Mưa Paris giọt buồn rơi thánh thót,
Cơn mây chiều giăng nỗi nhớ quê hương,
Thu đến sớm lá hôm qua vàng vọt,
Gió nửa khuya rụng nhiều chiếc bên đường!

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện (1939-2012)
Hôm nay cũng vào thu, Trời Paris mưa lê thê làm màu không gian buồn bã. Phải
chăng tôi buồn vì vừa mất người bạn ở phương trời xa, bỏ chốn gian
trần bằng hữu mà đi?
Vài Nét Về Nguyễn Chí Thiện – Nguyễn Chí Thiện sinh ngày 27 tháng 2, 1939
tại Hà Nội và qua đời ngày 2 tháng 10 năm 2012 tại Santa Ana, quận Cam,
California, Hoa Kỳ. Là một nhà thơ phản kháng chống chế độ CSVN, ông đã bị nhà
cầm quyền Cộng Sản bắt giam tổng cộng 27 năm tù vì tội “phản động” từ năm 1960
đến năm 1977, mấy lần vào tù ra tù. Năm 1979 Nguyễn Chí Thiện tìm cách chuyển
tập thơ do ông sáng tác cho nhân viên sứ quán Anh tại Hà Nội. Vì lý do trên ông
lại bị bắt. Đến ngày 28 tháng 10 năm 1991 ông được ra tù. Năm 1994 ông được tổ
chức Giám Sát Nhân quyền trao giải thưởng Hellman/Hammett. Tháng 1 năm 1995 ông
được xuất cảnh sang Hoa Kỳ, qua sự vận động của Đại tá Không quân Hoa Kỳ Noboru
Masuoka.
Tác phẩm: Tập thơ Hoa Địa Ngục (còn được in dưới tựa đề Tiếng Vọng
Từ Đáy Vực và Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam). Tác phẩm này
được dịch ra tiếng Đức, tựa Echo Aus Dem Abgrund, tiếng Hà Lan Bloemen
Uit de Hel, tiếng Đại Hàn, tiếng Hoa 花从地狱来 (âm Hán Việt Hoa Tòng Địa Ngục Lai),
Tiếng Pháp Fleurs de l’Enfer, Tiếng Tây Ban Nha Flores del
Infierno, và Tiếng Tiệp Khắc Básně z pekla. Tập truyện Hoả Lò
của ông do Tổ Hợp Xuất Bản miền Đông Hoa Kỳ phát hành năm 2001, tái bản năm
2007. Tác phẩm này cùng với thơ của ông được dịch ra Anh ngữ, nhan đề Hoa
Lo/Hanoi Hilton Stories do Yale University Southeast Asia Studies xuất bản
năm 2007. Bản dịch cuốn này có sự đóng góp của các dịch giả Nguyễn Ngọc Bích,
Trần Văn Điền, Vann Saroyan Phan và Nguyễn Kiếm Phong.
Đã từ lâu tôi định viết về Ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện, một con người rất đặc
biệt đã từng bị tù đày trong các trại tù CS rất lâu vì hai chữ Tự Do. Thời gian
ông còn ở tù nơi quê nhà, chúng tôi cùng nhiều cá nhân đoàn thể khác ở hải
ngoại đã nhiều lần xuống đường tranh đấu đòi tự do cho ông và những người tù
lương tâm khác, và đã nhiều lần gởi những thỉnh nguyện thư cho các cơ quan
giới chức quốc tế để nhờ can thiệp trả tự do cho ông. Sau nhiều năm ông được tự
do và định cư ở Mỹ. Ông đã đi khắp nơi diễn thuyết với người Việt hải ngoại và
quốc tế để tố cáo sự dã man và độc ác của chế động CS. Đi đến đâu ông cũng được
những người đồng hương hoan hô đón rước rầm rộ đầy nhiệt tình. Những năm cuối đời
ông bị tai tiếng về những nguồn dư luận rất bất lợi cho ông nhằm đánh giá lại
tác phẩm và con người của ông. Trong giới văn nghệ có một số người là bạn thân
của tôi. Họ có những nhận xét trái ngược nhau về Nguyễn Chí Thiện làm tôi phân
vân, chẳng biết theo ý nào nên đành chọn một thái độ im lặng để đừng mất
thêm nhau, vì cuộc đời quá ngắn ngủi! Tin nhà thơ Nguyễn Chí Thiện qua đời
khiến lòng tôi thấy buồn vì bằng hữu lần lượt theo nhau mà đi. Những lời khen
tiếng chê, tiền tài danh vọng cũng chẳng mang theo được gì. Tôi muốn làm đôi
vần thơ về những kỷ niệm bằng hữu về sự mất còn, nhưng ý cứ miên man nên
chẳng viết được!
