem no ấm, hạnh phúc và công bằng cho toàn dân, đem thế
giới đến đại đồng chứ để làm gì.”)
Bà Lé hừ một tiếng trong cổ họng, và nói: “Ăn toàn khoai, sắn độn, lưng bụng,
mà kêu là no. Mược (mặc) áo quần rách lòi mông lòi lưng, mà kêu là ấm. Đói vẩu
miệng ra, thì hạnh phúc chỗ mô (nào) đây? Công bằng ở chỗ mô (nào), không thấy
mô cả. Thế giới đại đồng là cái khỉ chi, tui không cần mô. Có đem cái đại đồng
của eng ra hấp với cơm, ăn cho đỡ đói được không?”
“Nì, mụ đừng nói giọng mất lập trường, không được đâu. Mụ có nghe đến bạo lực
cách mạng chưa?”
“Chưa!”
“ Nghĩa là nghiền nát bọn chao đảo, bọn mất lấp trường. Diệt, tận diệt hết.”
“Nì, nì eng đừng dọa tui nghe. Dọa ai thì được, chớ tui thì không sợ mô.”
Nét mặt đanh thép dữ dằn của ông Ba lãnh tụ bỗng nhiên dịu xuống bất ngờ. Ông
cười, nụ cười bối rối: “Mấy chục năm rồi mà tính khí mụ vẫn thế, không thay đối
chi cả.”
Đang nói chuyện, thì có một ông hé cửa vào nhìn vào, có vẻ khép nép, cũng nói
giọng Quảng Trị: “Thưa đồng chí bí thư thứ nhất vô vàn kính yêu…”
Ông kia chưa nói hết lời thì vị lãnh tụ khoát tay, ra dấu bảo lui ra ngoài. Cửa
vừa khép, bà Lé quay qua hỏi: “Liền ông mà cũng yêu nhau? Eng trở thành ‘bà
bóng’ khi mô rứa? Khổ chưa!”
“Đừng nói chuyện tào lao. Ông ấy là đại thi sĩ của nước ta đấy. Y là thi sĩ của
nhân dân, không phải là trí thức như bọn văn thi sĩ khác”
“Trí thức là cái chi rứa eng?”
Nghe bà Lé hỏi, ông lãnh tụ nghiêm mặt lại, lộ vẻ giận dữ, nói gằn qua kẽ răng:
“Trí thức là bọn phản động. Cực kỳ phản động. Chúng có chút hiểu biết nên hay
nghi ngờ những điều đảng ta nói. Không tuyệt đối tin tưởng như giai cấp nông
dân, thợ thuyền. Đảng ta đã tận diệt bọn trí thức từ lâu, chà cho nát ngướu. Những
tên còn lại thì co vòi rụt cổ, không dám ho he một tiếng. Bọn đó có hiểu biết,
nhưng ít kẻ có can trường, sợ khó, sợ khổ, sợ đói. Càng khôn ngoan, thì càng biết
suy tính lợi hại, và càng dễ đi đến hèn nhát. Cộng sản khắp nơi trên thế giới,
đều ghét bọn trí thức, vì khó bịp được chúng lắm.”
“Nì eng, không bịp được người ta, rồi ghét bỏ và tận diệt. Mần chi mà thất đức
dữ rứa?”
“Rứa thì mụ chưa hiểu chi về bạo lực cách mạng sao ?”
Ngồi im lặng một lát, bà Lé dịu dàng hỏi:
“Eng mần vua có sướng không?” (Anh làm vua có sướng không?)
Ông Ba thở dài:
“Sướng thì có sướng thật. Nhưng cũng lo lắng lắm. Phải bận rộn, tâm trí căng thẳng,
Tính mưu, lập kế, đối phó với bọn đồng chí bên trong, bọn thù địch bên ngoài.
Sơ hở một chút là chúng giết mình chết không kịp ngáp. Lại thất đức lắm. Giết đồng
chí thân cận, giết hại bạn bè, cả anh em, không từ ai cả. Chết nhiều người quá.
Ba triệu thanh niên miền Bắc, và cả nửa triệu người miền Nam. Đất nước tan
hoang đổ nát. Chỉ có mình tui, gia đình tui là sung sướng, chỉ có một số đảng
viên hưởng phúc, hưởng lợi lộc. Úi chà! Tại sao tôi lại thổ lộ tâm can với mụ
làm chi nhỉ? Gặp lại mụ, tự nhiên tôi mất cả đề cao cảnh giác thường nhật. Bậy
thật.”
