|
|
Hình minh hoạ; https://www.goodfreephotos.com
|
Khi cây bạch dương sau nhà trở mình thì lá mùa thu cũng đã
chuyển sang màu vàng nguyên chất. Nắng ngọt dịu của tháng mười một ấm như nắng
hanh vàng ngày nào nướng chín trái bí ngô, quả cam, trái chuối.
Tháng ba lưng lưng chim hót ngang trời thật ra không làm người
di tản thấy vui như mấy tháng dài mùa thu len lén vào tim.
Trong những khu vườn Việt Miên Lào ở Oregon, mùa thu ánh lên
màu vàng từ trái hồng ngâm và màu cám gạo lứt của trái lê. Hai thứ trái cây
trân quý này hương vị ngọt thanh nhưng về hình thức, trái hồng đội một cái nón
trên đầu trông như cái chụp đèn nên không đẹp.Thứ quả này lại chín vào cuối thu
nên không đủ nắng để ngọt.
Tháng bảy ngày rầm xá tội vong nhân.
Tháng tám chơi đèn kéo quân,
Trở về tháng chín chung chân buôn hồng.
Câu ca dao cho thấy hồng là một thứ quả đắt giá, các con
buôn phải góp tiền hùn vốn với nhau mới bán mua nổi cái thứ trái cây này.
Trong truyện Tàu, hồng là một thứ trái cây của lính: đoàn quân
viễn chinh Trung Hoa ngày xưa, buổi mai thức dậy từ bốn giờ sáng tập luyện môn
võ công Tài chi đã điểm tâm một trái hồng và một chén cháo kê.
Tôi, tên Lê Thị Hảo, ngày xưa dạy quốc văn trường Hàm Nghi
Huế, hiện đang đứng nói chuyện với bà láng giềng bên hông.
Bà bạn tóc vàng của tôi nhún vai: “Trái Asian pear với trái
persimmon không chua mà cũng không ngọt để chúng ta làm jam, làm jello và
jelly.”
Tôi kể ra: “Người Mỹ chỉ thích cắn trái apple thôi. Mỗi năm,
một người Mỹ trung bình ăn 60 pound nho tươi. Người Mỹ nhai nho trông thật điệu
và khi từ trên lầu cao bước xuống nhà dưới trong thật lẹ và nhanh như lướt.
Bà hàng xóm lắc cái đầu vàng cười: “Trái cây thì phải ngọt,
chỉ có trái dưa mới nhạt. Nghĩ cũng lạ, cây xứ nóng đem sang trồng ở đây thì hớn
hở ra trái như điên; trong khi đó cây honey dew và cây cantaloup của chúng tôi
ngày xưa đem sang trồng ở Việt Nam thì èo uột chết nghẻo.”
Nàng hàng xóm này là chủ nhân một cái máy cắt cỏ kêu la to
nhất xóm suốt mùa hè vừa qua, tươi cười tiếp: “Tôi cũng không ưa thứ trái cây
có sạn trong ruột như trái Asian pear. Hảo! hãy nhìn cây Asian pear và cây
persimmon của Ruan trái ra chi chít, coi chừng gẫy cành đa! Phải hái bớt vứt đi
thì trái mới to.
Hảo tức là tôi tỏ ra thân mật: “Người Nam chúng tôi trồng
cây trái và rau quả là cốt để cho người và chim muông cùng thưởng thức, chia xẻ
tình bằng hữu để hiểu nhau và thân nhau hơn. Chúng ta là hàng xóm, lũ chim trên
cây bạn hiền tinh nghịch.”
Hảo giảng thêm rằng có hai loại chim: chim ăn chay và chim
ngã mặn. Khác với loài người, bầy chim ăn chay green finch, blue jay, ani...
không phải là những con di điểu đã từng bay sang Nhật tu học Thiền, tránh xa
nghiệp chướng karma và charm, mà đích danh là những đặc công phá hoại ngày đêm
mổ rỉa trái chín. Trong khi đó thì lũ chim ăn mặn tức là những con tropon,
magpie, plover... thì lại ngoan hiền như những tín đồ Phật tử ngày đêm mổ sâu
moi đất diệt trùng thân ái giúp các nhà nghệ sĩ làm vườn phát triển tài hoa trồng
tỉa.
Nhìn những cây lê cây hồng của người Việt Nam sai quả nặng
trịch, Hảo nhớ lại hồi xưa lúc còn cuộc chiến, Tổng thống Eisenhower phái đại
tá Edward Landsdale, người hùng của đệ nhị thế chiến, sang Nam làm cố vấn quân
sự tại dinh Độc Lập, Tổng thống Mỹ tặng dân Việt Nam Cộng Hòa một quả dưa
honey-dew và một quả dưa cantaloup, bộ canh nông cho đem trồng ở Đà Lạt. Mười
tháng sau, dân Đà Lạt được thưởng thức một trái dưa cantaloup to bằng cái trứng
gà và một quả dưa honey dew ăn nhạt thách như dưa leo Anh Cát Lợi.
Nhìn những cây lê cây hồng đậu đầy trái, Hảo lại nghĩ rằng
người mình có cõi lòng nồng nàn và tâm tình ấm ngọt. Khi mùa trái cây đến, họ
hái làm quà cho nhau. Đây là điểm tựa của câu tục ngữ “có đi có lại mới toại
lòng nhau.” Ngày còn chiến tranh đỏ rực, Nga Sô đã viện trợ cho Cộng Sản Bắc Việt
đầy đủ hỏa tiễn địa không để bắn rớt tàu bay Mỹ và để bắt sống phi công Hoa Kỳ.
Khôn lanh hơn dân tộc nào hết trên quả đất điêu đứng này, và
cũng thông minh hơn bất cứ dân tộc nào hết trên quả đất bầm dập này, là Cộng Sản
Bắc Việt. Sau khi ký thỏa hiệp trao đổi tù binh với Hoa Thịnh Đốn, ai cấm họ chỉ
trao trả cho Mỹ một nửa số phi công rớt tàu bay mà thôi, số còn lại cứ việc đem
cống hiến Nga Sô để tạ cái ơn đã cho họ hỏa tiễn Sam. Đó là tài xử thế, phép
giao thiệp ở đời. Người Nga dại gì mà không dùng những tù binh này để dạy sinh
viên không quân Nga lái tàu bay tại những nơi nào đó trên lãnh thổ Nga như là
“Đại học máu” hoặc “The charm school.”
Vì thế cho nên Hảo đã trồng một cây hồng ngâm trước ngõ để lỡ
ai cho Hảo một trái lê thì Hảo lập tức biếu lại một trái hồng. Cố nhân đã xác định
rằng trồng hồng ngọt và lê lành là cốt để đem cho nhau lấy thảo chứ ai lại nhai
rau ráu một mình coi kỳ lắm.
