Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam.
Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân.
(Chinh phụ ngâm khúc)
Sáu năm dài thật dài, ngày này qua tháng khác, tôi mong ngóng tin tức của chồng,
biệt mù, không một ai trong tất cả những người đàn bà có chồng đang ở trại tập
trung “cải tạo”, biết được chồng mình sống ra sao, khỏe yếu thế nào – mù tịt. Họa
hoằn, tôi mới nhận được một mảnh giấy, với vài dòng như công thức định sẵn. Bao
giờ cũng là… anh học tập tốt… lao động tốt… Em yên tâm, cách mạng rồi sẽ khoan
hồng cho anh về với gia đình và trở thành người công dân tốt… Tôi thấy thật là
mỉa mai và trơ trẽn, Tôi đang giữ trong túi 4 miếng giấy. Cũng chỉ có bấy nhiêu
chữ, đến nỗi con trai út của tôi, cháu mới biết đọc mà cũng thuộc lòng tất cả
thư bố gởi về.
Tôi thu xếp hàng, đem gởi nhà người quen, để về sớm hơn thường
lệ. Trong nỗi khốn cùng, tôi gặp được điều may – Chị Liệu, vợ anh Lượng, họ là
bạn của gia đình tôi. Anh chị Lượng trước ngày 30 tháng 4, 1975, có tiệm buôn
bán xe gắn máy, xe đạp và phụ tùng, thuộc loại lớn ở Ngã Bảy, ngay đầu đường
Minh Mạng. Từ lúc 9 giờ sáng ngày 30 tháng 4, 1975, anh Lượng cũng là quân
nhân, chạy ra bến Bạch Ðằng và biệt tích đến bây giờ. Thoát hay chết, chưa ai
biết.
Chị Liệu cũng là bạn học của tôi. Chị ở lại với 6 đứa con,
tiếp tục bán đồ xe đạp, nhưng chỉ có phụ tùng xe đạp thôi vì kho hàng bị niêm
phong. Liệu thương tình đã gọi tôi lên nhà chị ta, nhường lại cho một số phụ
tùng để bán lẻ nơi lề đường, Hai chị em, mỗi buổi sáng trải chiếc poncho của chồng
để lại, bày phụ tùng lên đó. Trời cũng còn thương kẻ khốn cùng, nên những chú Bắc
Kỳ vào Saigon vẫn thích tìm mua, nhờ vậy mẹ con tôi vẫn còn có được ngày hai bữa
cơm, chưa đến nỗi bị đói.
Tôi về sớm vì con gái tôi lên chỗ bán hàng cho tôi hay. “Mẹ,
có thư của bố, kèm theo phiếu thăm nuôi. Bố dặn cách đi thăm, mẹ về coi thì mới
biết được...”
Sáu năm xa xách, tuy chẳng được nhìn mặt một giây, nhưng dù
vài chữ tôi cũng thấy ấm lòng, nhìn nét chữ của anh, tôi hình dung ra khuôn mặt
yêu dấu của chồng, nhất là lúc nghe thằng con út đọc oang oang thư bố, tôi cũng
vui được đôi chút và cầu xin ơn trên che chở cho chồng, cho đồng đội của anh sống
sót trở về. Lần này thì đúng là thư vì được viết dài hơn một trang giấy. Tuy
không được kể lể tâm tình, thương nhớ. Bù lại, anh đã hướng dẫn tôi phải làm gì
để được chấp thuận cho đi thăm.
Việc đầu tiên là tôi phải mang thư, giấy thăm nuôi của trại
cải tạo gởi về, kèm theo hộ khẩu, đến phường để được xác nhận là tất cả những
thứ mang theo là đúng, tình trạng cư trú của gia đình đúng, là vợ chính thức của
anh ấy. Phường chứng thực xong, viết cho mấy chữ giới thiệu lên quận, để được
chấp thuận cấp giấy đi đường, cho phép đến trại cải tạo thăm chồng, đang ở đó.