Bà Lé an ủi: “Thôi eng đừng buồn. Bác Hồ có nói xây dựng bằng mười ngày xưa.”
Ông lãnh tụ nói như gầm: “Xạo, xạo. Bố láo cả.”
Rồi ông Ba hạ giọng thì thầm: “Mụ phải thề, là đừng nói lại với ai những lời
tôi vứa thổ lộ. Thề đi!”
“Thề, thề cá trê đục vô ống đó. Chuyện có chi quan trọng mà phải thề với thốt
cho mệt. Ngày xưa, eng cũng thề thốt đủ điều rồi bỏ tui mà ra đi. Có thần thánh
mô vật chết eng mô nà!”
Bà Lé dịu dàng nhìn ông Ba, rồi móc trong túi xách ra hai củ khoai luộc bọc
trong giấy báo, đưa cho ông lãnh tụ và nói: “Eng ăn hai cộ (củ) khoai ni đi. Ăn
cho đỡ đói.”
Ông lãnh tụ một tay ôm ngực như dằn cơn đau tim, một tay đưa ra cầm củ khoai mà
nước mắt rưng rưng. Một hồi sau mới thốt được nên lời thì thầm: “Bà làm tui cảm
động muốn khóc. Tui nhớ năm xưa, bí mật về Cồn Tiên diễn thuyết, bị Tây vây bắt,
trốn trong bụi rậm, đói khát gần chết, bà bới cho tui mấy củ khoai. Nhờ vậy mà
còn sống sót đến hôm nay.”
Từ ngày giải phóng, chúng tui là nhân dân, mới ăn vỏ khoai…
Ông lãnh tụ cắn củ khoai, ăn cả vỏ. Bà Lé nhìn và nói: “ Vua mà ăn khoai cả vỏ.
Tội nghiệp chưa tề. Từ ngày giải phóng, chúng tui là nhân dân, mới ăn vỏ khoai,
chớ eng là vua mà cũng…”
Ông Ba cắt ngang, giọng buồn buồn: “Tui ăn cả vỏ khoai để tìm lại cảm giác, đi
về kỷ niệm năm xưa. Cái tình cảm hy sinh của mụ dành cho tui. Cái hồi gian khổ
đó. Và bây chừ, ăn vỏ khoai, để chia xẻ cùng đồng bào ruột thịt hai miền đang
đói. Để cả nước đói, là trách nhiệm của cả đảng, và tui là kẻ đứng đầu. Nhưng
không biết làm chi hơn.”
Bà Lé đưa mắt nhìn quanh dinh thự, thấy trần cao, cột lớn, đèn đóm sáng rực, tường
treo tranh, góc có dựng tượng mỹ thuật, sang trọng. Bà hạ giọng nói thầm với
ông lãnh tụ:
“Ông ở nơi xa hoa, sang trọng như ri, không sợ mai mốt cộng sản nỗi dậy, chúng
nó có treo cổ ông lên không?”
Ông Ba lắc đầu chán nản, nhìn người yêu cũ quê mùa dốt nát bằng con mắt thương
hại. Tự chỉ vào ngực mà nói:
“Tui, tui là cộng sản đây nè. Tui treo cổ tui lên sao?”
"Eng là cộng sản thiệt không? Hèn chi cả nước đói giơ cộng , giơ que ra.”
Ông Ba lãnh tụ nhìn bà Lé với vẻ mặt ngơ ngác. Quắc mắt lên vì giận. Nhưng rồi
một lúc sau ánh mắt dịu xuống. Nét mặt như ôn hòa, cảm động. Ông nói:
“Chỉ có mụ là nói thật. Mấy chục năm nay tui chưa nghe được một câu nói thật
nào. Toàn cả láo với láo mà thôi. Toàn cả những lời xu nịnh, bịp bợm, láo
khoét, lặp lại như vẹt. Tui biết láo mà phải nghe, phải tán đồng, gật gù, khen
tụng. Chung quanh tui, cả trên lẫn dưới, không ai dám nói một câu thật lòng.