Hảo chào bà bạn trở về vườn mình. Một khu vườn cỏ mọc đủ
nuôi một con bò. Một giống giặc cỏ khỏe mạnh tên là cỏ ống, không thể cắt cụt bằng
máy được mà phải nhổ cả gốc. Nhìn cỏ tươi non quá, Hảo nghĩ tới những chuyện
tình xanh. Quê nhà giờ đây chiến tranh đã chấm hết hơn ba mươi năm nay rồi nên
tất cả văn sĩ đều không viết được một chuyện tình nào thật xanh và thật tươi
như cỏ. Vậy thì đời sống đã khô héo rồi. Hảo bỗng sực nghĩ rằng cả hơn tháng
nay quên không tưới cây. Nhưng trước hết hãy lưu ý tới đám giặc cỏ ống này đã.
Từ xưa, đàn bà vẫn quan niệm trọng hoa khinh cỏ nên không hiểu được nỗi lòng và
xác thịt của cọng cỏ cũng đa tình như họ. Cỏ lắm khi cũng có tư cách và tác
phong của nhà nho chứ không phải bao giờ cỏ cũng lả lơi đùa cợt như cô gái điếm
duyên dáng dễ thương. Cỏ purslane, cỏ crabgrass, cỏ gà, cỏ cú, cỏ may... tâm tư
của mỗi bụi cỏ cũng là tâm tư của Hảo. Cỏ hổ ngươi... Sách thuốc Tàu dạy rằng
nơi chỗ nào nhiều phấn thông thơm vàng và bột bướm bướm theo gió bay khắp, lọt
vào miệng và cổ chúng ta hồi nào không hay, thì đích thị quanh quất đâu đó thế
nào cũng mọc sẵn một vạt hổ người, trinh nữ làm dáng gai góc giữ gìn hạnh kiểm
và luân lý!! Chúng ta cứ việc nhổ lên đem về nhà nấu uống. Hôm sau chúng ta sẽ
bớt ngứa cổ và nghẹt mũi.
Bốn giờ làm vườn trôi qua. Hảo bước tới cạnh hàng rào bà
láng giềng để nhổ tận gốc một hàng cây nhỏ mọc đâm chồi qua khe hở vườn nhà người
ta. Vài chùm bông dại màu tím sà xuống trên tóc bạc, Hảo nghĩ tới hoa bắp và
hoa bèo lòng thấy thương thương nhà thơ Hàn Mặc Tử.
Cố gắng làm thêm một giờ nữa, Hảo đói bụng tưởng có thể nuốt
ực một nồi cơm điện và một con gà lôi nướng lá chanh nên phải vào nhà lục tủ lạnh.
Trong lúc chờ hâm nóng thức ăn, Hảo nặn cái bắp thịt ở cánh tay và thấy nó cứ
nhão ra mỗi ngày và chưa đụng vào đã rung rung như jello Mỹ. Một chàng thanh
niên Mễ chạy xe vô hẻm, âm nhạc từ máy car stereo xẹt ra như tiếng rú.
Hảo vừa định ăn cơm thì điện thoại reo: “Hello chị Hảo. Khỏe
không? Lệ đây, chị còn nhớ Lệ không? Có phải mấy đứa con của chị đều Mỹ hết phải
không?”
Đây là một câu hỏi Hảo đã quen nghe, nên trả lời không vấp
váp: “Con gái đầu lòng của tôi lấy một con trai của một cựu chiến binh Hoa Kỳ động
viên sang Nam năm 1969, gia nhập tiểu đoàn A, đại đội 7, sư đoàn bộ binh 402.”
“Con trai của chị cũng lấy Mỹ hết phải không?” Làm như là một
câu hỏi đầy tính cách bảo thủ.
“Đúng vậy. Thằng con Út của tôi lấy con gái của một chuẩn úy
không quân Mỹ, quân dịch năm 1971 khi Tống thống Nixon bỏ bom và gài mìn quân cảng
Hải Phòng.”
Bà Lệ, Lệ Đá ném thêm một cú nữa: “Chị có bao nhiêu cháu nội
cháu ngoại Mỹ?”
Hảo dễ dàng đỡ: “Chỉ vài đứa thôi, nhưng tôi không nhớ rõ mắt
chúng nó màu xanh, màu xám, hay màu nâu hạt dẻ.”
Hảo nhớ lại những ngày ở Sài Gòn đường Trần Quốc Toản, trong
hẻm cụt, một ông cảnh sát có hai cô con gái lấy Tây và một cậu con trai lấy
Tàu, cả xóm kêu ông là ông Quốc tế.
Lệ-đá thở dài: “Hồi anh còn sống, bạn bè ai cũng thương anh.
Anh không ngoại hóa.” Lê-đá lại thở dài nữa: “Bạn bè ai cũng mến anh vì anh
không tự bứng gốc, không thay quốc tịch, anh không từ chối quê hương.”
Những lời nói ấy nghe buồn như những dòng thơ mới do các thi
sĩ hiện đang sống tại hải ngoại sáng tác. Lê cười lên mấy tiếng lẻ rồi chào.
Điện thoại trở lại yên lặng cho đến hai giờ sau mới reo lại:
“Hảo, Hảo ngọt, có phải bồ đó không?”
Đúng là giọng nói của Trang bạn cũ đang ở tiểu bang
California nơi có nắng Sài Gòn đa tình. Trang luôn luôn kêu Hảo là Hảo ngọt vì
nghĩ rằng chất đường trong lời nói sẽ làm Hảo lên tinh thần.
Trang la lên thật thân mật “Cuối tháng này tụi này về Việt
Nam, vé máy bay đã mua rồi.”
“Mấy tháng trước ông bà đã về rồi, nay lại về nữa?”
Trang cũng hỏi, “Bồ có muốn gửi gì về cho gia đình không?”
Hảo ngồi gục cổ. Trong nhà tôi hiện chỉ có một nửa bao gạo
nàng Hương, một chai nước mắm, một chai xì dầu đậu nành, mấy cân thịt trong tủ
lạnh, và hai mươi đô la tiền mặt. Theo sở Welfare office thì cái nhà đang ở và
cái xe để đi đây đi đó không phải là đồ để gửi.
Trang nhảy qua chuyện khác: “Này bồ ơi, con mẹ Liên bỏ thằng
cha Sĩ rồi, để chạy theo một kép trẻ ở Alaska! Con mẹ quăng hai đứa con vào tay
ông chồng để chui vào giữa cặp đùi chàng tình nhân đánh cá.”
Hảo chú ý nghe bạn nói tiếp: “Làm sao chịu được cái lạnh ở
vùng địa đầu Alaska nhỉ?
Hảo cứ yên lặng để nghe thêm: “Chắc hơi ấm của thân thể khiến
họ bất chấp hơi lạnh.”
Hảo nói: “Tha hồ ăn đồ biển. Ăn cá ngon hơn ăn thịt.”
“Nguyên do tại cái ông chồng già của con mẹ quá ngu quá tin
vợ, đã chứa chấp chàng đánh cá đó trong nhà. Chàng đánh cá là bạn học cũ của
con mẹ.”
