
(Hình minh hoạ: Getty Image)
Cuối cùng thì chiếc xe đò và hành khách cũng đến Dalat sau
hơn mười hai tiếng đồng hồ vất vả nhiêu khê. Trời sắp tối nên bến xe vắng vẻ,
tôi bước xuống xe nhìn quanh nơi quen thuộc mà một thời đã chứng kiến tôi đi đi
về về, nơi từng đón chào tiễn biệt bao nhiêu bạn bè và người thân. Không khí
trong lành và mát lạnh giúp vơi đi phần nào mệt nhọc của cuộc hành trình dài.
Dalat của tôi đây!
Tôi không sinh ra ở Dalat, nhưng có may mắn trưởng thành tại
thành phố xinh đẹp này, tuổi hoa niên trong sáng của tôi qua đi cùng với núi đồi,
sương mù và bao cảnh đẹp nên thơ khác của Dalat. Gia đình tôi đến vùng đất gọi
là Hoàng triều cương thổ do một ông bác làm công chức đã định cư ở đây từ nhiều
năm trước đứng ra "bảo lãnh." Lúc đó tôi chỉ mới ba bốn tuổi, còn non
dại quá để có thể ghi vào tâm trí những kỷ niệm nơi miền quê xa xôi bên kia vĩ
tuyến 17. Đổi lại kỷ niệm những ngày sống tại Dalat không bao giờ phai nhạt.
Cũng giống như nhiều người khác, nơi chốn nào đã có nhiều kỷ niệm êm đềm nhất,
nơi ấy sẽ được giữ mãi trong ký ức. Dalat với tôi cũng vậy, dù sống ở đâu, làm
gì, thời gian không gian có khác, nhưng vùng đất thân yêu đó vẫn là nơi đi về của
tôi, trong tâm tưởng và trong giấc mơ.
Năm năm sau ngày ba mươi tháng tư bảy mươi lăm, đời sống người
dân mỗi ngày mỗi xuống đến tận cùng của khổ cực thì quyền lực của chánh quyền
càng đi lên. Tôi là công chức chế độ cũ được lưu dụng, trong cơ quan đã chán với
những thi đua, vượt chỉ tiêu, tiên tiến, phát huy sáng kiến... Bên cạnh lại có
sự bất ổn trong tình đồng nghiệp, kẻ theo người chống, kẻ lại tán tận lương tâm
theo dõi hành động của bạn bè để báo cáo cầu vinh. Giám đốc mới của tôi tự hào
là dân Cầu Muối đi tập kết về, trình độ chuyên môn không cao nhưng trình độ giác
ngộ cách mạng phải cao lắm, xưng hô với nhân viên bằng mày tao để chứng tỏ sự
thân tình không giai cấp, một hành động mà trong công sở trước đây hiếm thấy ở
người trưởng cơ quan. Về đến địa phương thì bị phiền hà bởi công an khu vực,
hàng xóm láng giềng cũng nhìn nhau nghi ngại, đó đây xuất hiện vài gia đình cán
bộ, gia đình có công với cách mạng thường gọi nôm na là nằm vùng. Cũng khổ với
cái loa của phường khóm ngày đêm nói chuyện đường lối chánh sách, ca hát hoặc
thông báo hợp tác xã có bán mắm, muối... Một nghịch lý là phương tiện truyền
thanh cổ lỗ có từ trước thập niên năm mươi của thế kỷ hai mươi này chính phường
khóm bắt dân đóng góp để làm phiền lỗ tai của mình vì những âm thanh ồn ào này.
Quá chán chường với đời sống chung quanh và cũng thất vọng vì những lần vượt
biên không thành. Vào một ngày mùa đông cuối những năm bảy mươi tôi đã tìm về
Dalat, không phải để thăm nhà vì đã từ lâu gia đình tôi không còn ở đây, nhưng
hy vọng không khí trong lành sẽ cho tôi cảm thấy thoải mái, đời sống êm đềm sẽ
làm ổn định tinh thần và dĩ vãng tươi đẹp sẽ cho tôi niềm tin để tính toán những
việc khác trong tương lai.
Vì được coi như công nhân viên chức nhà nước tôi xin đi nghỉ
phép thường niên ở Dalat, bên cạnh giấy phép còn phải xin thêm một giấy giới
thiệu để mua vé xe đò. Nhìn giấy phép và giấy giới thiệu đề tên tôi, chức vụ là
cán bộ kỹ thuật, nhìn hai chữ “cán bộ” mà trong lòng cảm thấy có điều gì hình
như chẳng phải của mình! Những ai sống trong giai đoạn này mới hiểu giá trị của
những tờ giấy giới thiệu, nó sẽ giúp đi khám bệnh, mua vé xe, mua xe đạp, mua mắt
kiếng... Nó là lá bùa hộ mạng và là đặc ân cho những người làm công chức, có thể
gõ cửa một cơ quan nào đó hay một cửa hàng quốc doanh của nhà nước. Nhưng đạt
được mục đích bởi tấm giấy giới thiệu đó lại là chuyện khác, đôi khi cũng lắm
phiền phức.
Tôi rời nhà vào một buổi sáng vắng vẻ, đèn đường chưa tắt.
Vì nghe lời khuyên phải đi sớm sắp hàng trước thì mới có vé, nhưng khi xích lô
đưa tôi ra gần tới bến xe thì thấy hàng người cũng đã dài. Quầy bán vé chia làm
hai loại, loại công nhân viên chức đi phép hay đi công tác được đứng trong hàng
ưu tiên, còn dân thường có một hàng khác. Chỉ khi nào vé bán hết cho hàng ưu
tiên xong thì mới đến phần người dân thường, tuy nhiên nếu muốn đi bất cứ lúc
nào cũng có vé chợ đen, dĩ nhiên giá phải đắt hơn. Tôi đứng vào hàng ưu tiên,
nhưng lại là người cuối cùng, sau này tôi hiểu rằng những người đứng trước tôi
đã đến đây từ rất khuya, khi phòng vé chưa mở cửa. Người đầu tiên đặt giấy tờ của
mình trước cửa quầy vé, lấy một viên gạch đè lên trên, người thứ hai đặt giấy tờ
của mình theo người thứ nhất, và cứ tiếp tục như thế. Đến phiên tôi lấy vé thì
người bán vé cho biết ghế phía trước đã hết, chỉ còn phía sau thôi, ngồi hơi chật,
tôi chấp nhận vì cũng chẳng có cách nào khác hơn được.