Vào năm 1992 trong một phiên họp với các hội đoàn người Việt tự do ở Paris,
tôi đề nghị nên làm một thỉnh nguyện thư yêu cầu chính phủ Pháp can thiệp đòi
nhà cầm quyền VN trả tự do cho nhà thơ Nguyễn Chí Thiện vì ông bị cầm tù quá
lâu. Vào năm 1993 có một gia đình người Việt tị nạn định cư ở Đan Mạch, qua
Paris ngồi tuyệt thực, dương biểu ngữ chống nhà nước VN, đòi thả hết các tù
nhân. Vì không có giấy phép được biểu tình nên gia đình gồm hai vợ chồng và một
cháu nhỏ còn ẵm bị cảnh sát Pháp đuổi. Thời tiết đang mùa thu. Họ sợ cháu bé bị
nhiễm lạnh khi sương chiều xuống, nên đòi bắt cặp vợ chồng nếu không chịu giải
tán! Nhưng gia đình người tị nạn này rất quyết liệt chống trả lại cảnh sát và
không chịu rời chỗ. Nếu không có cháu nhỏ chắc chắn cảnh sát đã bắt hai người
lên xe. Sự việc càng lúc càng trầm trọng đã gây chú ý đến những khách bộ hành
và những người đi xe. Có người Pháp đã phôn cho chúng tôi nhờ đến giúp đỡ cặp
vợ chồng này. Chúng tôi đã đến và được biết sự tình nên đã giải thích cho cặp
vợ chồng đó về luật lệ xứ Pháp và thuyết phục đưa anh chị tạm về khách sạn ở
tạm để chờ phương tiện trở về Đan Mạch, đợi khi nào các hội đoàn người Việt tự
do ở Paris có tổ chức biểu tình, chúng tôi sẽ thông báo để anh chị có thể sang
Paris biểu tình hợp pháp. Trong lúc chuyện trò, tôi được người chồng cho biết:
Anh tên là Hùng, nổi tiếng ở trại cấm Hồng Kông vì tranh đấu cho nhân quyền nên
được tặng mỹ danh: Hùng Nhân Quyền. Anh tâm sự: “Ngày trước anh là đầu gấu ra
tù vào khám như cơm bữa. Trong thời gian nhốt ở Hỏa Lò chung với nhà thơ Nguyễn
Chí Thiện, và nhờ sự chỉ dẫn và khuyên răn, anh đã bỏ con đường du đãng để làm
một công việc cao đẹp hơn là tranh đấu cho quyền con người, vì dưới chế
độ CS có biết bao thân phận con người bị áp bức, nhân phẩm bị chà đạp!”
Sau khi trở về Đan Mạch thỉnh thoảng anh Hùng vẫn phôn thăm tôi, nhưng khoảng 8
năm nay bỗng không còn tin tức.