Hảo gật gù: “Khơi khơi để sỗng mất mụ vợ. Đàn ông và đàn bà
phải giữ đúng luật nam nữ thụ thụ bất thân. Bạn gì mà bạn, nó leo lên người bà
nó nhún nó nhồi hồi nào bà không hay.”
Trang ừ một tiếng dài: “Con mẹ đó đá văng tưng ông chồng trí
thức thì tui OK, nhưng con mẹ đó bỏ công ăn việc làm để chụp một chàng đánh cá
salmon ở Alaska tui nhức đầu. Con mẹ đang làm ỏ hãng State Farm lương lãnh một
năm trên 50 nghìn dollar.”
“Tình yêu đại thắng full-time job. Tình yêu xanh tươi hơn tiền
tiêu.”
“Hãng State Farm đóng cho con mẹ hơn hai phần ba tiền bảo hiểm
nhân thọ mỗi năm.” Trang lại xuống giọng trầm: “Con mẹ không phải trả một xu bảo
hiểm sức khỏe nào cả. Toàn gia đình con mẹ được khám bệnh miễn phí, mua thuốc
trụ sinh miễn phí, được mua bao ny lông ngừa thai miễn phí, nhe răng há miệng
cho nha sĩ trám răng miễn phí. Bồ Tát ơi! Bây giờ mà còn có người bỏ tiền chạy
theo tình.”
Rồi Trang kết luận: “Bồ Đề Đạt Ma ơi! Như con đây, con chỉ
biết tiền mà thôi.”
Sau một hồi tung hứng, chuyện dài Việt kiều tạm ngưng, đôi bạn
già gác máy. Chuyện dài Việt kiều hải ngoại đại khái là tình dục, là sức hút của
thân thể, tình và tiền , tình và thù, tình và lửa.
Hảo quay lại. Từ tấm ảnh lớn thờ ở phòng khách, chồng Hảo lặng
lẽ ngó thẳng, với đôi mắt Hảo có thể diễn ra trăm lời trách móc. Em vẫn còn chống
Chống Cộng phải không em? Bao nhiêu thập niên đã qua đi, anh nghĩ rằng bây giờ
trong cái nhà này người chống Cộng phải là anh.
Tôi ngồi ngó vào đôi mắt chồng, nguời chết nói tiếp em không
phải là người nội trợ tốt, em lười biếng làm bếp , bỏ bê vườn tược, không thích
dọn dẹp nhà cửa, và trên tất cả những tội tình đó, em còn phạm một lỗi nặng nữa
là không biết dạy con. Dạy con cầm đũa ăn cơm. Em không có tâm hồn của một
ngưòi mẹ. Thiên chức tối cao của em là làm mẹ., người dạy trẻ phải bền lòng
kiên chí, cấm bỏ cuộc và phải tự tìm ra nguồn cảm hứng và cái đẹp trong nghệ
thuật của đạo đức. Nuông chiều con và sợ con là hèn. Khi kẻ làm cha mẹ tỏ ra sợ
con thì gia đạo là một ngõ bí. Hãy nhìn vào cộng đồng người Việt để thấy luân
lý còn tươi sáng lắm, anh thấy người đàn bà nào cũng thật dễ thương! Nào bà
Hương, nào bà Huệ, bà Cúc đang nấu cơm trong bếp... họ vo hạt gạo không gảy, họ
đổ nước vào vừa phải, và khi hạt gạo thơm chính hiệu con nai đen vừa chín tới,
hạt cơm không nhão nhẹt một cục ở đáy nồi. Lấy em, anh phải tự tay nấu lấy nồi
phở mà ăn vì em không thích mùi ngũ vị huơng và rau húng quế. Người đàn bà này,
em muốn gì? Thì giờ của người đàn bà là của nguời đàn ông. Đời của người đàn bà
là một diễm phúc được lệ thuộc vào đời đàn ông. Tự do của đàn bà là cơm áo, là
sự hiến dâng đồ ăn cho đàn ông.
Người đàn bà là một nghệ sĩ sáng tác ra cái ngon, cái đẹp.
Lý tưởng cuả đàn bà là phục vụ chồng. Nghĩa vụ của người phụ nữ là cái bếp, cái
vườn và cái nhà. Khi người đàn bà còn, là cái bếp còn. Một lần nữa, em hãy
trông gương các bà Huơng, bà Huệ, bà Lan... trong cộng đồng người Việt, họ dạy
con nói tiếng Viet , tiếng mẹ đẻ, họ mớm cho con trẻ chút hạnh phúc trong tình
yêu quê huơng. Em, em trái lại, em dùng con để học Anh ngữ, để thực tập
English, để trau dồi vocabulaire, để bắt chước cách phát âm đúng giọng. Chính
em là một nguời mẹ mất gốc, trước khi con chúng ta mất gốc. Bánh cookie của người
Mỹ ngon quá phải không em?
Hảo đứng phắt dậy, cầm cái mặt tiền của tấm ảnh quay vào tường.
Hãy xếp lại những lời anh nói. Một người nói, một người cãi, đó là hai đương sự
đã tự mình phá hạnh phúc của chính mình. Hạnh phúc, hãy nghĩ rằng, là một sự im
lặng. Chịu thua không phải là thua.
Buổi tối, Hảo ăn cơm trước mặt kính TV, chương trình “Little
Saigon” chiếu cảnh đám tang nhạc sĩ Trần Thiện Thanh tức ca sĩ Nhật Trường, giọng
ca tình cảm nhất một thời mù mịt lửa chiến tranh. Hiện diện trong tang lễ, nhạc
sĩ Nhật Ngân trong quân phục màu dầu olive đứng cạnh một thằng bé đội khăn
tang, mặt áo chế vải thô đưa tay ngang trán chào quốc kỳ Việt Nam. Thằng bé chắc
là cháu đích tôn thừa trọng của Trường. Sau lưng nó, thân nhân của Nhật Trừơng,
gồm phần đông là phụ nữ trẻ tuổi buồn bã hát một ca khúc của Trần Thiện
Thanh.
Tiếp theo, màn màn ảnh nhỏ quảng cáo dịch vụ bán xe hơi của
anh Duy Đặng và anh Phan Cường. Sau đó, màn ảnh nhỏ chiếu cảnh Mục sư Nguyễn
Xuân Bảo đem cơm về quê huơng cho đồng bào. Đúng ra, Mục sư Bảo đã vác gạo về
Việt Nam nhưng Hảo dùng chữ cơm vì gạo nấu chín sẽ thành cơm.