Xe rời bến lúc năm giờ sáng khi mặt trời chưa lên. Trong lúc
xe chạy thì tôi mới hiểu sự khác biệt của ghế trước ghế sau. Xe được chia ra
phía trước có ba hàng ghế nằm ngang, hành khách ngồi nhìn ra phía trước, đàng
sau có hai hàng ghế dọc, khách ngồi đối mặt với nhau, khoảng trống ở giữa để có
thể chở thêm vài người ngồi xuống sàn, bởi vậy người ngồi ở hai hàng ghế dọc
này vừa bị xóc, vừa không thể nhúc nhích hai chân được vì đụng người ngồi dưới
sàn, và dưới các băng ghế đều có chứa hàng của các người đi buôn nên không lui
chân được. Thấy anh phụ xe đứng thoải mái ở bậc lên xuống sau xe, tôi đề nghị
anh cho tôi đứng cùng, anh đồng ý nhưng khi gặp công an thì tôi phải vào ngay,
nếu không tài xế bị phạt.
Thời gian này được gọi là giai đoạn ngăn sông cấm chợ, hàng
hoá hay sản phẩm của tỉnh này không được xuất qua tỉnh kia. Tỉnh Lâm Đồng có cà
phê bán không được nhưng Sài Gòn lại thiếu, dân Sài Gòn phải uống cà phê pha trộn
với hột bắp, Cà Mau dư lúa gạo nhưng không bán được thì tỉnh Bến Tre mất mùa,
dân đói thê thảm không có gạo ăn phải chèo thuyền bằng tay xuống Ca mau mua gạo,
đi về mất cả hai tuần lễ, trên đường đi cũng phải vất vả khổ sở vì những trạm
kiểm soát ven sông. Cũng vì ngăn sông cấm chợ mới tạo nên hiện tượng đi buôn lậu,
và để chận đứng nạn buôn lậu thì công an kinh tế phải có nhiều trạm kiểm soát.
Xe chưa ra khỏi địa phận Sài Gòn đã có một trạm kiểm soát, vào đến địa phận tỉnh
Đồng Nai thêm một trạm khác, trước khi ra khỏi tỉnh Đồng Nai một trạm nữa, đến
chân đèo Bảo Lộc là trạm của tỉnh Lâm Đồng, và trước khi đến Dalat, một trạm kiểm
soát nữa ở đầu đèo Prenn. Không kể biết bao nhiêu trạm kiểm soát đột xuất dọc
đường. Ở mỗi trạm, phụ xe phải tính chuyện phải quấy với công an, còn những người
buôn chuyến trong giai đoạn này cũng phải vất vả cất giấu hàng hoá của mình vì
một ký cà phê sống hay nửa ký bột ngọt đều bị hạch hỏi. Có đi trên xe tôi mới
hiểu được sự tương quan mật thiết giữa những người đi buôn và tài xế, phụ xe. Tất
cả cùng nương tựa nhau để sống.
Đường đi gian nan, mỗi trạm mỗi dừng, tôi cũng phải xuống những
trạm chính để trình giấy tờ và đưa túi xách cho công an kiểm soát. Đoạn đường
dài trên ba trăm cây số, chứng kiến bao nhiêu cảnh công an làm tình làm tội dân
lành, nhưng hình ảnh làm tôi ghi nhớ mãi khi là trạm kiểm soát ở chân đèo Bảo Lộc.
Khi xe dừng tại trạm kiểm soát, xuất trình giấy tờ và mở túi xách để khám xong
tôi lên xe ngồi chờ vì các người đi buôn còn đang thương lượng với công an. Qua
cửa sau xe, thấy một em nhỏ độ khoảng mười tuổi, cỡi chiếc xe đạp người lớn nên
em không ngồi được hoàn toàn trên yên, đàng sau có chở một thúng nhỏ đi về hướng
đèo, tôi thắc mắc tự hỏi không biết em nhỏ đi đâu vì bắt đầu từ đây trở lên đèo
chung quanh chỉ có rừng núi. Thắc mắc của tôi được trả lời khi em bé đạp xe qua
trạm cũng là lúc viên công an đang ngồi kiểm tra trong trạm vụt đứng dậy chạy
ra nắm lấy thúng nhỏ sau xe kéo mạnh, em bé té theo xe và gạo trong thúng đổ
ra, viên công an thản nhiên trở vào làm việc tiếp, mặc cho em bé loay hoay với
chiếc xe và gạo đổ tung toé trên mặt đường. Tôi ngơ ngác nhìn cảnh tượng bất nhẫn,
định xuống xe giúp thì có vài người đàn bà đứng gần đấy lấy nón và rổ gom giúp
em những hạt gạo trên đường nhựa dơ bẩn. Cứ như vậy, hết trạm này lại trạm khác
nên đi từ sáng sớm, bốn giờ rưởi xe mới tới chân đèo Prenn. Nhưng chưa hết nạn,
xe lên được hai phần ba đèo thì hết xăng, phụ xe phải đón xe khác quá giang về
Dalat lấy xăng, hành khách lần lược xuống xe đứng ngồi quanh vệ cỏ bên đường.
Tôi cũng xuống xe, trong không gian có mùi hương quen thuộc của thông xanh làm
tôi vô cùng thích thú, như vừa tìm lại được một vật gì quí mến đã bị bỏ quên từ
lâu và cảm thấy nhẹ nhàng thoải mái được hít thở không khí lành lạnh. Hương gây
mùi nhớ...