Tôi lên tới quận, lại được thêm một lần may mắn, trong lúc ngồi chờ duyệt xét
giấy tờ, tôi gặp được các chị cũng đi xin phép đi thăm nuôi chồng, hỏi ra thì
được biết, các chị ấy là vợ anh Tâm (KQ), vợ anh Bình (BÐQ), chị Ðỗ Văn Nhĩ
(SÐ18BB) và cô Tuyết, đi thăm hai người anh ruột, anh Lê Hằng Nghi, cùng trại
Lam Sơn, Thanh Hóa, sau đó Tuyết đi tiếp ra trại Ba Sao thăm anh hai là Tướng
Lê Minh Ðảo. Chúng tôi thấy cảm thương dành cho Tuyết, lặn lội, cơ cực đi thăm
hai người anh cùng ở trong tù cộng sản, cùng cảnh ngộ, nên chúng tôi thân nhau
nhanh chóng và hẹn nhau mua vé xe lửa để được đi cùng chuyến, cùng toa xe, để
nương dựa nhau, hàn huyên, hy vọng quên những vất vả dọc đường.
Có giấy phép cho đi Thanh Hóa thăm nuôi chồng rồi, tôi bắt đầu
lo tiền để để mua sắm thức ăn, chẳng còn gì ngoài mấy lon gạo, vài ký khoai mì
hợp tác xã bán theo hộ khẩu.. Vật dụng trong nhà thì chỉ còn cái tủ lạnh biết
bán cho ai bây giờ? Nhìn quanh, tôi đang trơ trọi một mình, gia đình chồng thì
chưa liên lạc được, suy nghĩ đau cả óc, cuối cùng, tôi phải cầu cứu mẹ:
“Mợ ơi! tuần sau con đi thăm chồng ở Thanh Hóa, con chỉ còn
đúng 30 đồng và mấy lon gạo, phải làm gì bây giờ hả mợ!”
Mẹ tôi im lặng, suy nghĩ giây lát rồi nói:
“Con xem có còn cái gì bán được thì bán đi, mợ sẽ nói các em
mày, chúng nó phụ cho mỗi đứa một chút. Cố gắng đi con ạ!
Bố tôi nghe được, ông thở dài, quyết định thật nhanh:
“Ðừng lo, cậu còn cái máy chụp hình Canon, bây giờ cũng chẳng
cần đến nữa, cậu cho con, đem lên nhờ cô Liệu quen biết nhiều, bán giúp, lấy tiền
mà thăm nó.”
Tủi thân thế đấy! Lấy chồng làm quan, bao nhiêu năm giờ đây
lại phải dựa trong vòng tay cha mẹ để nương nhờ. Bán chiếc máy ảnh, tôi bán
luôn chiếc nhẫn cưới một chỉ vàng đang đeo trên tay. Tạm đủ để mua vé xe lửa và
it đồ khô, theo ấn định cho phép của “cách mạng.” Các em tôi, được mẹ hô hào,
đã xúm nhau mỗi đứa cho it đồ khô và chút tiền.
Tôi tưởng tượng thật nhiều về chuyến đi tìm chồng lần đầu,
bao nhiêu ngày đêm mỏi mòn thương nhớ, lo âu và cả hận thù, oán ghét kẻ đã giam
cầm chồng mình. Tôi suy đoán, gặp nhau chắc anh mừng lắm. Tôi được sờ lên mặt,
cầm tay chồng, dù chỉ chốc lát, cũng đã cho tôi nhiều an ủi và yên tâm tần tảo
nuôi con chờ ngày anh về. Ðã 6 năm, cả hai chúng tôi đang bắt đầu vào tuổi già.
Chúng tôi cùng ngoài bốn mươi.