Buổi tối ấy cùng với cây bạch dương và cây liễu rũ sau nhà
trở mình, Hảo trằn trọc không ngủ được vì cú điện thoại của Lệ-đá. Sách báo ở
đây vẫn đề cập đến những cái khó khăn trong công việc giáo dục thiếu nhi. Thống
kê cho thấy tỉ số trẻ con biết vâng lời cha mẹ khuyên bảo chừng độ 18 phần
trăm, 82 phần trăm kia là do tay chúng tự tạo lấy, do nhân tính của tuổi trẻ
trong môi trường học đường và xã hội. Một bài giáo khoa nhắc tới tấm gương sáng
do bà mẹ của nhà độc tài Staline nêu lên. Mẹ của người hùng đỏ Staline là một
người đàn bà mềm dịu nhưng cũng là phụ nữ cứng mạnh trong tinh thần và ý chí đã
uốn vặn khối kim khí quý Joseph Staline trở thành danh nhân số một hoặc số hai
của đệ nhị thế chiến. Ở Nga Sô và các nước Cộng Sản, công việc dạy con chắc
cũng khó khăn như đánh tư bản vậy. Ở Hoa Kỳ và các nước tư bản, công việc dạy
con có khó khăn như đánh Cộng Sản không?
Có những giấc ngủ cần đọc chuyện tình nên có những chuyện
tình dành cho giấc ngủ. Hảo lướt mắt qua một truyện ngắn kể chuyện một phụ nữ
quan niệm rằng nếu yêu ai , cô tha cho người ấy khỏi phải cuới cô, cô chỉ đến
ngủ với nguời ấy chừng vài chục đêm thôi rồi cô de. Hảo nghĩ rằng cô ả Thị Mầu
này chắc luời nấu ăn số dách và chắc rất thông minh. Thế nào là một người đàn
bà thông minh? Ai cũng biết rằng người thông minh là một người giỏi toán và học
bài mau thuộc. Theo kinh nghiệm, chữ “thông minh thường đi kèm với chữ khôn.
Người “khôn” và người “thông minh” là những kẻ đầu óc sáng suốt, hiểu nhiều biết
rộng, suy nghĩ nhanh và ứng đối mau lẹ. Sau đó ta có thể nói thêm rằng người
khôn có thể là người thâm và người thông minh đôi khi có thể là người dại. Vậy
thì cô ả thông minh đó chắc phải nắm trong tay một công việc bảo đảm lắm!
Mỹ là một dân tộc mà Hảo chưa thấy người đã nghe tiếng rên rỉ
về nạn thất nghiệp leo thang. Việt Nam là một dân tộc mà người Sài Gòn không
công ăn việc làm tràn ra khỏi nhà đi đứng chật đường.
Mười mấy năm về trước ở Seattle, Hảo như một cô hồn vất vưởng
đi tìm việc vì nhà băng ở Seattle lâm nạn phá sản. Hảo đứng hàng đầu trong danh
sách nhân viên sẽ bị sa thải. Mười ngón tay đánh máy dưới 25 chữ một phút,
không biết thay bóng đèn cho cái computer mình phải xử dụng hằng ngày và khi
máy vi tính nhiễm trùng virus thì không biết lau chùi.
Một nam đồng nghiệp da màu nâu nhạt đã dùng một củ khoai môn
xứ Hawaii cắt tiện thành một cái ten-key bỏ túi để giờ ăn trưa anh ta đặt nó
lên đùi rồi miệng nhai khoai môn Hạ Uy Di tay mò mẫm sờ vào cái máy vi tính đó
để thực tập. Anh ta trở nên một nhân viên đánh máy và bấm số đúng nhất phòng kế
toán. Hảo đưa tiền nhờ anh ta làm cho mình một cái máy đúng y như vậy nhưng thực
tập đuợc hai tuần lễ thì mủ khoai môn ngứa tay gải bóng lên. Người Việt Nam
không thể bì với người Hạ Uy Di được: họ ăn khoai môn từ lúc vừa mới đầy tháng.
Bé thơ bú sữa khoai môn nhiều chất dinh dưỡng hơn sữa đậu nành và ăn khoai môn
nghiền nát thành baby food. Người lớn tiêu thụ chừng hai ký khoai môn mỗi ngày
gồm cả lá và thân cây muối dưa hoặc xào tươi với hải sản. Nguời già răng rụng
thì húp xúp khoai môn nấu nhừ.
Khi lũ bạch quỷ tây phương đến các quốc gia hải đảo Thái
Bình Dương đặt thuộc điạ, người da trắng đã chở vô số phân bón Hoa Kỳ đến Hạ Uy
Di. Lần đầu tiên dân hải đảo thấy phân bón Mỹ, tối tân, sạch sẽ, khô ráo, đựng
trong bao cẩn thận như bao gạo! Củ khoai môn Hạ Uy Di trở nên to như cái chày vồ
giã gạo. Cùng một thời, du kích Cộng sản quốc tế xâm nhập Hạ Uy Di, nhưng thất
bại vì biển bao vây không có đường rút lui và ngư dân thờ ơ. Cộng sản với nông
dân khi sống như cá với nước và khi chết như cá ướp muối.
Nhìn hai tay dính mủ khoai môn của Hảo, anh bạn bảo: “Nếu để
nhà băng đuổi thì mất toi tiền hưu non. Sở an sinh xã hội đang cần một thư ký xếp
hồ sơ.”
Hảo về nhà dục con gái: “Điện thoại đến chỗ này xin việc cho
mẹ.”
Nó phản đối: “Mẹ xin việc làm, tại sao mẹ không gọi cho người
ta mà lại sai con.”
“Tiếng Anh ú a ú ớ, mẹ gọi điện thoại cho bao nhiêu chỗ
nhưng không nơi nào cho mẹ đi phỏng vấn cả.” Hảo nói.
Hảo nói tiếp, “Con xưng tên con là Hảo, con nói với họ con
là mẹ nghe không!”
Chờ hai ngày, Hảo đuợc kêu đi phỏng vấn, bà xếp nói ngay sau
câu hỏi đầu tiên: “Trong điện thoại, “you” nói English rất là ‘gheo’ nghe tốt lắm
mà!”
Năm Hảo 48 tuổi, hôn nhân kết thúc, người chồng rũ áo vô thường
ra về bên kia bến khổ. Người Vietnam tính hay đi trễ, như người Mễ hay ăn đậu,
nhưng khi đã hẹn gặp tử thần, người Việt Nam luôn luôn giữ đúng lời hứa, sớm một
giờ không đi, trễ một giờ không ở. Năm ấy chồng Hảo chưa tròn năm tư tuổi.
Năm đó, con gái đầu lòng của Hảo, Thúy mới mười bảy tuổi, bắt
buộc phải đi làm và xin được việc đứng bán chè ba màu ở một tiệm ăn Việt Nam. Mấy
cậu khách hàng kêu nó cô bán chè ơi! Nhiều lúc bốn năm cậu cùng gọi chè một
lúc, nó pha màu không kịp, các cậu xúm lại cự nự nó, ông chủ phải chạy tới đứng
giữa dang hai tay ra đẩy các cậu lui.
Năm tháng trôi qua, khi nhà băng phụ ở Seattle chính thức
phá sản, Hảo tự lưu đày xuống phố Portland làm việc với nhà băng chính. Hảo
thuê một chỗ ở dưới đó. Bốn đứa con chưa đem đi theo được khi ngôi nhà rao bán
cả năm không ai mua.