Năm 1995 ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện được trả tự do. Sau khi đến Mỹ hai tuần,
anh qua Paris theo lời mời của các hội đoàn Paris do qũy Ngàn Quan tổ chức, mà
người trách nhiện là BS Trần Phước Thọ. Hôm đó tôi được mời tham dự, cùng một
số bạn ngồi ở quán cà phê Choisy để cùng đi. Trong quán cà phê đầy khói thuốc,
tôi chịu không nổi nên ra ngoài hít thở không khí. Tình cờ xe của LS Trần Tam
Nại chở GS Lại Thế Hùng và một người ngồi cùng xe trông dáng gầy gò như đang
bệnh trờ tới. Bước xuống xe, anh Lại Thế Hùng giới thiệu ngay với tôi nhà thơ
Nguyễn Chí Thiện. Thế là chúng tôi đứng ngoài trao đổi một số chuyện. Trong câu
chuyện tôi bỗng nhớ đến Hùng Nhân Quyền và hỏi anh Nguyễn Chí Thiện có biết anh
Hùng không? Anh Thiện mừng rỡ trả lời: “Hùng đầu gấu! Anh biết Hùng đầu gấu.
Giờ anh ấy ở đâu?” Anh nói cả tên họ anh Hùng. Tôi bỗng cảm thấy vui vì câu
chuyện tình cờ vài năm trước với Hùng Nhân Quyền nay tôi được gặp Nguyễn Chí
Thiện bằng xương bằng thịt. Trước khi lên xe để đi nghe buổi nói chuyện, tôi có
nói với Nguyễn Chí Thiện một câu: “Anh nên giữ gìn sức khỏe. Con đường đấu
tranh còn dài. Ở hải ngoại này rất phức tạp, hôm nay anh đến các anh em Paris
rất vui và long trọng đón tiếp anh, nhưng sau này lỡ anh có bị công chúng quên
lãng hay hiểu lầm. Dù có thế nào thì tôi vẫn ngưỡng mộ anh vì anh đã bị tù 27
năm, mất cả tuổi trẻ gần hết nửa cuộc đời! Tôi cũng đã từng bị biệt giam, bầm
dập trong tù nên rất hiểu người tù.”
Một lần Ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện nói chuyện với công chúng Paris tại hội
trường Maubert –Mutualité. Anh kể: “Hồi anh còn trẻ, ở Hải Phòng có lần
anh gặp nhà thơ Xuân Diệu trong một buổi họp, đến tuyên truyền, hết lời ca tụng
đường lối bác và đảng. Sau buổi nói chuyện Nguyễn Chí Thiện xin gặp riêng và
hỏi Xuân Diệu: “Anh nói nhờ bác đảng ta mới có miếng cơm mà ăn, manh áo mà mặc;
vậy thì trước khi có đảng anh cởi truồng hả?” Xuân Diệu: “Xuỵt, xuỵt, nói khẽ
chứ! Tao nói phét để kiếm ăn đó mà.”
Vài năm sau, một lần khác tôi tham dự một buổi nói chuyện trong Quốc Hội
Pháp, anh Nguyễn Chí Thiện là một trong những diễn giả. Hôm đó anh nói tiếng
Pháp, không văn hoa nhưng trôi chảy bằng chất giọng Bắc rất nặng!
Năm 2000 Hội Y Sĩ VN Tự Do tổ chức Đại Hội các y sĩ VN ở hải ngoại về Paris
ở khách sạn Sofitel rất sang trọng. Anh Nguyễn Chí Thiện và tôi không phải y sĩ
nhưng được mời vào ban tổ chức. Hôm đó anh Thiện tặng tôi cuốn thơ Fleurs
De L’Enfer do nhà xuất bản Institut De L’Asie Du Sud-Est, dịch bởi BS
Nguyễn Ngọc Qùy và Dominique Delaunay. Hôm đó anh cũng được mời thuyết trình.
Bài nói chuyện của anh vững vàng, lập trường dứt khoát tư tưởng, được mọi người
nhiều lần vỗ tay tán thưởng.
Lần cuối tôi gặp anh trong buổi vinh danh nữ chiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Hạnh,
do chiến hữu Nguyễn Tạ Quang từ Mỹ sang, cùng một số hội đoàn ở Paris tổ chức.