Ðúng 5 giờ sáng Chủ Nhật, tôi và thằng con thứ ba, sau hai
chị nó, mang đồ đạc lên ga xe lửa, đồ thăm nuôi cũng chỉ có trong hai cái giỏ đệm
(bao bì cói) và một túi nhỏ đựng vật dụng riêng của hai mẹ con, cháu đeo sau
lưng. Tới ga, tôi gặp đủ những chị đã gặp ở quận lúc đi xin giấy, ngoài ra cũng
còn có các chị đi thăm chồng nhưng khác trại như Thanh Cẩm, Thanh Lâm, Kỳ Anh
(Nghệ Tĩnh), v.v…
Có lẽ đây là lần đầu, nên số người đi ra Bắc thăm chồng khá
đông. Chúng tôi không đủ tiền mua vé tầu suốt, nghĩa là tầu không ngừng các ga
nhỏ, chạy thẳng từ Saigon. Chúng tôi mua vé tầu chợ, thời gian sẽ kéo dài hơn
vì tầu ngưng nhiều ga, để khách buôn lên xuống. Chúng tôi chen chúc nhau lên tầu,
quả thực là vất vả. Trong toa kẻ nằm người ngồi ngổn ngang, đủ các loại hàng,
thú vật như gà vịt, còn có cả hai chú heo con cũng được bỏ rọ mang đi. Mùi phân
thú, mùi mắm, mùi người, nồng nặc cả toa, mỗi lần bị đụng chạm hay xô lấn, gà,vịt
kêu oang oác, hai con heo con cũng phụ họa eng éc. Tù thuở bé, tôi chưa được đi
xe lửa lần nào, nay là lần đầu, cảm thấy hơi khó chịu nhưng tự an ủi: “Có chỗ
cho mình đi là may rồi.”
Vợ anh Nhĩ thật nhanh nhẹn và mau mắn, chị vượt lên trước,
loay hoay cách nào mà chị đã kiếm được một chỗ trong góc toa. Chị gọi chúng tôi
mang đồ để chung một nơi, dễ canh chừng. Chị Nhĩ dặn: “Chị em mình có ngủ thì
chia làm hai một nửa thức giữ đồ, lơ đễnh chúng nó lấy mất.” Tiếp theo chị ghé
tai từng người nói nhỏ: “Nếu có tiền hay vàng thì giữ kỹ, coi chừng bị cắt túi,
mấy thằng móc túi lẹ và ma mãnh lắm.”
Chúng tôi cố thu xếp cho nhau để mỗi người có một chỗ ngồi,
lúc ngủ thì dựa người trên mấy cái giỏ đồ hoặc tự gục trên hai gối của mình,
nhưng có lẽ không ai ngủ được đúng nghĩa, mà chỉ thiếp đi trong cơn mệt, phần
háo hức muốn gặp chồng, phần lo lắng nên chỉ chập chờn theo tiếng bánh sắt nghiến
trên đường ray. Con trai tôi thì quên cả chật chội, chẳng quan tâm đến mùi hôi
trên tầu, cháu chen ra chỗ hai toa nối nhau, có chỗ cho người đứng, cháu đứng
giữa hai người đàn ông được an toàn và dõi mắt nhìn say mê cảnh vật dọc đường,
lúc đã mỏi mệt, cháu mới trở vào với mẹ, thật tội nghiệp, nó sợ tôi đói mệt nên
nhắc chừng: “Mẹ ăn gì chưa, mẹ có khát nước không? Con lấy cho mẹ nhé.”
Hành trình từ ga Hòa Hưng Saigon đến ga Thanh Hóa vừa đúng
ba ngày, ba đêm. Tầu vào ga Thanh Hóa lúc 9 giờ sáng. Chúng tôi vội vàng phụ
nhau khiêng vác đồ thăm nuôi xuống, đặt cạnh đường ray. Tất cả đều ngơ ngác, chốn
lạ xứ người. Chúng tôi lấy thư của chồng ra coi lại những chỉ dẫn trên đó.
Chúng tôi đi về cuối ga, gặp hai người tù hình sự và một công an có súng, đã đợi
sẵn. Một trong hai anh tù hỏi “Các chị có phải nà người đi thăm các anh đang
trong trại Lăm Nam Sơn (5 Lam Sơn) không?” Chúng tôi trả lời đúng, lúc đó người
công an mới lên tiếng:
“Bọn tôi đợi ở đây để giúp các chị chở tiếp phẩm vào trại.