Đọc sách Cổ học tinh hoa, một bài luân lý kể chuyện một chị
lợn cái đẻ ra bốn con heo con ụt ịt, trong đó có hai bé heo giống mẹ sắc đen
tuyền, còn hai chú nhỏ kia thì loang lổ trắng đen. Ngụ ý luân lý của bài cổ học
này là giữa người và lợn cũng có điểm giống nhau về tinh thần cũng như thân thể
và ảnh huởng của cha mẹ gieo vào con cái lên đến 50 phần trăm.
Thời gian mẹ con xa cách kéo dài hai năm chờ đợi bán ngôi nhà
Lỗ Tấn. Bà bạn ở Seattle gọi đùa cái nhà của Hảo là ngôi nhà Lỗ Tấn. Cái nhà
này năm 1980 trị giá hai mươi lăm ngàn dollar. Trong thòi gian chờ đợi, cứ cách
hai tuần lễ Hảo lái xe từ Portland về Seattle xào nấu một mớ thức ăn để tủ lạnh
và kỳ cọ hai cái buồng tắm. Mỗi lần về nhà, con lợn mẹ gầy còm này nhận xét chỉ
có hai con heo con ở nhà coi tivi hoặc làm bài tập, còn hai con heo ranh kia
thì đang đi bụi đời đâu đó ngoài đường với đám ngựa chứng.
Nhà bán xong, Hảo chỉ bắt đựơc ba thằng con trai theo về
Portland, con Thúy cương quyết ở lại để sà vào nhà cha mẹ thằng bồ Mỹ của nó
xin cắm dùi.
Hảo kêu: “Con làm như vậy không được, người Việt Nam sẽ cười
mẹ.”
Hảo nghe con của mình chọi lại: “Được mẹ ạ, đây là
overseas.”
Đây là hải ngoại. Đây là nơi tôi mất quyền hành trước sức mạnh
của con tôi? Đây là nơi tôi có một gia đình nhưng tôi không trị nổi. Đây là nơi
tôi bất lực như Hoàng đế Thiệu Trị, vì vua nhu nhược nhất cuả triều Nguyễn, người
đã buông tay không nắm lòng dân, không quật lại quân Pháp... Không cách chi Hảo
tìm ra được một nơi chỗ cho con gái ăn nhờ ở đậu. Cái nhà là nhà của ai, công
ai làm ra người ấy ở và bảo trì. Cái nhà của tôi là phần thưởng tôi đã đoạt và
riêng tôi thưởng thức một mình, làm vuờn và trồng cây ăn trái, không cá nhân
nào được xông vào cắm dùi. Kẻ cắm dùi là kẻ xâm nhập trái phép, xâm phạm quyền
tư hữu và quyền tự do. Chiến tranh cũng có thể là do sự dành giựt một chỗ ở và
là sự bảo vệ một chỗ ở như chiến tranh Việt Nam và Triều Tiên.
Người Tàu bảo nuớc Mỹ là một nước đẹp, một nước cười, môt nước
đã dạy ta lòng thương yêu chó mèo. Một chân trời có khí hậu nhân đạo, một thời
tiết lạnh nhưng không phải cái lạnh ác đức như ở Nga sô, nước Mỹ là một đất hứa
mà dân bất mãn từ bao quốc gia khác, nhiều nhất là tầng lớp nông nô bần cố ở
Nga sô mơ ước đến xin tị nạn Cộng sản phản bội họ. Sau cách mạng dân bần cố
nông Nga vẫn bị giai cấp khác đè đầu.
Hảo bảo con: “Bố chết rồi, con nên thương mẹ hơn, con về ở với
mẹ.”
Nó im lặng như thể ngầm bảo mẹ không thể cắt đứt được mối
tình Việt- Mỹ nhỏ nhoi này.
Khi rứt lìa nó ra để lái xe về định cư ở Portland, mẹ con ôm
nhau, níu giữ nhau khó tách rời. Từ chiếc radio cầm tay, có tiếng hát bài “lòng
mẹ” mà tôi nghe như bài đạo ca “No coming, no going” của sư cô Anabel Chân Đức
Nghiêm. Đi không phải là biệt ly, lời bài hát vỗ vào lồng ngực, dội vào xương
sườn, xương vai, chảy vào động mạch, tĩnh mạch. Mẹ muốn bắt giữ con, cầm tù đời
con, ghì lấy con, trói cột con vào lòng. Mẹ bóp nghẹt con rồi mẹ thả con ra thở
tự do. “I hold you close to me, I release you to be so free.” Mẹ túm lấy cổ
con, cột chặt con lại rồi mẹ mở trói cho con tự do. Mẹ nuốt ực con vào lòng rồi
mẹ nhả con ra, con thiên nga của riêng lòng mẹ, mẹ nghiền ép con, mẹ dát mỏng
con ra rồi mẹ thả tay ra cho con bay. Con gái của mẹ, mẹ cướp đoạt con rồi mẹ
phóng thích con đây. “ I am in you and you are in me.” Trong con có mẹ và trong
mẹ có con. Bàn chân tôi có còn đứng trên mặt đất không? Đầu tóc con tôi úp vào
mặt tôi. Bó tóc huyền, sợi to như sợi chỉ thêu bung ra che kín mắt mũi tôi và
hình như hai mẹ con không còn nghe biết gì nữa hết ngoài màu đen và tiếng thì
thầm của suối tóc con gái cùng hương thơm hoa đồng cỏ dại thuốc gội đầu con
dùng hằng ngày. Con thơm như hoa lilac, con thơm như hoa lily, con thơm như ổi
xá lị.
Người đàn bà này, người đàn bà do tôi đẻ ra, thế nào rồi
cũng phải xa nhau, nhưng chúng ta không mất nhau vì trong con có mẹ và trong mẹ
có con, dù chúng ta có cách chia nhau qua muôn vạn đường bay, đường biển, đường
bộ, trong con vẫn có mẹ và trong mẹ vẫn có con!
Sau bao nhiêu ngày dài từ Seattle Thúy điện thoại về. “Mẹ, mấy
ngày đầu, ông via bà via của Jeffrey theo dõi con như thám tử rình thủ phạm.
Ngày thứ nhất, con không rửa bát, cái máy làm. Ngày thứ hai, ông bà ấy bí mật
coi ngó từng cử động con làm, họ to mắt ngạc nhiên thấy con dọn dẹp đồ dơ trên
bàn ăn vào bếp nhưng tại sao con không dụt mấy cái khăn giấy lau miệng vào sọt
rác mà lại cất vào một chỗ rất cẩn thận. Khi con rửa bát xong, họ thấy con dùng
mấy cái giấy tissue đó để lau bếp, lau floors... họ bèn bỏ ra ngoài coi ti vi.
Từ đó , họ thôi không rình rập và dòm ngó con nữa! Cuối tuần, Jeffrey về thăm
cha mẹ và ăn cơm nhà. Hắn và con đi chơi vui lắm.”