Đặt chân xuống bến xe Dalat đã năm giờ rưỡi chiều, việc đầu
tiên của tôi là tìm chỗ để nghỉ ngơi. Tôi mang túi xách đi ngược dốc Lê Đại
Hành đến Khu Hoà Bình. Đang phân vân chưa biết chọn khách sạn nào, chợt nhớ
khách sạn Phú Hòa, nơi tôi có vài kỷ niệm với người bạn từng làm việc ở đây. Bước
mau đến khách sạn, bây giờ đã là quốc doanh, cô tiếp tân đón chào với vẻ lạnh
lùng cho biết không còn phòng chiếc, chỉ còn phòng đôi, tôi đồng ý vì không muốn
đi nơi khác và giá cả cũng không sai biệt nhiều, cô đưa chìa khoá và chỉ lên lầu.
Phòng quay mặt về phía sau nên hơi thiếu ánh sáng, nằm nghỉ ngơi chốc lát sau một
ngày đường vất vả, tôi xuống phố kiếm bữa ăn chiều. Khi trở về, trời đã tối, đường
phố khá im lìm dưới những ngọn đèn vàng, chung quanh khu Hoà bình hàng quán
đóng kín trông tối tăm gợi lên trong tôi hình ảnh một khu buôn bán bình dân mà
tôi đã gặp đâu đó ở Sài Gòn. Cảnh thật buồn nhưng tôi không quan tâm lắm vì
nghĩ phải ngủ một giấc cho lại sức, sáng mai sẽ còn nhiều dịp nhìn lại chốn cũ
mến yêu này. Nhưng đến khi được cuộn mình trong chăn dày, một hành động thú vị
mà tôi chẳng có được suốt những năm tháng sống ở Sài Gòn, bao kỷ niệm xa xưa
vơi đầy hiện về làm tôi thao thức đến nửa đêm mới chìm vào giấc ngủ.
Tôi đang yên giấc mơ màng thì bị một âm thanh ồn áo đánh thức,
định thần nghe cho rõ, đó là tiếng phát ra từ cái loa trên nóc khu Hoà Bình kêu
gọi người dân tập thể dục buổi sáng, với tay bật đèn để nhìn đồng hồ, bây giờ
là năm giờ sáng. Tôi thở dài nằm ra giường: Ôi nếp sống văn minh xã hội chủ
nghĩa! Vậy mà trong tâm trí tôi vẫn nghĩ lên Dalat sẽ tìm lại được thú vui ngủ
vùi trong chăn, sẽ chờ cho chim líu lo đánh thức mình dậy, nay nằm đây nghe tiếng
hô hào hít vào thở ra, hai tay đưa lên cao xuống thấp... Một nỗi chán chường
dâng lên trong lòng, tôi muốn mình được đi ra khỏi phòng, phải làm cái gì đó
như tìm một quán cà phê uống chờ trời sáng hơn là nằm đây nghe những âm thanh hỗn
độn này, nhưng còn quá sớm chắc gì đã có nơi mở cửa, đành phải kéo chăn kín đầu
cầu cho thời gian qua nhanh. Rồi giờ phát thanh cũng qua, nằm ráng thêm chút nữa
nhưng cũng không ngủ lại được. Chợt nhớ sáng nay tôi phải ra trình diện ở sở
Công an thành phố để có dấu mộc chứng nhận ngày đến, trước ngày về cũng phải trở
lại chứng nhận ngày đi. Chậm rãi chuẩn bị giấy tờ cần thiết tôi rời khách sạn,
nhưng việc trước hết là tìm chỗ ăn sáng chờ đến giờ các cơ quan mở cửa. Chứng
nhận xong giấy phép, tôi cẩn thận trở về khách sạn để cất giấy tờ trước khi làm
việc khác. Vừa thấy tôi bước vào cửa, nhân viên tiếp tân cho biết tôi phải trả
lại phòng vì phòng tôi đang ở đã có phái đoàn của cơ quan nào đó đặt từ tuần
trước, và cũng chẳng còn phòng nào khác để tôi chuyển sang. Người nhân viên thấy
tôi ngỡ ngàng cũng tỏ ra ái ngại nên nói qua bên khách sạn Mộng Đẹp thế nào
cũng còn phòng. (Tôi vẫn quen gọi tên cũ là Moderne). Vậy là tôi khăn gói đi
ra, nhưng qua đến khách sạn Mộng Đẹp thì mới hay quầy tiếp tân làm việc từ mười
hai giờ trưa, nhìn đồng hồ mới hơn chín giờ, khoác túi xách lên vai, tôi đi lên
phố trong tâm trạng chẳng biết đi đâu.
Ban ngày tôi có thể quan sát rõ hơn, các tiệm buôn bán xinh đẹp
chung quanh khu Hoà Bình ngày xưa nay là những cửa hàng quốc doanh, bày bán những
thứ hàng tiêu dùng như nồi niêu, phụ tùng xe đạp hay thuốc dân tộc, nhưng hàng
hoá không nhiều nên nhìn vào thấy trống trải lại không đèn đuốc, khách hàng vắng
tanh trông thật thê thảm. Người dân Dalat nay trông tiều tuỵ. Dân xứ lạnh lúc
nào trên người cũng khoác áo lạnh, ngày xưa thì áo lạnh đủ kiểu, muôn màu muôn
sắc nhưng nay toàn một màu u tối nên trông nghèo nàn như cảnh trong phim Những
kẻ khốn cùng. Đời sống cơ cực, miếng ăn còn khó khăn thì ai còn tâm hồn mà nghĩ
đến cái đẹp. Bởi vậy, một anh bạn của tôi ở Sài Gòn có dịp đi Dalat lần đầu
tiên trong đời trước chuyến đi lần này của tôi vài tháng, khi hỏi cảm tưởng về
chuyến đi, anh nói thấy dân trên đó nghèo lắm trái ngược với những gì tôi đã ca
ngợi với anh.