Hai thằng này sẽ đánh xe trâu dến để các chị xếp đồ lên, chỉ chở đồ đạc thôi
nhé, người đi bộ theo sau. Ðường khá xa và còn phải qua phà nữa đấy. Ðể tranh
thủ, bây giờ là 10 giờ, đúng 10 giờ 30 ta sẽ về trại. Các chị vào trong lều gần
xe trâu nghỉ đi.”
Khoảng đường từ Thanh Hóa vào đến trại 5 Lam Sơn, thăm thẳm,
qua đồng, qua ruộng đến núi, lại rừng. Nàng chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm, má
hồng truân chuyên như thế nào, chỉ đọc, chỉ nghe mà không thấy. Bây giờ, chúng
tôi, những người vợ lính VNCH đi lên núi, vào rừng tìm chồng, có lẽ cơ khổ và
truân chuyên hơn vợ chàng hào kiệt của Chinh Phụ Ngâm Khúc gấp mấy lần. Dọc đường
đi, ai cũng phải ngồi xuống xoa bóp chân mình nhiều lần, chị Nhĩ khóc mếu máo
“Cha mẹ ơi! Sao lúc nhỏ không tập cho con đi bộ, để bây giờ cực quá thế này”…
Cũng may là chúng tôi ai cũng đi giầy vải (bata). Nếu đi giầy khác thì chết chắc.
Ai cũng lặc lè, sắp quỵ, duy có con trai tôi vì tuổi nhỏ, mong chóng được gặp bố
và được đi xa lần đầu, lạ cảnh, hơn nữa thỉnh thoảng cháu liều lĩnh đu lên sau
xe trâu ngồi đỡ vài phút, cũng không bị quở trách, nhờ đó cháu có vẻ chưa cảm
thấy bị đau chân và thấm mệt..
Cố gắng cách mấy, chúng tôi cũng không thể nào đến trại Lam
Sơn kịp trong ngày, đường đi còn khá xa, có lẽ cũng cả chục cây số; mặt trời đã
tụt sau dãy núi phía Tây. Hàng cây hai bên đường bắt đầu nhòa bóng, thỉnh thoảng
chúng tôi mới gặp hai ba người đi thồ hàng, đạp xe vội vã vượt qua chúng tôi hoặc
ngược đường ra Thanh Hóa.
Chúng tôi cố sức đi thêm được chừng hai cây số, đến một khu
phố buôn bán, có ngôi chợ nhỏ đã họp xong buổi sáng. Người công an áp tải cho lệnh
hai tài xế xe trâu dừng lại nghỉ, nếu có đi tiếp cũng sẽ không kịp. Họ chỉ cho
chúng tôi khu nhà trọ, dặn dò: “Các chị thuê chỗ ngủ trọ, sáng mai tập trung tại
quán nước chè, ta sẽ đi tiếp.”
Mẹ con tôi đã trải qua một đêm chưa bao giờ khiếp hãi như vậy.
Bộ ván, chiếc chiếu chắc cũng khá lâu không được làm vệ sinh, giặt giũ. Thật mệt,
nhưng giấc ngủ vẫn không đến với chúng tôi vì nhiều lý do. Nỗi sợ ám ảnh, phải
lo đối phó với hàng trăm, hàng ngàn con rệp. Chị em đành thức, ngồi kể chuyện
cho nhau nghe, từ dĩ vãng đến hiện tại và lung tung nhiều thứ để chờ sáng.
Ước chừng độ 12 giờ trưa hôm sau thì chúng tôi đến trại 5
Lam Sơn. Con đường vào trại ngoằn ngoèo, vòng qua dãy núi đá không cao lắm,
xuyên qua một khu đất rộng có nhiều người đang canh tác, nhìn từ xa, không ai
biết, tới gần, chúng tôi mới nhận ra những người này toàn là tù, tất cả là nữ,
chia thành nhiều tốp, trồng đậu phọng, cấy lúa. Ðám người này khá đông nhưng dường
như họ là những bộ máy, lạnh lùng làm công việc của mình, âm thầm như những chiếc
bóng, đầu phủ kín bằng những miếng vải để chống nắng. Người cuốc đất người nhổ
cỏ, hoàn toàn lặng lẽ, đến cả hai giám thị công an, một nam một nữ, cũng như
hai pho tượng ngồi kế nhau bên lề đường. Trên áo vải thô của mỗi người tù đều
có hàng chữ Lam Sơn 5, ngoài ra chúng tôi còn gặp thêm hai toán người đang đập
đá để nung vôi. Nhận ra chúng tôi, một vài anh đã lên tiếng hỏi: “Các chị đi
thăm ai đấy?”, nhưng chỉ có thế, vì các anh đã bị buộc phải im tiếng.