Đêm sau, Thúy lại gọi về. “Mẹ... khi cất thịt gà trong tủ lạnh,
mẹ nhớ gói thật kỹ trong túi nylon nghe! Mẹ dạy con nấu cháo gà đi! Ông via bà
via của Jeffrey thích ăn cháo gà lắm. Mẹ, đi đâu về, mẹ nhớ khép dù lại truớc
khi bước vào nhà nghe mẹ, và khi đi đâu, mẹ nhớ chỉ mở dù ra khi đã bước ra khỏi
nhà nghe mẹ! Phải kiêng nghe mẹ.”
Thời gian này, nhà băng ở Portland rục rịch phá sản để sau
đó nhập vào nhà băng Wells Fargo. Nhiều khi ngồi trước máy computer không có việc
gì mà làm. Ngồi đợi xếp ban ơn đưa việc đến tay cho mà làm, đời buồn như giấy
đi cầu.
Hảo là thư ký hạng hai chịu trách nhiệm gửi lại thư cho
khách hàng đổi địa chỉ không thông báo! Giờ ăn trưa, nhân viên bị cấm không được
ngồi lại trong phòng, Hảo lén lút dấu một xấp thư vào túi áo ấm và đi ra ngoài
ngồi trên ghế đá công viên khung trời đại học Portland, không mở cơm ra ăn mà
phải xếp mấy chục lá thư vào bì trước đã. Việc làm này nếu supervisor biết được!
Hảo nhớ câu nói của ông bạn người Huế: “Chị với mụ vợ tui là hai con cua què...
cua gãy càng. Chị với mụ vợ tui đúng là hai bà xã trái đời... khó khó lắm... phải
có tài lanh mới có việc làm.”
Sau một thời gian lâu, Thúy lại gọi về: “Mẹ ơi con rất
happy! Jeffrey và con đã dạm hỏi nhau rồi, con đính hôn với hắn rồi.”
Lời báo tin đúng ngay vào lúc Hảo bị bà xếp đày đi
cross-training, nghĩa là bị đưa sang thực tập ở phòng phim ảnh, nghĩa là sửa soạn
đi khai thất nghiệp!
Ông đồng hương người Huế Hảo chỉ mới quen sau khi dọn nhà về
Portland, đã bảo nhỏ Hảo: “Chị với mụ vợ tui ăn nhau lắm! Mụ vợ tui với chị,
hai con ‘quăng’ trong bộ bài tới và bài chòi... của người Huế mình, hai cái hãm
tài... bị hắt ra, không hội nhập được với đời sống Mỹ... đi đâu cũng bị hắt ra
chứ không được hút vào!”
Hảo vội trả lời con gái. “Me mừng quá Thúy ơi... Nhưng mẹ
đang bận, quá nhiều phim ảnh chưa chụp, mấy tấm hình offset chưa tìm ra. Tan sở
về nhà mẹ sẽ gọi con.”
Buổi chiều muộn nhưng vẫn còn nhiều tấm mây dày màu trắng,
con nhỏ telephone: “Con mừng quá! happy quá! Mẹ happy không mẹ? Hắn đã đeo nhẫn
đính hôn, hai đứa đeo nhẫn đính hôn. Mẹ ơi sang năm con cưới Jeffrey rồi! Sang
năm có lâu không mẹ?”
Ngoài trời, mùa thu Hiệp Chủng Quốc chắc cũng hạnh phúc như
con gái tôi, hạnh phúc như qua những đoạn văn tả cảnh trong tiểu thuyết của nhà
văn Nelson de Mille, cựu chiến binh Hoa Kỳ hơn một lần đã sang Nam quân dịch.
Mấy mươi năm sau cái chết của chồng, có bao giờ tôi ngộ được
rằng tôi không biết dạy lũ con bốn đứa mà chỉ thành kính đặt chúng lên trang mà
lạy, lên ngai vàng để mà vái. Để mấy đứa con tự do lấy Mỹ, lấy Đại Hàn, có phải
tôi đã phạm vào điều răn điều cấm? Luật gia đình hay nền luân lý Khổng Mạnh? Luật
kỳ thị màu da và quốc gia? Có phải cha mẹ sinh con trời sinh tính? Một mục sư
Tin Lành đã nói chuyện trên tivi rằng cha mẹ cứ can đảm dạy con, không nao núng
sợ sệt, đừng bỏ cuộc, quyết một mất một còn với con. Người mẹ!... một máy đẻ tốt
là một bộ máy cho ra một bầy trẻ tốt.
Hảo nói với Thúy: “Con lấy Mỹ, người Việt Nam cười mẹ.”
Thúy trầm giọng: “Đứa con làm, tại sao lại nhè người mẹ mà
cười? Con có thấy ai cười con đâu?”
Hảo nói: “Người Việt Nam gì cũng cười.”
Câu nói của nhà nho văn Nguyễn Văn Vĩnh ngày hôm nay Hảo
càng thấy đúng với cuộc đổi đời. Không những người Việt Nam ấm áp hay cười mà
người Cao Miên, người Lào, người Phi, người Thái ở trong con hẻm cụt này với Hảo
cũng hay cười như vậy. Gì cũng cười. Gần nhà có một ngôi đền Muslim. Một bà Hồi
Giáo đã hỏi Hảo:
“Có phải ở Việt Nam cấm ly dị?”
Hảo trả lời: “Luật cấm ly dị ở Việt Nam vào khoảng thập niên
50-60 là do một người đàn bà tội lỗi đặt ra nhưng sau đó và với chế độ mới ngày
hôm nay thì không còn nữa.”
Bà Hồi Giáo trùm khăn che nửa mặt chỉ vào một tờ báo cũ: “Tờ
báo này có bài nói rằng khoảng thập niên 90, tỉ số ly dị của người Việt Nam cao
nhất thế giới.” Hảo không thể đem những dịch vụ làm giấy tờ sau cuộc đổi đời ra
nói với người lạ được nên không trả lời bà ta.
Hảo bảo Thúy: “Mẹ tin rằng con đã suy nghĩ kỹ, tuy vậy mẹ
cũng nhắc nhở con là người Mỹ hay ly dị lắm.”
Thúy bướng bỉnh cãi: “Con và Jeff đã suy nghĩ kỹ lắm. Nó và
con biết nhau đã gần mười năm rồi mà mẹ!”
Hảo làm thinh, Thúy tiếp. “Mẹ già ơi, mẹ hãy hạnh phúc với
con đi! Mẹ hỏi hai con mèo đẹp trai của mẹ có happy vui vẻ với con không mẹ? Mẹ
kêu hai con mèo lại đây đi mẹ!”
Trong nhà nuôi hai con mèo mê ngủ. Con miu đen tên là Hắc
đang ngồi bên cạnh, thỉnh thoảng cụng cái đầu vào chân vào Hảo. Năm năm về trước,
Hắc đen này tuy không giỏi võ thuật như tài tử Jackie Chan nhưng tài khinh công
thì nhanh hơn, đã phi hành lên mái ngói gào kêu rồi nhẹ nhàng nhảy xuống cào cửa
nhà Hảo. Bà hàng xóm người Miên liền bước qua can thiệp: “Trong hẻm cụt có bao
nhiêu nhà, tự nhiên từ đâu không biết con mèo mun này đến nhà mày kêu gào cào cửa
như vậy chứ nó không đến nhà tao, nhà Susie, nhà Stanley... không đến nhà ai hết.