Anh Thiện và tôi là khách được mời phát biểu. Lần đó, mục đích anh qua Paris để
lấy thêm một số tập thơ, nhân dịp chúng tôi được ông bà DS Đặng Quốc Cơ mời ăn
tối ở một nhà hàng sang, gồm có: ông bà DS Đặng Quốc Cơ, ông bà GS Bác Sĩ
Hoàng Cơ Lân, ông bà BS Nguyễn Ngọc Qùy, bà kỹ sư Nguyễn Qúy Toàn, nhà thơ
Nguyễn Chí Thiện và tôi. Bữa ăn kéo dài khá lâu, đậm chất thân tình. Mọi người
vui vẻ trao đổi xoay quanh về những đề tài, từ hiện tình đất nước đến những
sinh hoạt văn hóa VN hải ngoại. Câu chuyện rất hào hứng, nhưng chỉ có chúng tôi
nói nhiều, còn anh Nguyễn Chí Thiện rất ít nói, thỉnh thoảng mới thêm vào câu
chuyện, ngoại trừ trả lời những câu chúng tôi hỏi.
Qua một số lần tiếp xúc tôi thấy anh Nguyễn Chí Thiện bản tánh hiền hòa, ít
nói chuyện gẫu nhưng lại hăng say nói trong những lần thuyết trình hay hội thảo
chính trị. Có lần nhạc sĩ Trịnh Hưng (tác giả nhạc phẩm “Lối Về Xóm Nhỏ”, “Tôi
Yêu” …) ngồi giữa anh Nguyễn Chí Thiện và tôi, anh Trịnh Hưng tỏ ra thân thiện
đặt tay lên vai Nguyễn Chí Thiện nhưng bị anh Thiện hất xuống. Nhạc sĩ Trịnh
Hưng giận. Đến giờ giải lao anh nói với tôi trách Nguyễn Chí Thiện kiêu kỳ. Anh
nói đâu có phải chỉ mỗi Nguyễn Chí Thiện ở tù cộng sản; anh cũng bị hơn 8 năm
tù sau năm 1975 vì dám viết nhạc phẩm “Ta Đập Tan Lũ Giặc Hồ”. Tôi lại phải
giải thích với anh và đưa anh đến giới thiệu với Nguyễn Chí Thiện. Hai anh vui
vẻ bắt tay nhau. Với bản tính ít nói và khuôn mặt khắc khổ trông có vẻ lầm lì,
nhà thơ Nguyễn Chí Thiện dễ bị ngộ nhận là lạnh lùng!
Khi những lời phê phán khen chê nhà thơ Nguyễn Chí Thiện về tác phẩm và tác
giả lên cực điểm trong cộng đồng người Việt ở Mỹ, nhà báo, GS Đặng Văn Nhâm ở
Đan Mạch (tác giả nhiều bộ sách Đan Việt Y Khoa Tự Điển, Đan Việt Đại Tự
Điển, Stalin Tình Ái & Chính Trị, Bí Mật Hậu Trường Chính Trị Miền Nam
…). Có thể nói tôi là một trong vài người mà GS Đặng Văn Nhâm qúy nhất ở Âu
Châu. Anh đã từng tặng tôi cây bút qúy để viết những điều tốt đẹp. Mặc dù tôi
chưa bao giờ tham gia một đảng phái nào, nhưng qua những sinh hoạt văn
hóa, đấu tranh cho tự do dân chủ nhân quyền quê hương, tôi cộng tác với nhiều
người trong đó có anh. Anh từng là Phó đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng Hải
Ngoại, Cựu Chủ tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Chủ tịch Hội Đồng Việt Nam Tự
Do Âu Châu. Tôi rút ra khỏi văn bút vì không muốn theo phe phái làm rách thêm
sự rạn nứt. Từ ngày GS Đặng Văn Nhâm và GS Lê Phước Sang (Đảng trưởng Dân
Xã Đảng) trở về VN tôi không còn sinh hoạt chung với các anh nữa, nhưng vẫn
liên lạc giữ tình anh em. Trong sự việc của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, GS