Sau khi làm những thủ tục của trại tù xong, đã vào buổi chiều.
Hết giờ thăm nuôi, chúng tôi phải chờ qua ngày hôm sau. Người cán bộ phụ trách
về thăm nuôi, dẫn chúng tôi vòng ra sau căn “nhà việc” (văn phòng) để đến nhà
vãng lai. Sáu người chúng tôi ở chung một gian, nhà vách ván, mái ngói, kê ba
cái giường tre, trong trại tương đối sạch bơn, chiếu còn mới. Họ cho mượn mùng
nếu ai không có. Nhận các thứ xong, chúng tôi rủ nhau xuống bếp, ngay đầu nhà,
có sẵn củi, nhưng phải mua, mỗi người 5$, nồi và các thứ khác cho mượn, vợ Bình
BÐQ đem lon mắm ruốc xào thịt ra xào lại để tiếp tế cho chồng, tôi cũng xào lại
lon gà kho gừng cho khô thêm.
Thời gian chờ đợi, dằn vặt, xao xuyến trong lòng chúng tôi
không ít, cứ đứng lại ngồi. Mỗi lần có anh “cải tạo viên” đến, chúng tôi lại rướn
cổ nhìn, nhưng vẫn là chồng người ta.. Mấy ông tuy mặc đồ lành lặn, sạch sẽ,
nhưng nhìn dáng đi, bộ điệu cố ưỡn ngực cho thẳng lưng, vẫn chẳng dấu được cái
tiều tụy, tàn tạ trên thân thể. Ai cũng giống nhau, sự hành hạ qua nhiều năm
tháng đã làm họ mất nhiều phong độ, cố giữ cho thẳng mà vẫn xiêu vẹo. Giờ này,
qua giờ khác, lại mất một ngày nữa chờ. Chúng tôi an ủi nhau, mình tới trại
sau, nên sẽ được gặp chồng sau, chắc chắn ngày mai thì đến lượt mình.
Ngày thứ ba, kể từ ngày chúng tôi bước vào khu thăm nuôi của
trại 5, chừng 10 giờ sáng, cán bộ thăm nuôi đến gọi chị Tâm (KQ) và Tuyết, em
anh Lê Hằng Nghi lên phòng thăm nuôi. Mọi người vui hẳn lên và hồi hộp. Chừng
15 phút sau, thăm nuôi xong, chị Tâm và Tuyết trở lại, mắt đỏ vì vừa khóc. Tuyết
vội thu xếp hành lý, nói: “Em chào các chị, em phải đi ra trại Ba Sao ngay bây
giờ. May quá có xe trâu của trại ra Thanh Hóa, người ta cho em quá giang.” Nhìn
theo Tuyết quảy đồ ra cửa, chúng tôi không ngăn được nỗi xúc cảm. Tội nghiệp cô
bé, lặn lội, tất tả đi thăm hai người anh ở cách nhau hàng mấy trăm cây số.
Cuối cùng rồi cũng đến phiên mình. Sáng ngày thứ tư ở trại
(thật ra mới có ba ngày rưỡi), vợ anh Bình, vợ anh Nhĩ và tôi cùng được gọi lên
thăm nuôi một lần. Ba người ngồi chung một bàn, con trai tôi ngồi sau lưng mẹ.
Khoảng 10 phút sau thì một tên công an bước vào, tên cán bộ thăm nuôi vội đứng
dậy chào, nói: “Báo cáo anh, các chị ấy đã tập họp đủ.” Chúng tôi chưng hửng tự
hỏi “Sao lại thế này, chồng chúng tôi đâu? Thằng quỷ dịch này, bước vào chẳng
chào hỏi, mặt mũi như âm binh, lạnh ngắt.. Một phút sau, hắn mới lên tiếng..