Phật giáo Cao Miên tin tưởng rằng con mèo này chính là linh hồn của chồng mày
đã chết nhập vào.”
Hảo gật đầu: “Phật giáo Việt Nam cũng dạy rằng phải thương
yêu súc vật. Nuôi chó nuôi mèo trong nhà cũng là do lòng thương yêu súc vật. Ăn
chay là để phản kháng là không công nhận tội giết súc vật.”
Hảo nói vô điện thoại với con: “Người Mỹ có tục gọi cha mẹ
chồng, cha mẹ vợ bằng tên nghe không vô.”
“Mẹ đừng lo, Jeffrey sẽ gọi mẹ là Mrs. Lee. Jeff nó có đọc
sách Kong Fusi năm ngoái con mua cho nó, mình đi Good will năm ngoái với nó, mẹ
nhớ không? Nó bảo ông Phật hiền hơn ông Khổng, ông Khổng nói lời gì ai cũng phải
nghe vì ông là người họ Kông bên Tàu, vì ông nói luân lý, cả châu Á nghe ông.”
Hảo thấy đứa con lúng túng quá, nói thay nó: “Bậc Đại Hiền,
người Tây Mỹ tôn kính gọi Kong Fusi là The Great Sage, người hiền. Đức Khổng Tử
cấm rằng nam nữ không được trao đổi thân tình, không được ngồi chung chiếu,
không ra vào cùng cửa. Châu Á này, xã hội ngày hôm nay là một công trình do đức
Khổng tử nặn bọt ra và nắm hết tất cả quyền hành trong tay... Đức Khổng tử xử dụng
cả mười ngón tay đặt nền luân lý trên toàn cõi châu Á trong khi đức Phật chỉ hướng
một ngón tay nhỏ lên trời thôi.”
Hảo trở lại vấn đề của hai mẹ con: “Trai gái chưa cưới xin
đã thuê phòng thuê chỗ ở chung với nhau trước, không hay ho tí nào hết.”
Nó cãi: “Mẹ sai rồi. Cái đó là vấn đề văn hóa của một quốc
gia, mẹ chớ nên phê bình. Mẹ chỉ có thể phê phán thái độ của một cá nhân như
ông hàng xóm khó chơi chẳng hạn, mẹ có thể phản đối đường lối hoạt động của một
đoàn thể nào đó thôi. Không bao giờ nên chê bai nền văn hóa của bất cứ một quốc
gia nào. Trọng văn hoá của nước khác , người ta sẽ trọng văn hoá của nước
mình.”
Con nhỏ này khi nói chuyện không đưa giọng lên hoặc hạ giọng
xuống, nó luôn luôn phát âm ở nốt nhạc bằng và đều. Nó ít khi khóc, cười hơi
nhiều.
Nó tiếp: “Có thể vì số người ly dị ở Hoa Kỳ cao quá, nên họ
phải ăn ở với nhau trước để tìm hiểu nhau, để sau này bớt bớt bỏ nhau.”
Hảo vẫn chỉ trích: “Thật đáng sợ lòng người Mỹ bội bạc. Ngày
xưa, họ đem Anh ngữ, đem quân đội ,khí giới, đô-la và nhu yếu phẩm đổ vào miền
Nam, họ hứa hẹn, họ cam kết sẽ cùng chúng ta sát cánh bên nhau cùng đánh kẻ thù
đỏ. Fuck the reds. Căn cứ không quân Mỹ đóng ngay gần vĩ tuyến 17, chỉ trong
vòng giây lát máy bay phản lực sẽ vút lên và trong một phút sẽ oanh tạc tan nát
hải cảng Hải Phòng... nhưng rồi màn chót kéo lên, người Mỹ bỏ chạy, người Mỹ phản
bội.”
Bên kia đầu giây, tiếng con gái cười: “Tình yêu không phải
là Việt Nam war. Tình yêu là Korean war: một nửa Bắc, một nửa Nam. Một nửa là
màu đỏ tượng trưng cho tình hận; nửa kia, tình xanh, tình đẹp.”
Ngoài kia vẫn còn vài vệt nắng cuối chiều, màu nắng mỡ gà một
ngày thu tốt trời khiến nỗi buồn như vơi đi. Hảo nhớ lại lời bà giáo dạy ESL hồi
mới sang còn ăn tiền trợ cấp xã hội và được gửi con miễn phí để đi học lớp thư
ký xếp hồ sơ: “Năm 1975, lớp người già sang đây thật quá khích, không tỏ ra cộng
hòa chút nào hết, không chấp nhận cay chua thua cuộc, họ không thấy mình có lỗi
bại trận, mà chỉ thấy người Mỹ đểu giả đã bỏ miền Nam mà chạy. Những cái đó
không bổ ích chút nào hết.”
Hồi đó, Hảo, học viên già nhất lớp ESL, muốn giảng cho bà
giáo hiểu rõ thế nào là quá khích, nhưng không nói được tiếng Anh. Trước năm
1975, sự thật miền Nam không có người Việt Nam biểu tình chống Cộng sản mà chỉ
có biểu tình chống cộng hòa. Biểu tình quá khích có nghĩa là ào ào ra đường đập
phá, ném đá, đốt nhà, lật đổ, xô xát bạo động hung dữ. Sau năm 1975, ở Mỹ, người
Việt Nam đi biểu tình ôn hòa: Họ bước đều trong trật tự với biểu ngữ giăng
ngang, họ tôn trọng luật đường sá kiều lộ và nhân viên công lực. Chống cộng bằng
lời nói ôn hoà, và việc làm có lẽ phải, đó không phải là quá khích.
Sống cuộc đổi đời, khối u chiến tranh vẫn chưa tan hết trong
cõi lòng kẻ di tản. Chúng ta vẫn còn yêu người đàn ông mang quân phục, tôi vẫn
chưa quên hình ảnh người lính trận khoác áo vàng kaki hoặc áo vải thô dày màu dầu
olive tô vẽ rườm rà lá cây rừng núi hiểm độc. Đồng thời tôi vẫn còn nhớ những
bàn chân trắng mịn trong những đôi giày đinh cao cổ người lính Hiệp Chủng Quốc
lún xuống cát lầy những bãi sình cạnh biên giới Ai Lao. Tôi liên tưởng tới tài
tử cao thủ John Wayne trên yên con ngựa cao bồi, ánh mắt ông xót thương trẻ con
sinh ra trong khói lửa, miệng ông không cay đắng nói những lời phản chiến, như
những kẻ biểu tình quá khích.