Dừng chân trước quán cà phê Tùng, tôi định vào uống cà phê
chờ đến trưa sẽ trở lại khách sạn, xem giờ thấy còn quá sớm không thể ngồi lâu
trong quán suốt mấy tiếng đồng hồ. Không định hướng, nhưng tôi đi về phía đường
Hàm Nghi thì chợt nghĩ biết đâu chẳng gặp lại Trung, một thằng bạn học thời
trung học, gia đình Trung sống lâu đời trên con đường này. Trên vai túi xách
tôi đi qua nhà Trung thấy cửa đóng then cài, ngại ngùng không dám gõ cửa nên tiếp
tục đi, đến gần cuối đường thì đã thấy thấp thoáng trường Bồ Đề. Tôi cũng có
vài kỷ niệm vui khi đi học hè ở trường này vào những năm đầu học trung học. Vì
trường gần đài phát thanh Dalat, giờ ra chơi tụi tôi thường lấy đồng bạc cắc một
đồng có hình Tổng thống Ngô Đình Diệm bôi chút nước bọt rồi áp đồng tiền vào một
trong bốn giây cáp giữ cột ăng ten của đài và kê sát tai vào có thể nghe được
tiếng nói, cho đến ngày nay tôi cũng chẳng biết nguyên nhân vì sao nghe được. Một
lần khác có đứa bạn trong giờ ra chơi, đứng trên hành lang của trường nhìn xuống
thấy một anh cảnh sát đang đi trên đường, hai tay làm loa hắn kêu thật lớn:
"Ê! Đầu đường xó chợ!" Anh cảnh sát tức tốc vào trường báo cho ông
giám thị, không biết ông giám thị nói gì với anh ta, nhưng sau đó ông đi lên lớp
tôi hỏi ai là người vừa có hành động trên, đứa bạn ngổ ngáo của tôi đứng ra nhận
tội, tưởng sẽ bị la mắng nhưng ông chỉ khuyên đừng nên làm vậy, vì sự thật nhiều
khi mất lòng!
Đến đây thì phân vân không biết nên đi tiếp hay quay trở lại,
tôi nghĩ thật nhanh sẽ theo đường Võ Tánh xuống đến bờ hồ rồi trở lại Khu Hoà
Bình. Con đường Võ Tánh giờ đây như có vẻ nhỏ hơn trong trí nhớ của tôi. Cũng
chính con đường này lần đầu tiên trong đời tôi biết đi theo một nữ sinh trường
Bùi Thị Xuân, nhưng không biết nàng học lớp mấy chỉ đoán là đệ tam trở lên,
trong khi tôi đang học đệ nhất. Với nhận xét của một thanh niên mới lớn tôi thấy
nàng đẹp tuyệt vời, tóc dài vai nhỏ, môi đỏ má hồng, tà áo vờn bay... Nhưng vì
nhút nhát chỉ lâu lâu lén đón nàng tan học. Chẳng dám đi theo nàng một mình nên
thường kéo thêm vài ba đưa bạn đi cùng, chúng nó thì bạo mồm bạo miệng đôi lúc
nham nhở vô duyên. Sau này nghĩ lại, dưới mắt nàng chỉ là một lũ mất dạy không
thôi. Hồi đó tôi can đảm đi một mình biết đâu đã nên chuyện. Ngay cả tên nàng
là Phượng đến nay tôi vẫn còn hồ nghi, vì khi tôi nêu thắc mắc về tên nàng thì
một thằng bạn đứng ra nhận sẽ đi điều tra, vài hôm sau nó cho biết tên là Phượng
và chúng tôi gọi luôn mà không kiểm chứng đúng sai gì cả. Thuở đó tôi cũng mơ mộng
nhiều lắm, mơ sao nhà nàng nhà tôi cách nhau cái dậu mồng tơi, mộng sao tôi và
nàng đi chung một chuyến... xe đò... Ngày nay nghĩ lại thời tôi đi theo Phượng
cũng vì ảnh hưởng phần lớn bởi các văn nhân thi sĩ, nhạc sĩ... Họ là những người
có độ xúc cảm trên những người bình thường một chút, chứ con gái mà tóc dài thì
đâu có chuyện gì là lạ , đàn bà nào mà vai chẳng nhỏ, gái Dalat cô nào mà chẳng
có má hồng, áo dài nào mà chẳng bay theo gió... Vậy mà tôi đã mê mẩn suýt quên
cả năm đó là năm thi quan trọng. "...Xưa theo Phượng về, mái tóc Phượng
dài..." Bây giờ thì quả thật " ...Nay trên đường này đời như sóng nổi...."
Sau này khi tôi đi học ở Sài Gòn thỉnh thoảng về thăm nhà, mấy đứa bạn cũ cho
biết Phượng đang học sư phạm, còn phần tôi thì Sài Gòn có nhiều chuyện vui hơn
nên cũng sớm quên "mối tình đầu." Cuộc đời dâu bể, không biết Phượng
nay ở phương nào, nhưng bao giờ Phượng cũng là một bông hoa tươi thắm trong khu
vườn kỷ niệm của tôi.
Khi lấy phòng trong khách sạn Mộng Đẹp, để chắc chắn tôi phải
hỏi đi hỏi lại tôi ở ba đêm không có vấn đề gì chứ rồi mới về phòng. Phòng nằm
trên lầu hai, đây là khách sạn mới xây dựng khoảng thời gian cùng với chợ
Dalat, phòng ốc tương đối khang trang, mỗi phòng đều có ban công phía trước
nhìn ra chợ Dalat, có lò sưởi trong mỗi phòng nhưng vì quốc doanh nên không mấy
sạch sẽ, phòng vệ sinh hoen ố, nền gạch vách tường đều đầy những vết bẩn. Tôi nằm
nghỉ trưa xong thì đi thăm người anh họ, con trai trưởng của ông bác đã đưa gia
đình tôi đến Dalat năm xưa. Tên anh là An rất hợp với bản tánh chân chất an phận
của anh. Nhà anh là một biệt thự song lập, trước đây thì gia đình an khang lắm,
nhưng nay con cháu đầy nhà nên tôi ngại không muốn đến ở nhờ, anh cũng hiểu ngầm
như vậy nên không đưa lời mời nào cả. Đến thăm anh chị vui vẻ đón tiếp và giữ
tôi lại ăn cơm tối. Tất cả các người em của anh đều sống ở ngoại quốc, tôi thắc
mắc sao anh không nói bảo lãnh cho anh đi, anh trả lời các con của anh nay đã
có vợ chồng con cái cả rồi thêm nữa là anh muốn ở lại lo cho mồ mả cha mẹ, tôi
hiểu anh đã chọn Dalat là quê hương của mình. Giòng họ nhà tôi có một nhánh đã
bắt rễ ở Dalat, tự nhiên tôi cảm thấy vui vui.