Đặng Văn Nhâm phôn cho tôi nói là anh đang viết về Nguyễn Chí Thiện và nói qua
cho tôi nghe vài điểm trong sách viết. Tôi không đồng ý vì có một số điểm anh
nêu ra không đúng như tôi được biết, nhưng anh vẫn bảo thủ giữ nguyên ý của
mình. Kể từ ngày đó dến lúc nhà báo Đặng Văn Nhâm qua đời chúng tôi không còn
liên lạc nhưng tôi vẫn qúy anh! Thời gian đó nhà báo Hoài Thanh chủ nhiệm tuần
báo Đại Chúng ở Washington, D.C., người đã từng tổ chức cho tôi và nhạc sĩ Lê
Mộng Nguyên ra mắt Thơ Nhạc ở Washington, D.C. năm 2008. Anh Hoài Thanh qua
Paris chỉ một ngày thăm chúng tôi là BS Nguyễn Bá Hậu, GS Lê Mộng Nguyên và
tôi. Nhân dịp đó anh Hoài Thanh đã khuyên chúng tôi đừng viết bài về Nguyễn Chí
Thiện vì anh Thiện đang bị một số người trong cộng đồng đặt nghi vấn về tác
phẩm và tác giả. Chúng tôi cảm ơn tấm chân tình của nhà báo Hoài Thanh. Viết về
một nhà thơ bị 27 năm tù rất khó. Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện tôi chỉ
biết một số điều khi nhà thơ qua Paris; trong đó có mối tình đậm đà của anh với
một người nữ tranh đấu ở Paris. Người đó đã giúp đỡ anh và là chỗ dựa tinh thần
của anh trong những năm ở Pháp cùng nhà văn Vũ Thư Hiên (tác giả cuốn Đêm
Giữa Ban Ngày), được chính phủ Pháp trợ cấp đài thọ ăn ở. Dư luận xôn xao
về Nguyễn Chí Thiện đã làm hoang mang những người thiện cảm với anh. Nhân dịp
sinh nhật thứ 92 của nữ sĩ Minh Châu GS Thái Hạc Oanh do Câu Lạc Bộ Văn Hóa
Paris tổ chức, tôi đã mời một số người đến tham dự, trong đó có nhà văn Vũ Thư
Hiên. Hôm đó chúng tôi đã hỏi những điều liên quan đến nhà thơ Nguyễn Chí
Thiện. Trước số đông bằng hữu ở Paris anh Vũ Thư Hiên cho biết: “Ở trại tù Hỏa
Lò có một số tù nhân chính trị bị nhốt. Tôi ở chung với anh Nguyễn Chí Thiện.
Chúng tôi đều bị tra tấn rất dã man, nhưng chỉ có mình anh Nguyễn Chí Thiện là
bị hành hạ khủng khiếp nhất. Mỗi lần tra tấn anh như chết đi sống lại thì mồm
lại chửi rủa cộng sản!” Anh Vũ Thư Hiên còn cho biết khi ở chung nhà với
anh Nguyễn Chí Thiện ở Pháp do hội nhà văn Pháp tài trợ, anh Thiện vẫn ít nói,
thích im lặng, ham đọc sách và không hể để ý đến tiền bạc, giấy tờ!
Qua lời của anh Nguyễn Mạnh Hùng ở Đan Mạch và lời của anh Vũ Thư Hiên
Paris, có lẽ cũng đã minh chứng một số điều về con người của Nguyễn Chí Thiện.
Nhiều khi tôi cũng tự hỏi tại sao nhà thơ Nguyễn Chí Thiện lại không làm thơ
nữa? Có phải chăng khi tác phẩm của mình được ca ngợi quá, nhà thơ muốn sống
mãi với hương thơm thi phẩm nên ngại làm thơ, vì nhà thơ có thể sáng tác thêm
những vần thơ mới. Có lẽ nào sợ dở, sợ ánh hào quang, sẽ bị tắt khi dòng thơ
trước và sau khập khễnh thiếu hồn, bị người đời đem so sánh?