Nghĩ một đường, nói một nẻo. Cả đồng chí, bạn bè, vợ chồng, cha con, phải nói dối
nhau, và biết người khác nói dối với mình, biết mình nói dối với kẽ khác. Ai
nói dối nhiều, thì sẽ được thăng tiến mau. Đó là bản chất của cộng sản chúng
tui. Không nói dối, thì đảng tui sẽ sụp đổ tan tành. Sụp ngay. Phần mụ, không
phải đảng viên, cũng không là cán bộ, không là công nhân viên nhà nước, thì hãy
giữ lấy cái chân thật còn lại, để may ra, các thế hệ con cháu sau nầy, khi cộng
sản chúng tui đã tan rã, còn có gì mà noi theo.”
“Eng nói lạ chưa? Tui nghe người ta nói, mấy chục năm ni, cộng sản trên thế giới
chỉ có bành trướng thêm, chứ không thu hẹp lại bao giờ. Làm sao mà sụp được?”
Ông lãnh tụ ôn tồn nói: “Sông còn cạn, núi còn mòn, thì dối trá, láo khoét, bịp
người, có bao giờ tồn tại mãi được. Láo khoét là sợi chỉ hồng xuyên suốt qua đường
lối và tôn chỉ của đảng tui. Chỉ còn mụ, là người để tui có thể nói thật trong
chốc lát, rồi sau đó, tui trở về bản chất của tui.”
Bà Lé nghe mà cảm động. Bà xuống giọng: “Biết rứa, thì răng eng không bỏ đi cho
xong chuyện?”
“Bỏ ngang đi mà được sao. Tui đang có quyền hành tuyệt đối. Bỏ ngang là chết
ngay, chết cả nhà, chết cả toàn bộ phe nhóm. Mụ có biết, tui đã tốn bao tâm cơ,
khó khăn, mưu mẹo, để leo lên địa vị nầy, thì có chết đi mới rời bỏ chức vị
thôi.”
Ông lãnh tụ đưa bàn hai tay xoa mặt, theo kiểu rửa mặt khô, hít một hơi dài,
ông thong thả nói: “khó lắm chứ không dễ đâu. Phải thường trực đề cao cảnh
giác”.
“Răng mà eng hay nghi ngờ dữ rứa?”
Ông lãnh tụ hừ một tiếng và nói rất rõ ràng: “Nghi ngờ là bản chất của chúng
tui. Phải nghi ngờ cả đồng chí, bạn bè, vợ con, cha mẹ. Và phải tự nghi ngờ
chính cả bản thân mình nữa kia mà. Những điều tui nói ra, tui cũng không tin.”
“Trời ơi.. Rứa thì biết tin ai bi chừ?” (Thế thì biết tin ai bây giờ?)
“Không tin ai cả.”
Có một mẩu thịt đang dính trong răng ông lãnh tụ, ông quờ lưỡi nạy hoài mà
không ra. Chợt ông khám phá, hình như có cộng mây lòi ra sau lưng ghế dựa mà bà
Lé đang ngồi. Ông nhìn chăm chăm vào cộng mây. Bà Lé tưởng ông đang chiếu tướng,
nhìn bà say đắm, bà ngượng, xấu hổ, máu dồn lên cái mặt già, làm đỏ hồng. Ông
Ba lãnh tụ đứng dậy, với tay qua phía bà, để bẻ cộng mây làm tăm xỉa răng. Bà
Lé tưởng ông nầy định dỡ trò sàm sở.
Hai tay xua lia lịa: “Thôi đừng, thôi đừng. Trẻn quá eng ơi. Mình tra rồi. Lỡ
ai chộ, trẻn lắm. Cho tui giữ chút, chút … với vong hồn ông dôn tui.” (Thôi đừng,
thôi đừng. Xấu hổ quá anh ơi. Mình già rồi. Lỡ ai thấy, ngượng lắm. Cho tui giữ
chút, chút … với vong hồn ông chồng tôi.)
Ông Ba cứ vói tay qua, làm bà Lé hai tay ôm mặt, nhắm mắt co rút người lại như
thủ thế. Chờ mãi, không thấy bị đụng chạm, bà Lé mở mắt ra, nhìn thấy ông lãnh
tụ Ba đang ngồi xỉa răng trong cái ghế của ông. Và ông nhổ phẹt ra một mẫu thịt
nhỏ, văng nằm trên bàn. Ông lãnh tụ nhìn mơ hồ về phía xa, và nói nho nhỏ: “Tui
hỏi thiệt, mấy chục năm nay, gia đình mụ có được hạnh phúc không?”