Từ giã gia đình anh chị An cũng đã khuya, tôi nghĩ sẽ lên
giường ngủ ngay vì cả ngày đi bộ khá nhiều. Nhưng rồi cũng trằn trọc không ngủ
được nên lấy cuốn truyện ngắn mang theo đem ra đọc. Tôi chợp mắt lúc nào không
hay chợt giật mình thức giấc vì có tiếng gõ cửa và cửa phòng mở tung ra ngay.
Trước mặt tôi là một người mặc sắc phục công an, còn hai người kia mặc đồ dân sự.
Ngơ ngác tôi hỏi các anh muốn gì, viên công an nói cho kiểm tra giấy tờ. Định
phản đối thái độ bất lịch sự nhưng tôi tự chủ lại, quãng đường Saigon -Dalat vừa
qua cho tôi quá nhiều bài học, âm thầm lấy giấy tờ đưa cho viên công an, hắn
coi lướt qua rồi trả lại ngay và quay lưng đi ra cùng với hai người dân sự. Buồn
bực, tôi mặc áo lạnh rút điếu thuốc mở cửa ra hành lang phía sau đứng hút thuốc
và xem chúng nó làm gì, nhưng không thấy ai ngoài một thanh niên trẻ cũng đang
đứng hút thuốc, thấy tôi anh ta tiến lại làm quen.
- Anh vừa bị khám giấy tờ phải không?
Tôi thở dài: Phải, còn anh?
- Tôi bị khám hôm qua rồi, tụi nó là một thằng công an và
hai thằng dân phòng, khi thấy trong danh sách ở khách sạn có thanh niên độc
thân là tụi nó nghi thanh niên này có đem theo em út gì đó, tụi nó lấy chìa
khoá phụ xông vào, nếu đúng là có em út thì bắt làm biên bản về tội quan hệ nam
nữ bất chính, rồi hù doạ sẽ gởi biên bản về địa phương... , nhưng chủ yếu là
làm tiền, chi ra một ít là xong tất cả.
Tôi hỏi anh sao biết như vậy , anh ta trả lời :
- Tôi là nạn nhân mà, tôi từ Cần Thơ đưa vợ con lên Dalat
chơi cho biết, khi vào hỏi thuê phòng, nó đòi vợ chồng tôi trình giấy hôn thú
hoặc phải có khai sinh của con mới được thuê một phòng, nếu không thì phải thuê
hai phòng, tôi một phòng và vợ con tôi một phòng. Tôi hỏi anh đi chơi ai mang
hôn thú làm gì, còn con thì mới bốn tuổi mang khai sanh làm chi, không cãi được
tôi đành phải thuê hai phòng. Nhưng tối tôi qua ngủ với vợ con tôi thì bị tụi
nó vào làm khó dễ, tức mình tôi nói muốn làm bao nhiêu biên bản tôi cũng ký và
đi tới đâu tôi cũng đi. Cuối cùng tụi nó thấy ăn không được gì bèn ra giọng tử
tế lần này tha nhưng lần sau phải nhớ mang theo giấy tờ!
Chúng tôi còn trao đổi với nhau vài ba câu chuyện rồi chia
tay. Trở lại giường tôi không làm sao nhắm mắt lại được, trăn trở vì những chuyện
nằm ngoài sức tưởng tượng của mình. Đến gần sáng tôi mới ngủ thiếp đi, khi thức
dậy mặt trời đã lên cao. Trời mùa đông Dalat se lạnh nhưng thật đẹp, nền trời
trong xanh điểm vài cụm mây trắng. Tôi ra phố tìm chỗ ăn sáng và như dự đinh,
hôm nay tôi sẽ về thăm lại căn nhà xưa với nhiều kỷ niệm lưu luyến. Khi ngồi
trên xe đò, tôi mới nảy sinh ý nghĩ sẽ xuống xe tại ngôi trường cũ, ngôi trường
lần đầu tiên tôi vào lớp năm tức lớp một bây giờ, rồi từ đó theo con đường xưa
trở về nhà cũ như thuở mới lên năm lên mười. Xuống xe nhìn cảnh vật không khác
xưa nhiều lắm dù đã hơn hai mươi lăm năm trôi qua, chỉ có cánh rừng bên hông
trường nay đã xây thêm vài ngôi nhà. Cổng trường với hai cánh cửa lớn ngày nay
như nhỏ lại, bảng tên trường được dựng trên hai trụ cổng đã bạc màu sơn, mái
trường bằng ngói đỏ nay đã hoen màu và loang lổ những đám rêu xanh, tường vẫn
quét vôi màu vàng nhạt và cửa vẫn màu nâu đỏ nhưng chắc đã lâu không được sơn
quét lại. Tôi đứng trước cổng trường, nhớ bà cụ già ngồi bán hàng quà cạnh cổng
trường chắc nay đã là người thiên cổ. Sân trường trong giờ học nên vắng lặng,
nhìn căn phòng học đầu tiên của tôi mà trong lòng thấy nao nao nhớ ngày mẹ tôi
đưa tôi tới trường. Hai chữ đi học không xa lạ gì với tôi, vì trước khi chính
thức vào trường tiểu học, tôi đã được gởi đi học một vài trường lớp khác như
trường của các bà sơ, hay tư thục... Nhưng lần này, trước khi nhập học mẹ tôi
đã lo may cho tôi mấy bộ quần xanh áo trắng, sắm bút chì bút mực, thước kẻ, cục
tẩy và hai cuốn vở được bao giấy bóng mờ, bên ngoài còn có nhãn đề tên trường,
tên học trò rồi lớp và niên khoá, tất cả được đặt trịnh trọng vào trong chiếc cặp
bằng da bò mới tinh còn thoang thoảng mùi da thuộc, vì vậy trí óc thơ dại của
tôi đâm ra hoang mang không ít. Sáng ngày khai trường, mẹ tôi gọi tôi dậy sớm
hơn bình thường, cho tôi ăn sáng và thay quần áo giày vớ, tóc được chải rẽ hàng
ngôi đàng hoàng, sau đó “Mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi ..." dắt ra xe để
ba tôi đưa hai mẹ con đến trường. Sau khi làm các thủ tục cần thiết, mẹ đưa tôi
vào lớp học rồi đứng trước hiên trường chờ đến khi tiếng trống bắt đầu giờ học,
một lần nữa mẹ tôi đi vào chỗ tôi ngồi và nói nhỏ nhẹ: "Con ngồi học nghe,
khi nào tan trường thì mẹ đến đón." Tôi nhìn theo mẹ đi băng qua sân và từ
từ ra khỏi cổng trường. Ngày đó mẹ tôi phải còn trẻ lắm, dáng người lại nhỏ nhắn,
nhưng sao tôi thấy bóng người lớn quá. Mẹ đã đi khuất sau hàng rào nhưng tôi vẫn
cố nhìn theo cho đến khi cô giáo vào lớp mới ngồi lại ngay ngắn.