Thơ Nguyễn Chí Thiện là tiếng lòng, là tiếng gào thét của người dân chân
chính bị bạo lực của chế độ độc tài cưỡng bức đẩy vào tận cùng đáy địa
ngục! Hồn thơ ông là tiếng gào thét phát ra từ lòng căm phẫn, hừng hực như núi
lửa phun lên những nham thạch, nhìn rất đẹp như pháo hoa nhưng nóng cực độ. Đó
là lửa hận thù! Thơ của Nguyễn Chí Thiện không chú ý về hình thức, không màu
sắc hoa mỹ, mà chỉ là lời nói thật từ trái tim, từ sự bị đọa đày nên toát lên
qua hồn thơ. Đó là nhờ vào chất liệu sống, cảm xúc thật, thành một nghệ thuật
đơn giản, nhưng ý sâu sắc mà người đời không ở trong hoàn cảnh đó không thể
viết được. Những nhà thơ hải ngoại đều mang tâm trạng mất mát, tha
hương, bị nạn CS đành phải xa lìa mảnh đất vùng trời Miền Nam tự do mến yêu năm
xưa, nên trong thơ ẩn chứa có sự ray rứt, khí thế trỗi dậy vùng lên, và sự
khát vọng trở về. Dù đã được tự do và xa quê hương nhưng trong tâm thức Nguyễn
Chí Thiện luôn nhốt mình trong bốn bức tường nhà tù. Ông chỉ muốn bức xiềng
xích, phá nhà giam. Thơ của Nguyễn Chí Thiện là sự uất nghẹn trong ngục tù,
biến thành tiếng gào thét, là lời than thanh âm trầm. Tiếng thét là thanh âm
bổng. Sự trầm bổng tạo thành nhạc điệu trong thơ nên hơi thơ mạnh mẽ. Phải
chăng trong chốn lao tù, người tù vì mất tự do nên nhà thơ đã đẩy nguồn cảm
hứng phóng qua song sắt, lỗ khóa, khe tù, để hồn chắp cánh bay xa hưởng chút tự
do? Tâm trạng người tù, nhất là bị biệt giam, khác với tâm trạng người tù được
thả, được sống tự do trên những xứ tự do. Ở Mỹ, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện có
quyền xuống đường tranh đấu để có cảm xúc thật, và cũng có thể ngồi trong
quán cà phê làm thơ đấu tranh đòi lật đổ chế độ độc tài CS, nhưng lại
sợ bài thơ sẽ không hay vì thiếu cảm xúc trực diện với bạo lực như thuở ở
trong tù! Do đó ông không làm, vì biết hồn thơ mình không thành một hỏa
diệm sơn như xưa. Bao lần ông xuống đường đi diễn thuyết vì mục đích cao cả là
đấu tranh cho tự do dân chủ quê hương, nhưng buồn thay trong đám đông ấy có
những người xuống đường mà mục đích khác nhau nên phân hóa! Thơ của Nguyễn Chí
Thiện làm ở trong tù có chỗ đứng riêng biệt, và thi nhân mỗi người mỗi cảm xúc.
Tuy nhiên, đối với thi sĩ cảm xúc thật sẽ viết những bài thơ tranh đấu từ đáy
lòng mình.
Bài thơ sẽ thật hay, kích động lòng người vì diễn tả được ý chung, về nỗi
lòng người yêu nước.
Hôm nay nhà thơ Nguyễn Chí Thiện nằm xuôi tay bên phương trời Mỹ, ngừng cuộc
rong chơi trên cõi đời, bỏ hẳn cuôc hành trình đi tìm tự do cho quê, dù rằng
nơi ấy vẫn còn lắm đọa đày bất công. Cánh của tù vẫn khóa chặt để nhốt những
nhà tranh đấu đòi tự do không chịu nhường đất cho ngoại bang.
Cầu chúc linh hồn anh sớm về cõi vĩnh hằng hưởng An Lạc đời đời.
Paris 03 09 2012
Đỗ Bình