Hảo quen biết sáu bà bạn thông minh lấy chồng Mỹ. Ông Lesher
hỏi Hảo: “Bao giờ thì về Việt Nam?” Ông Hendrick: “Hoà bình, độc lập, thống nhất
rồi, sao chưa về nước?” Ông Trivas: “Cháu mua vé máy bay cho cô về Việt Nam.”
Bà Pealercock, cháu gái của Thiếu tá Nguyễn Văn Khôn trong
quân lực Việt Nam Cộng Hoà, tác giả hai bộ tự điển Anh Việt, Việt Anh: “Từ ngày
sang đây, tụi này đi đi về về sáu lần rồi...”
Hảo nói: “Tư cách của một cá nhân cũng có thể đánh giá tùy
theo số lần người ấy về Việt Nam là bao nhiêu. Tôi thật lấy làm tiếc là ngày
xưa tôi không ‘nằm vùng’ cho Cộng sản, nên bây giờ tôi không được họ cấm không
cho về nuớc... để được coi nặng ký hơn một chút dưới mắt người Mỹ.”
Qua điện thoại, đứa con gái tiếp tục câu chuyện: “Từ nay ,
me đừng nên nói những câu như là người Mỹ phản bội, người Mỹ bỏ chạy. Miền Nam
mất không phải lỗi tại họ.”
“Họ chứ ai vào đây nữa? Họ đoạn tuyệt bang giao, bỏ rơi miền
Nam. Cuối cùng của mối tình Việt Mỹ, miền Nam mất, nên trong những cuộc hôn
nhân dị chủng, mẹ chỉ thấy cái nghiệp, mẹ thấy Karma, thấy charm, thấy khác biệt
văn hóa, thấy hai con đường, một ngược một xuôi không có giao điểm. Chúng ta với
họ, khác nhau từ bên ngoài vào tới bên trong, và từ cái bao tử ra tới lớp da bọc
ngoài.”
Tiếng thở dài của con trên điện thoại, Hảo đưa mắt nhìn cái
khung gỗ xinh xắn vít vào tường trong đó xếp hàng 15 chiếc lọ nhỏ bằng thủy
tinh đựng gia vị nấu ăn: bột hành, bột tỏi, tiêu ớt, oregano. dill, thyme... rồi
bảo con: “Thôi, mẹ đã nói hơi nhiều, thôi đi ngủ, ngày mai con vừa đi học, vừa
đi làm.”
Sớm mai vào sở, bà xếp kéo Hảo vô phòng riêng để “ đì”:
“Phòng thư viện gửi trả lại mấy tấm hình vì ‘you’ chụp mờ quá, họ không gửi đi
được.”
Một giờ sau Hảo lại bị điệu vào phòng bà xếp: “You nên lấy
giấy phép nghỉ một tuần lễ, vì số ngày nghỉ dồn lại nhiều quá.”
Ba giờ chiều, con mẹ xếp, cơn bão Katrina, đến trước bàn làm
việc của Hảo đay nghiến: “Tại sao không chụp mấy cái hình này, không tìm ra
offset sao?”
Chàng đồng nghiệp Hạ UyDi nói: “K-Mart đang cần 5 part-time
job, hãy xin về hưu non ở cái nhà băng này đi, rồi đi làm part-time ở K-Mart.”
Hảo quyết định hưởng nhàn một tuần lễ ở miền nam Washington,
tại nhà một bà bạn để ăn cơm với cá bẹ kho nhừ. Chủ nhà để máy hát chạy một bài
ca Huế mang tên “Trước bến.” Trước bến Văn Lâu ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm,
ai cảm, ai thương...
Hảo nói: “Người Mỹ đổ quân vào Việt Nam lần thứ hai từ thập
niên 60, nhưng trên thực tế thì trước đó rất lâu, nữ sinh Đồng Khánh đã hát bài
‘Oh Mcdanold has the farm.’ ‘Ông tây đen nằm trong cái bồ rồi’.”
Bữa cơm chiều ngon quá, ngoài món cá kho tám tiếng trong nồi
slow cooker còn có tô canh rau thập toàn với mồng tơi, dền tía, kim châm, kim
huyên, riềng... và Hảo được ngồi ăn trong căn nhà bếp linh hoạt vừa đủ rộng cho
người nội trợ bày biện nồi niêu son chảo. Nó, tức cái bếp, khoác những tấm màn
cửa màu xanh nhạt điểm hoa trắng, đồ gốm phết sơn bóng màu xanh nước biển, những
bức tường màu xám tươi, các ngăn tủ màu xanh da trời, nền nhà màu xanh dương. Bộ
bàn ăn sáu ghế bằng gỗ teakdo chị bạn tự tay đóng lấy, để nguyên không sơn. Tóc
của Thái, chị bạn, ít bạc hơn tóc của Hảo, tiệp với màu sắc của cái bếp rất hài
hòa.
Hảo khen: “Mặt nhà quay về hướng nam, lấy vợ hiền hòa, xây
nhà hướng nam.”
Thái kể: “Ngôi nhà này được xây từ hồi người Mỹ chưa phát
minh ra cái closet, còn dùng cái thứ tủ gỗ wardrobe. Mấy người chủ trước mua lại
sửa sang tu bổ thêm.”
Cơm nước xong, trời còn sớm mờ mờ ánh sáng ngọc trai, Thái dẫn
Hảo đi bộ ra bờ hồ. Một bầy chim heron đang lả lướt bơi trên mặt nước xanh mơ
trông như một đoàn vũ công đang động đậy thân thể tập luyện điệu múa Tai chi
chu’an, môn võ thuật độc tôn của đạo Lão, của đoàn viễn chinh ham chiến ngày
nào đeo đuổi mộng binh đao. Người vũ công tài chi, con chim diệc hùng anh, người
đánh giặc xa nhà lấy sa trường làm lẽ sống... mặc áo bà ba trắng như lông chim,
quần dài ống rộng, người tài tử cũng như người thuyền quyên ngàn xưa của môn
phái Lão Tử, nhịp nhàng đi và đến đích. Trong sân tập, họ bước chậm theo một đường
chéo góc, chân họ kéo lê với tốc độ của một con rùa, hoặc một con ốc sên bò qua
một diện tích rộng tráng vôi: chân trái đưa tới trước, rồi chân phải chậm chạp
từ tốn đưa theo sau, mỗi bàn chân nhấc lên rồi hạ xuống nhẹ như hơi gió để thân
thể khoan thai di động trong tư thế của cánh chim heron tức chim diệc lướt trên
mặt nước hồ ao mỗi sớm chiều.
Thái vui tươi nói: “Có phải chị đang nhìn cảnh đẹp và thở
không khí trong sạch?”
Thái cũng là người Huế, nhưng lại chỉ quen với chồng Hảo mà
thôi. Khi người chồng qua đời, Thái đến phúng điếu bằng tiền, và nói: “Từ đây,
tụi mình là bạn, nhưng chỉ nên gọi nhau bằng chị thôi.” Hảo giữ mãi câu nói đó
trong trí nhớ.
(xem tiếp kỳ 2)
Túy
Hồng