“Chào các chị, đi đường chắc vất vả lắm, nhưng nghỉ mấy
ngày, nhất định là khỏe rồi. Tôi là Bắc, cán bộ chấp pháp trại, đến đây có mấy
điều cần phải quán triệt với các chị.”
Hắn ngừng lại, nhìn thẳng vào mặt chúng tôi thật chậm, vẻ ra
oai. Tôi cũng nhìn lại hắn, quan sát và nghĩ: hèn chi nó làm chấp pháp (an
ninh) là đúng. Mặt tái xanh, mắt như hai lằn chỉ, môi dầy và đen như hai miếng
thịt trâu phơi nắng. Tên Bắc cất giọng:
“Chị nào là vợ cải tạo viên Bình, chị nào là vợ cải tạo viên
Ðỉnh?”
Chúng tôi giơ tay. Lại im lặng và hồi hộp.
“Thật là quá đáng. Từng ấy năm học tập cải tạo, uổng công
‘cách mạng’ quan tâm giáo dục, chưa nói tốn cơm, tốn của… Chồng các chị thuộc
loại không thể cải tạo, ‘cách mạng sẽ phải xử lý’. Tôi và X. rụng rời, nghẹt họng,
há miệng mà không thở được. Giọng tên Bắc chì chiết:
“Một bọn phản động, ngoan cố, cấu kết với nhau, trong đó có
chồng của hai chị… Tụ họp nhau bày đặt tuyệt thực, yêu sách cải thiện đòi sống
cho nên trại đã tạm thời kỷ luật các tên này. Không tin à? Tôi sẽ đọc lệnh giam
những tên phản động, cấm thăm nuôi bốn lần.”
Hắn đọc tên từng người: Nguyễn Xuân, Hồ Văn Phước, Phan Nhật
Nam, Hồ Công Bình và chồng tôi. Tất cả trên 10 người, nhưng tới lúc này thì mắt
tôi hoa, đầu váng, mọi vật quay như chong chóng. Vẫn giọng tên Bắc:
“Các chị thấy đấy, bọn phản động, nguyên cả một buồng, manh
tâm làm loạn. Giờ phút này rồi mà còn đòi vọng động. Các chị phải viết thư hoặc
cách này cách khác động viên chồng hối cải, lao động học tập cho tốt để còn về
chứ. Lần này trại đã họp và nhất trí để hai chị đi về, lần sau sẽ thăm nuôi.”
Tôi cố chỏi tay, để đầu không gục xuống bàn, đưa tay trái
véo nhẹ lên tay vợ Bình. Cần phải can đảm. Lát sau vợ Bình hỏi:
“Trại không cho gặp, vậy xin cho chúng tôi gửi thuốc và chút
đồ ăn cho chồng tôi có được không cán bộ?”
“Dứt khoát không được, đã kỷ luật thì phải cấm hết, mang về
đi các chị. Trại đã lo đủ cả, thuốc men, ăn uống không thiếu thứ gì đâu.”
Biết mình đang nói với một cái xác ướp, nên chúng tôi im lặng.
Tên Bắc lại đãi bôi:
“Các chị yên tâm, động viên chồng học tập cho tốt, biết đâu chừng sau lần kỷ luật
này, các anh tiến bộ, lại được tha về sớm.”
Tôi có ý nghĩ muốn trở thành người đàn bà đanh đá chửi vào mặt
thằng xác ướp này vài câu, nhưng nghĩ lại, làm như vậy là dại. Thôi! Liếc qua vợ
Bình cười nửa miệng, muôn ngàn cơ cực, đến mà không gặp. Niềm đau, nỗi buồn đã
đóng băng trong lòng hai chúng tôi.
Tên Bắc hướng qua chị Ðỗ Văn Nhĩ: “Chào chị Nhĩ, hết mệt rồi
phải không? Ði đường vất vả quá đấy nhỉ. Chị vui lòng cho tôi xem thư và giấy
thăm nuôi từ trại gửi về cho chị nào!” Liếc đọc lá thư, tờ giấy thăm nuôi, Bắc
hỏi tiếp: “Chị nhận được thư này lúc nào?”