Con đường về nhà cũ vẫn như xưa, cây cỏ hai bên đường dường
như không có gì thay đổi, vẫn mấy cây hoa ngũ sắc mọc hoang, những cây cỏ đuôi
gà mà bọn nhỏ chúng tôi thường ngắt chơi dường như trường tồn với thời gian, mọc
lẫn vào đám cỏ tranh thâm thấp. Chân bước đều mà tâm trí miên man nhớ những
ngày tháng hồn nhiên ngây thơ thuở ấy, căn nhà xưa đã hiện ra trong mắt. Đây là
một biệt thự loại trung bình, chung quanh có sân rộng và phía sau nhà là một
dãy hai phòng nhỏ với nhà để xe. Nhà trông cũng vẫn như xưa, chỉ có hai cánh cổng
khi trước bằng gỗ nay đã thay bằng sắt. Tôi đứng lặng nhìn mà tâm hồn xao xuyến,
cuộc đời đổi thay nào ai biết trước được tương lai. Khi đi học hay khi đi làm
xa, bao giờ tôi cũng có ý nghĩ sẽ trở về sống trong ngôi nhà này cho đến hết cuộc
đời, nay nó không còn trong tầm tay nữa. Đang suy nghĩ mông lung thì có tiếng
người hỏi:
- Anh muốn tìm nhà ai?
Tôi quay người lại thì gặp một bà trọng tuổi, nhìn trang phục
và cách phát âm của bà tôi đoán bà là người Bắc trước 1975 vì vậy tôi cũng hơi
yên tâm trả lời:
- Dạ thưa tôi không tìm ai cả.
Nhưng rồi sợ bà nghi ngờ mình có ý gian vì rõ ràng đang đứng
quan sát nhà bà, tôi đành thú thật.
- Thưa, chẳng giấu gì Bác, trước đây cả mười năm gia đình
tôi ở đây, nay có dịp về lại Dalat tiện thể ghé qua nhìn lại căn nhà cũ thôi.
Bà ngập ngừng một vài giây rồi hỏi lại ngay:
- À !Vậy anh đây là con cụ Quản?
- Dạ thưa phải ạ! Vậy bác có biết ba mẹ cháu?
- Thì tôi mua lại nhà này của hai cụ mà! Mời anh vô nhà nghỉ
chân uống nước đã, tôi mới đi chợ về được gặp anh ở đây cũng là cái may.
Rồi không đợi tôi trả lời bà bước tới vói tay mở cổng đồng
thời hỏi luôn:
- Thế hai cụ cũng khoẻ mạnh cả chứ?
- Vâng , cám ơn bác ,ba mẹ cháu vẫn khoẻ ạ!
Mở xong cửa bà nói thêm:
- Đây, mời anh vào chơi, đừng ngại gì cả, tôi gặp được hai cụ
đôi ba lần thôi mà rất có cảm tình, tiếc là hai cụ bán nhà xong là về Sài Gòn
chứ còn ở đây thế nào tôi cũng xin được kết thân.
Tôi ngần ngại đi theo bà vào nhà, bà mở cửa trước rồi chỉ
tay về phía phòng khách mời tôi ngồi, tôi cám ơn bà và bước vào ngồi xuống ghế
trong khi bà đi vào nhà bếp. Ngồi nhìn quanh, thấy tường nhà đã được quét vôi
màu xanh nhạt, khác với màu cũ khi gia đình tôi ở, cách bày biện không khác nhiều.
Cái bàn ăn lớn trong phòng ăn đã có từ lúc gia đình tôi dọn đến đây rồi khi bán
nhà để lại thì vẫn còn đó. Lò sưởi trong phòng khách lúc gia đình tôi còn ở thường
hay sử dụng trong mùa lạnh nay có vẻ không dùng vì rất sạch sẽ, có phải bây giờ
là thời gạo châu củi quế chăng!
Bà chủ nhà bưng ra cho tôi một tách nước trà mời tôi uống,
bà cũng ngồi ghế bên cạnh bắt đầu nói chuyện. Dù chỉ mới gặp lần đầu bà đã coi
tôi như người tri kỷ, kể cho tôi nghe những chuyện vui buồn từ ngày về ở căn
nhà này cũng như những khó khăn khi sống dười chế độ mới, những ưu tư của bà
cho tương lai... Tôi cảm thông tâm trạng của bà, bà cũng như nhiều người miền
nam sau ngày 30-4-75. Khi cuộc sống nhiều ngờ vực và đầy cạm bẫy, người ta chỉ
còn cách tìm lại các bạn cũ để tâm sự hay gởi gấm nhưng ý nghĩ riêng tư. Qua
câu chuyện tôi được biết bà ở đây với vợ chồng người con trai của bà đều là
giáo viên cùng với hai đứa cháu nội, chồng bà mất đã lâu. Sau khi nói chuyện được
một lúc, bà xin phép tôi đi vào bếp có chút chuyện và nói tôi tự nhiên đi xem lại
nhà, trong ngoài gì cũng được. Tôi nghĩ bà phải lo bữa ăn trưa và cũng không muốn
quấy rầy bà, định kiếu từ đi về nhưng nghe bà cho phép đi xem nhà, tôi muốn
nhân tiện ra vườn xem lại những dấu vết tuổi thơ của tôi, trong nhà bất tiện
hơn vì phòng ốc trong nhà tôi biết cả rồi, nay lại là chốn riêng tư, tôi nói:
- Dạ, không dám làm phiền bác nhiều, cháu chỉ xin ra ngoài
sân coi lại một chút thôi.