Bà Lé gật đầu: “Có. Tui sống hạnh phúc. Ôn dôn (ông chồng) tui cày cuốc chăm chỉ,
có cơm ăn gần như quanh năm. Năm mô mất mùa, lũ lụt, thì ăn độn nhiều tháng
hơn. Chỉ có hồi ‘giải phóng’ xong, là đói hơn cả.”
Ông lãnh tụ thở dài, hình như cái tự ái bị tổn thương của ông chưa lành miệng,
và bị chảy máu lại. Ông nói như giận với bà Lé: “Ông ấy mà còn sống, thì tui
cũng cho đi cải tạo mút mùa lệ thủy, mục xương, không ngày về.”
Bà Lé gào lên khóc: “Ác chi mà ác dữ rứa eng ơi. Hèn chi hồi đó, bọ tui nói eng
có tướng ác, sau ni thế nào cũng làm việc thất đức, nên cấm tui liên lạc với
eng.”
“Ngày trước, bố mụ nói với tui rằng, khi nào mày được làm vua, tao mới gã con
cho. Bây chừ, bố mụ không còn sống, để thấy tui làm vua. Ha ha ha…”
Bà Lé mím môi lại nói: “Khi đó eng cũng lung tung, dòm ngó nọ kia, eng tưởng
tui mù mắt không biết hê răng?” (hay sao). Eng còn dớ (nhớ) mụ Lụa không?
“Mụ Lụa bi chừ ra răng? Lấy ai ? Con cái ra răng?” (Mụ Lụa bây giờ ra sao? Lấy
ai ? Con cái ra sao?)
Bà Lé quắc mắt, có tia ghen tuông giận hờn trong cái nhìn. Nghiến răng mà nói:
“ Mụ nớ lấy ông xạ. Bán buôn giàu có, con cái thành công, hạnh phúc lắm. Eng có
tiếc không? Còn mụ Bông, thì cả gia đình chạy giặc, bị Việt cộng pháo kích chết
trên đại lộ kinh hoàng đó. Eng nghe có sướng không?”
Ông lãnh tụ im lặng, mắt thoáng buồn. Bà Lé bồi thêm: “Tui nghe thiên hạ đồn rằng,
eng đã ép uổng cả chị hoa khôi Gia Long ngày xưa làm vợ bé, bỏ cả mụ vợ nhà
quê. Bây chừ còn tò te với con đào cải lương nữa, phải không? Đào hoa cho lắm
hí.”
“Thôi mà mụ. Dù cho có cả ngàn tiên nga bên mình, tui cũng không hết cái đau vì
bị bọ (bố) của mụ từ chối đuổi đi. Mụ có còn thương tui không?”
“Hứ! Thương cái xương không còn. Tra hết trơn rồi, nói chi chuyện ốt dột. Con
cháu chúng cười cho thúi trốt” (Hứ! Thương cái xương không còn. Già hết cả rồi,
nói chi chuyện xấu hổ. Con cháu chúng cười cho thối đầu).
Ông lãnh tụ đau đớn thở dài. Ông nói thầm cho riêng ông nghe: “Chinh phục được
một mụ nhà quê còn khó hơn chinh phục một đế quốc. Bọn tư sản phản động nói
không sai.”
Vẻ buồn bã hiện rõ trên mặt ông lãnh tụ. Trầm ngâm một lúc, ông dịu dàng hỏi
bà: “Rứa thì thằng con út của mụ bi chừ mần chi?”
“Hắn đang phấn đấu để được vô đoàn, vô đảng. Eng có cách chi giúp hắn không?”
Ông lãnh tụ nhún vai, thở dài, rồi nhìn bà, nói giọng thì thầm, thành thật:
“Thôi, thôi, mụ về nói với hắn đừng có dại mà ăn thêm phân gà nữa!”
Bà Lé tròn mắt ra nhìn, không hiểu ông lãnh tụ muốn nói gì.
Chín năm sau, khi ông lãnh tụ hấp hối, người nhà ghé tai nghe lời trăn trối cuối
cùng của ông, chỉ nghe lời thì thào rất nhỏ “Lé ơi”. Cả nhà không hiểu ông muốn
nói gì. Ông tắt thở và thọ 78 tuổi.
Tràm Cà Mau