“Tháng 8, cán bộ. Trong thư đề tháng 3 nhưng tháng 8 tôi mới
nhận được, có sao không cán bộ?”
Tên Bắc thở dài, cố làm vẻ trang nghiêm:
“Tiếc quá, chị nhận thư anh ấy hơi muộn, sớm hơn thì chị đã
gặp chồng, bây giờ thì đã quá trễ mất rồi.”
“Trời! Sao vậy cán bộ, chồng tôi làm sao, anh ấy bị cái gì,
anh Nhĩ làm sao rồi?”
“Chị bình tĩnh nghe tôi nói, như chị đã biết, anh ấy có hai
ba thứ bệnh từ thời ngụy, vùa suyễn, vừa bị cao máu, trại đã chữa hết cách rồi,
các đồng chí y tế đã tận lực, nhưng anh Nhĩ đã chết hồi giữa tháng 6. Anh Nhĩ
là người cải tạo tốt, lao động tiên tiến, sắp được tha về.”
“Trời ơi là trời! Chồng tôi sao lại chết? Ba mẹ ơi! Chồng
con chết rồi! Anh ơi! Tưởng ra đây gặp anh, bây giờ anh đi mất, bỏ mẹ con em, bỏ
ba má sao anh. Chồng tôi năm nay mới có 32 tuổi, làm sao mà cao máu? Anh ơi,
anh chết oan rồi!”
Hai chúng tôi cùng chồm qua, ôm lấy vai chị Nhĩ, cố kềm,
nhưng rồi cũng khóc theo. Vợ Bình mếu máo khuyên: “Chị nín đi, chị nín để hỏi
cán bộ anh ấy chôn ở đâu chớ.”
Chị Nhĩ rũ xuống như tầu lá, toàn thân lạnh và mềm oặt, hơi
thở đứt quãng. Chị Nhĩ đã mê đi trong cơn đau mất chồng. Vợ Bình vội lần trong
túi áo bà-ba lấy chai dầu gió thoa lên trán, lên thái dương cho chị Nhĩ, miệng
vẫn gọi liên hồi:
“Tỉnh dậy đi, dậy mà đi tìm mộ chồng chứ! Tỉnh đi chị Nhĩ!”
Chị thở dài tỉnh dậy. Im lặng giây lát, tên cán bộ Bắc nói với
chị Nhĩ: “Thôi, để tranh thủ, trại sẽ giao lại cho chị vật dụng của anh Nhĩ, giấy
chứng nhận chồng chị đã chết vì bệnh. Sau đây tôi bận công tác, đồng chí Cận
(cán bộ phụ trách thăm nuôi) sẽ đưa chị ra mả anh ấy.”
Tôi và vợ Bình cũng xin đi theo, nhưng không được chấp thuận.
Mấy chị em chúng tôi quay về Saigon lúc mờ sáng ngày hôm
sau. Ngày thứ năm ở trại cải tạo của chồng. Nhìn những dãy nhà cũ kỹ, khóa kín
cửa, tôi tưởng tượng như là chồng mình và đồng đội đang bị giam nhốt trong những
ngôi mộ đó, gần kề ngay bên mà cách biệt muôn trùng. Ngày đi náo nức, mong
ngóng, hy vọng bao nhiêu, nay trở về, cõi lòng tan tác.... Thất vọng chiếm hết
chỗ của suy tư. Chúng tôi đi trong vô thức.
Tội nghiệp chị Ðỗ Văn Nhĩ, nếu không có bạn đồng hành chúng
tôi phụ giúp, không hiểu có còn đủ sức, đủ nghị lực để về với các con không? Ðiều
an ủi là hôm đó có chuyến xe trâu đi không ra tỉnh, họ cho chúng tôi quá giang,
nhưng với giá 10$ một người tới ga Thanh Hóa.
Phải chăng những người đàn bà chúng tôi, những người vợ lính
VNCH, là người bị đọa đầy hơn tất cả mọi người của thế gian?…
Trần Thị Đông Phương