Hai bên hông nhà vẫn còn những bồn hoa được bọc bằng những
viên gạch vuông như ngày nào nhưng không nhiều hoa hơn xưa, có lẽ ít được chăm
sóc. Trước nhà là hồ nước nhỏ có vòi phun và hòn non bộ do ba tôi làm vẫn còn
đó, nơi đây anh em tôi hay xếp giấy làm thuyền thả trên mặt nước hoặc nuôi cá.
Tôi lần ra sau nhà rồi đi về phía nhà để xe, chiếc vòi nước bên vách ngoài trên
nền xi măng rộng cỡ hơn một mét vuông vẫn còn, đây là nơi anh em tôi hay sử dụng
những khi nghịch ngợm chân tay dơ bẩn. Bên bờ tường rào có một lỗ hổng tôi thường
cất giấu những thứ đồ chơi nguy hiểm mà cha mẹ không cho chơi, tôi bước tới
nhìn vào tìm thấy cái van xe đạp và một cái đinh rỉ sét, đây là món đồ chơi
thay pháo trong những ngày Tết. Lấy van xe cột thêm vài sợi lông gà và gỡ đầu
diêm quẹt cho vào trong van xe, xé một chút giấy có diêm sinh ở ngoài bao bỏ
thêm vào, nhét cây đinh cắt phẳng đầu rồi tung lên cao, khi rớt xuống đầu đinh
nén mạnh làm cháy diêm trong van xe và phát ra tiếng nổ. Liếc nhìn sau nhà xe,
tôi gặp xác một chiếc xe đạp cũ đã rỉ sét, nhớ ra đây là chiếc xe mà ba tôi đã
mua cho tôi khi lên bảy tám tuổi. Không biết ba tôi đã mua lại của ai chiếc xe
này, chỉ biết ông đã mang theo khi đi làm về. Chiếc xe rất đẹp, là loại xe đạp
nhỏ rất vừa với tuổi của tôi. Tôi đã không sử dụng được lâu chiếc xe này vì khi
vỏ xe bị hư thì mới biết không thể tìm ra loại nào khác thích hợp để thay thế,
do đó phải treo nó trong nhà xe, hy vọng tìm được vỏ mới đúng kích cỡ. Nhưng rồi
tôi lớn theo thời gian mà vỏ xe vẫn không có nên sau này dọn dẹp nhà xe đã đưa
nó ra đây. Với chiếc xe này tôi đã đạp đi chơi khắp nơi, có lần hẹn với thằng bạn
gần nhà cùng nhau đạp xe qua tận hồ Mê Linh để đến nhà một đứa bạn cùng lớp.
Thuở đó còn nhỏ nhưng khi đứng trước nhà thằng bạn là một trong những biệt thự ở
chung quanh hồ tôi đã thấy cảnh ở đây đẹp lắm, không khác những tấm hình chụp
trong các tạp chí Pháp. Chỉ tiếc về sau này vì không được tu bổ nên hồ Mê Linh
đã cạn dần, cũng như hồ Vạn Kiếp, ngày nay chắc không còn trên bản đồ Dalat nữa.
Nhìn lên cửa sổ trên lầu, tôi lại nhớ căn phòng xinh xắn, giang sơn của tôi một
thời gian dài. Trên lầu có ba phòng ngủ, phòng phía trước là của ba mẹ tôi,
phòng sau là của tôi và phòng nhỏ nhất của em tôi. Vì nhà xây theo kiểu Tây cổ,
vách tường thật dày nên lúc nhỏ tôi có thể leo lên thành cửa ngồi chơi hay đọc
sách. Nhìn ra cửa là cánh rừng thông trải dài thoai thoải xuống sườn đồi, những
ngày mưa bão tôi thường ngồi nhìn những hạt mưa hắt vào cửa kính, những hôm trời
lạnh hà hơi thở trên kính để có một lớp sương mỏng rồi lấy tay vẽ nguệch ngoạc,
hay những buổi sáng sương mờ bao phủ trắng xoá chỉ còn nhô lên vài ngọn cây
cao, cảnh lúc đó đẹp như những bức tranh vẽ cảnh bồng lai.
Thuở ấy không gian của một đứa trẻ học tiểu học như tôi nhỏ
bé lắm, chỉ có gia đình và trường học cùng với mấy đứa bạn thôi. Ngoài giờ học,
tôi thường rủ bạn bè về nhà, lúc thì leo lên trần nhà bắt chim non hay ra sau
vườn tìm hang dế, xách nước đổ vào cho đến khi dế ngộp thở phải chui lên thì bắt.
Hôm nào trời mưa gió không ra sân chơi được thì xuống tầng hầm phá phách, kiếm
những bạc đạn cũ gắn vào miếng ván, thế là có chiếc xe cho mấy đứa bạn thay
nhau đẩy chạy ồn ào cả nhà, vì vậy chỉ chơi những khi ba tôi đi vắng. Thời thơ ấu
của tôi thật hạnh phúc, trong nhà đầm ấm ngoài xã hội không nhiễu nhương, nếu
có cũng không ảnh hưởng sâu đậm như ngày nay. Tâm hồn tôi vô tư và cuộc sống êm
đềm quá, lòng tôi tràn dâng một nỗi xót xa và nuối tiếc.
Tôi vào nhà cám ơn sự tiếp đón ân cần của bà chủ và xin phép
đi về, bà cho biết con trai của bà chút nữa sẽ về và thành thật mời tôi ở lại
dùng cơm trưa cùng con trai của bà cũng để con bà được làm quen với tôi, nhưng
tôi từ chối lấy cớ đã có hẹn ăn cơm với bạn. Trước khi bước ra khỏi cổng, bà
không quên gởi lời thăm cha mẹ tôi. Tự nhiên tôi cũng cảm thấy gần gũi với bà
và tiếc là đã chối từ bữa cơm, nhưng lỡ rồi đành chia tay và hẹn sẽ có dịp khác
đến thăm bà.
Buổi chiều tôi đi qua cầu Ông Đạo dọc theo bờ hồ hướng về
nhà Thuỷ tạ, trời không gió nên mặt hồ Xuân Hương phẳng lặng. Ngày xưa mỗi buổi
sáng tôi đều đạp xe đi học ngang qua hồ này. Vào những ngày lạnh lẽo, nước
trong hồ bốc hơi nhưng gặp lạnh tạo nên một lớp sương mờ bao phủ cả mặt hồ, đẹp
vô cùng. Những ngày sương mù dày đặc cách xa ba bốn mét không nhìn thấy gì, đi
từ nhà đến trường thì đúng với nghĩa tóc đã điểm sương. Lúc tôi rời Dalat thì
nhà Thuỷ tạ chưa là quán cà phê như ngày nay, bên trong trống vắng chỉ vài
phòng thay quần áo. Bọn chúng tôi thích ra đây tắm, phía sau có tháp nhỏ nhiều
bậc, một vài đứa bơi giỏi thường leo lên tầng cao nhất đưa hai tay thẳng lên trời,
nghiêng người phóng từ trên xuống, còn tôi và những đứa khác chỉ tầng thứ nhất
mà nhảy thì co hai chân lên để rớt tự do xuống nước. Tôi vào nhà Thuỷ tạ kiếm một
chỗ ngồi sát cửa sổ, gọi một ly cà phê rồi đốt thuốc là nhìn cảnh vật chung
quanh, bên kia là đồi Cù, xa hơn nữa là Viện Đại học Dalat, bên phải thấp
thoáng tháp trường Yersin, sau lưng là Hotel Palace... Nơi đâu cũng có bóng
dáng kỷ niệm một thời.
Quán cà phê Tùng là nơi tôi cùng mấy đứa bạn học làm người lớn,
chúng tôi kéo nhau vào đây gọi cà phê và hút thuốc lá. Nhớ ngày đó uống cà phê
chưa phân biệt ngon dở ra sao, thuốc lá cũng không dám rít mạnh sợ sặc khói thuốc.
Tối nay tôi ngồi trong quán nhớ lại đám bạn bè mà nay mỗi đứa một phương trời,
những "Hồn ma cũ" * như hiện diện đâu đây, tôi hình dung chỗ này đứa
này, chỗ khác đứa kia, những cái đầu tóc còn xanh chụm vào nhau nói chuyện tóc
đen tóc bạc rồi cười khúc khích... Tôi ngẩn ngơ luyến tiếc một quãng đời tươi đẹp
mỗi ngày một xa. Đang thả hồn về dĩ vãng thì thấy có ba thanh niên xuất hiện
trước cửa, họ bước vào quán nhìn quanh rồi tiến lại chỗ tôi ngồi, một gã cuối
xuống lấy bao thuốc lá và hộp quẹt gaz tôi để trên bàn, tự nhiên chia cho hai
gã kia mỗi người một điếu, bật quẹt mồi thuốc xong thì cất vào túi rồi cùng
nhau đi ra khỏi quán. Tôi im lặng nhìn theo hành động của ba người thanh niên,
trong lòng bình thản như chẳng có chuyện gì. Nhưng một lúc sau tôi mới giật
mình, không lẽ chỉ có mấy năm thôi mà tôi đã quen thuộc với những gì xấu xa tệ
hại, chấp nhận nó như là những chuyện bình thường hay sao! Chỉ mấy năm thôi!
Kinh khủng quá! Tôi bỏ dở ly cà phê đứng dậy ra về , lúc này tôi mới cảm thấy
xót xa .
Có lẽ hai lần uống cà phê làm tôi khó ngủ, nằm đọc hết mấy
truyện ngắn cũng không làm mỏi mắt, tôi tắt đèn nhắm mắt cố dỗ giấc ngủ nhưng
những hình ảnh ghi nhận được trong mấy ngày qua cứ như khúc phim được chiếu đi
chiếu lại, khiến tôi phải suy nghĩ nhiều.
Thế rồi trong không gian im lặng vang vọng tiếng gõ đều đều,
tiếng càng lúc càng gần hơn. Tôi ra khỏi giường bước ra cửa sổ nhìn xuống đường,
xa xa dưới ánh đèn vàng vọt là một chiếc xe ngựa chở rau ra chợ. Xe ngựa đã biến
mất khỏi Dalat có đến hơn hai chục năm nay, đời sống đang đi lùi lại quá khứ. Nằm
lại giường lắng nghe tiếng chân ngựa chậm rãi đều đặn trên đường, âm thanh
trong đêm vắng gợi lên một cái gì thật xa xôi và buồn bã. Tôi chợt tưởng tượng
đến chiếc xe ngựa của chàng David trong truyện của nhà văn Thuỵ Điển Selma
Lagerlưp, chiếc xe của chàng đi gom nhặt xác chết cho thần chết; rồi đâm ra ngại
ngùng vì quanh đây cũng có nhiều sinh linh đang thoi thóp vì đời sống nhọc nhằn
khổ đau này.
Buổi sáng tôi đem giấy nghỉ phép ra sở Công an chứng nhận
ngày rời Dalat để hôm sau về lại Sài Gòn. Một ngày dài còn lại tôi đi lang
thang vô định trong thành phố, nhớ nhiều quá khứ thì cũng thổn thức cho hiện tại
và lo lắng cho tương lai. Có nơi nào bình yên để về? Hay phải có hành động như
người đàn bà trong câu chuyện cổ "Hà chính mãnh ư hổ" của Trung Hoa,
tìm một chốn trong rừng vắng sống với thú dữ còn hơn!
Dalat mãi mãi là của tôi, nhưng là Dalat của những ngày xa
xưa ấy!
Lập đông 04
Hà
Đạo Hàm
* Tên một truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc