
Một chiều hè chẳng oi bức vào năm 2011 xa xưa, tôi đi bộ dọc con phố chính
của Montréal, đường Saint Catherine. Đợi đèn chuyển màu ở một ngã tư, tôi ngó
thấy bìa một cuốn sách mỏng nằm khiêm nhượng, chẳng bắt mắt dựng đặt đằng sau
cửa gương một hiệu sách. Đèn xanh, bộ hành lần lượt đặt chân xuống những vạch
sơn trắng ám trên mặt lộ để tiếp tục sải bước nhàn du (không mục đích?). Riêng
tôi, nhàn cư vi có việc, không toan tính, tôi đi lại mở cánh cửa để lách thân
vào một không gian bao giờ cũng nhốt chật một bầu khí quyển thơm tho luôn thu
hút, luôn gợi mời, luôn hấp dẫn. Và tôi đã mó tay tới “RU”.
Chẳng tuân thủ chuyện nhập gia tuỳ tục, tên tác giả in đủ, không đành lòng đánh
rơi dấu sắc. Kim Thuý hẳn hoi. Đích thị là người Việt. Mặc dầu trong trí tôi
vừa mọc lên sự tiếc uổng về cách trình bày bìa. Quá khiêm nhượng, từ màu sắc
cho đến tên tác giả. Chữ Kim Thuý (tên hay mà, hay hơn Thuý Kiều là chị em là
Thuý Vân) giá mà nó lấn “đất”, lớn bằng một phần mười cái tựa đề ấy thì đẹp biết
bao. Nhà sách vắng người, không có cảnh sắp hàng, tôi đặt cuốn Ru lên quầy và
việc mua bán diễn ra chẳng quá ba mươi giây, êm thắm. Bonjour. Merci. Bye.
Toàn bộ bề dày cuốn sách là 146 trang, được viết bằng Pháp văn, mặc dù vậy
tác giả giữ nguyên động từ “Ru”, giữ thứ chữ “độc cô” Việt ngữ nầy làm nhan
truyện. Dân nói tiếng Pháp thôi hiếu kỳ, họ sẽ được đả thông ở trang 7: Tiếng
Việt nghĩa là “berceuse” hoặc “bercer”. Khi đó, tôi không khỏi nhớ tới cuốn
truyện dài thành công của nhà văn Duyên Anh năm xưa: Điệu Ru Nước Mắt. “Ru” tôi
đang nắm trong tay có chan nước mắt chăng? Không biết mình tiếp cận nó có dễ
dàng? Bởi tác giả là người đồng hương tị nạn giống tôi mà lại viết bằng ngôn
ngữ thứ hai, thứ tiếng mà người di dân đang cực lòng thích nghi, học hỏi, trau
dồi lời ăn tiếng nói để mưu sinh. Không có một băng giấy nhỏ bao quanh in đôi
dòng quảng cáo, chẳng có lời rào đầu của một nhà văn bản xứ giới thiệu như
chúng ta thường thấy ở ngoại hình các cuốn sách khác. “Ru” trần trụi. “Ru” có
vẻ lẻ loi. Thú thật, tôi mua “Ru” vì hai lẽ: Kim Thuý cũng vượt biển như tôi và
Kim Thuý đang sống đâu đó ở Québec hoặc Montréal. Thấy gần gũi, nghe thân cận.
Trước tiên là vậy. Và chỉ có bấy nhiêu. Mọi thứ khác hẳn hạ hồi phân giải.
Tác giả sinh ở Sài Gòn vào năm Mậu Thân 1968. Cùng gia đình vượt biển từ
Rạch Giá năm 1978, có nghĩa là mang phận thuyền nhân khi lên 10 tuổi. Định cư ở
Québec, kiếm sống bằng đủ nghề và tốt nghiệp về ngành Luật. Bản thảo “Ru” do
một người bạn mang đi ký gửi ở những nhà xuất bản, để không lâu sau, năm 2009
cơ sở Libre Expression ở Québec chấp thuận và nhận in vào tháng 7 năm 2010.
Có thể xem RU là một tự truyện, liên khởi những hồi ức khi phải sống xa đất
mẹ. Những manh động chằng chéo, một sợi chỉ đứt đoạn đang ra công ngồi nối lại
độ dài nối kết từ Canada lần tới Việt Nam. Ngay dòng chữ khởi đầu, tác giả viết
như một bản tự khai nhằm giới thiệu về mình. Ngày chào đời, bỏ xứ ra đi, nói
tới những thành viên thân cận trong gia đình. Những khó khăn phút đầu hội nhập…
Tất cả được viết bằng giọng văn trong sáng gần như đơn giản, mạch lạc nhờ vào
một nhãn quan mang đầy tính hồn nhiên, cố giữ sự trung thực khi thuật chuyện,
không trau chuốt. Không cường điệu, chẳng đẩy tình huống đi vào ngõ bí, không
chú tâm làm cho căng thẳng hoặc rắc rối. Và như vậy “Ru” cách xa với thể loại
hư cấu, hiện thực huyền ảo, không đào bới tới sự tưởng tượng phi hiện thực. Một
người có cách thức kể chuyện hay mà lôi cuốn, người đó chẳng cần phải thêm mắm
dặm muối. Kim Thuý chú trọng tới sự đơn sơ và cô thích chứng minh cho người
xem: Một vẻ đẹp tự tại chả cần tới phấn son, cầu kỳ. Điều này, vô tình hoặc có
chủ ý, trên suốt những trang chữ, thứ bi kịch của cái gọi là thảm trạng thuyền
nhân, mặc cảm các thứ vẫn quá nhẹ so với những mưu cầu cốt hoàn thiện về một
cuộc sống mới, gặt nhiều cơ hội khi được hoà mình vào trong xứ sở tự do.

Nhà văn Kim Thúy
Là một thuyền nhân vượt biển sau Kim Thuý hai năm, đã chất tuổi đời trên
lưng nhiều gấp ba lần Kim Thuý, là một đứa tị nạn cộng sản không giỏi tiếng
Pháp bằng cô, tôi đọc “Ru” mà mất đi khá nhiều lòng mong đợi, rằng lý ra tác
giả phải làm đầy ắp cái “ba chìm bảy nổi” trong khi kể về cảnh ngộ một kẻ bị
(hay được) khoác áo boat people. Và “Ru” trước tiên cũng như sau cùng, viết ra
chỉ nhằm cho độc giả phương Tây đón đọc. Tôi tiếc uổng duy chỉ một điều: Kim
Thuý là một thuyền nhân quá may mắn. Sau lưng Kim Thuý, cả một rừng người bất
hạnh bị vùi thây dưới lòng biển cả, xiết bao đau thương hơn cả một “điệu ru
nước mắt”. Được biết thêm, cô có trở về Việt Nam làm việc trong bốn năm, ở Hà
Nội.
Mấy hôm gần đây, tên Kim Thuý được cộng đồng người Việt xa xứ nhắc nhở trong
hân hoan bởi tên cô lọt vào trong 4 ứng viên trên tổng số 47 người được đề cử
cho “Giải Thưởng Mới Trong Văn Chương” (the New Prize In Literature). Giải này
tạm thời thay thế cho Nobel văn chương 2018 do bởi đã có những vết nhơ, scandal
liên quan tới ban giám khảo- hàn lâm viện Thuỵ Điển vừa cho biết.
RU được dịch sang 27 thứ tiếng khác biệt. 27 quốc gia “cha căng chú kiết” có
quyền đọc “Ru” nhưng tiếng Việt, quê hương tác giả, thì hổng có. Giải thích
điều này, Kim Thuý nói: “Có lẽ vì tôi viết về đề tài vượt biển? Một chuyện “khó
nói” ở trong nước”.
Trả lời báo National Post, tác giả “Ru” tâm sự: “Viết văn chỉ là một sự tình
cờ. Tôi không chọn văn chương mà văn chương đã tự tìm đến tôi”. Bà cũng thẳng
thắn: “Tôi không hy vọng thắng giải, vì đứng bên tôi có Neil Gaiman người Anh
cũng như Haruki Murakami của Nhật, những nhà văn dày dặn kinh nghiệm trong khi
tôi chỉ mới khởi đầu cuộc hành trình của mình”.
Kim Thuý có nhắc tới Haruki Murakami (nhà văn tôi yêu thích) làm nhớ lại một
tác phẩm mới của ông nhà văn Nhật này. Tác phẩm Kishidancho Goroshi, được
chuyển dịch thành Killing Commendatore. Cuốn tiểu thuyết bị xếp vào hạng 18+
khi vào thị trường Hong Kong vì những đoạn văn mô tả về tình dục quá sức bạo
liệt, bị xem là ấn phẩm thô tục. Sách được bọc giấy kiếng ở hiệu sách, nếu muốn
mượn ở thư viện người xem phải trình thẻ căn cước chứng minh trên 18 tuổi. Tuy
nhiên, khi sách sang tới Trung quốc thì tình cảnh lại khác hẳn, chỉ trong những
ngày đầu (từ 10/3/2018) cuốn sách “đồi truỵ” ấy được bán đi trên 700.000 cuốn.
Ở Thượng Hải, một cửa hiệu sách giới thiệu tác phẩm đó đã có hơn 2.000 người
sắp hàng vào mua, sẵn dịp để xin chữ ký của dịch giả. “Văn chương phải mở ra
được những chân trời khác với cuộc đời nhàm chán này. Tôi không nghĩ là Haruki
Murakami bị sa lầy, người đọc đã vô tình quên đi khía cạnh thơ mộng luôn tải
đầy trong văn của ông ta”. Một độc giả đứng sắp hàng đã phát biểu cảm tưởng như
trên.
Vậy thì, sự thưởng văn vốn là thứ bất khả tư nghì. Người khen kẻ chê, chuyện
ấy xưa nay vẫn diễn ra, như kiểu vào nhà hàng ăn có người xuýt xoa hít hà lại
có đứa ơ hờ tuồng không hợp khẩu vị. Mới hôm qua, trời chuyển sang Thu, tôi lại
buồn chân “bát phố”. Đi ngang qua cửa hiệu sách ngày nào vớ được cuốn “Ru”, giờ
phát hiện một đổi thay: Nhà sách vẫn còn đó nhưng hiện tại nó bị xắn làm đôi,
thu bé lại; nửa kia đèn đuốc sáng loà chuyên trị nữ trang, hột xoàn, đồng hồ
đắc tiền cỡ Rolex của cựu hoàng Bảo Đại và bút máy bơm mực giá tối thiểu 1.500
gia kim một cây. Đã bị lấn đất dành dân, giang sơn đã cắt làm đôi vậy mà nhìn
vào cửa hiệu sách thì chỉ loe ngoe đôi ba mạng chắp tay lỗ đít đi thơ thẩn mặt
mày coi bộ không ham đọc sách in trên giấy. Thời buổi lạ kỳ! Sách vở và vòng
vàng kim cương, chúng nằm sánh đôi và xem chừng chúng không hề là thứ nằm trong
ý nghĩ của nhà văn Trung quốc Mạc Ngôn khi viết nên tác phẩm nổi tiếng: “Báu
Vật Của Đời”.
Tôi mang cùng ý nghĩ với Kim Thuý: “Không hy vọng được lãnh giải…”. Một nhà
văn chân chính, thường họ chẳng màng tới sự vinh quang kia. Haruki Murakami là
một bằng chứng, lần nào người ta cũng xướng tên ông lên, những là ứng cử viên
sáng giá, để rồi sau đó chả ai thèm nhắc tới. Ông ấy vẫn chăm viết, vẫn chẳng
lấy đó làm điều và đọc giả trung thành của ông thì nhiều biết cơ man nào mà đếm
xuể
Là người Việt, tôi xin được chia vui cùng tác giả Kim Thuý. Khi thế giới đề
cử bà là một trong 4 thành viên có cơ may đoạt giải, chỉ chừng ấy thôi là đã đủ
hãnh diện rồi. Đã mát dạ mát gan rồi, đã đủ sức “ru” cộng đồng người Việt lưu
vong đi vào một giấc mộng êm đềm, dù nhỡ hạ hồi câu chuyện không dẫn tới happy
ending. “Ru em cho thét cho muồi, để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu…” Tôi ăn không
được lá trầu có têm vôi bên trong, nghĩ là nó cay đắng vô cùng. Trầu cau cũng
có sự tích chua chát đầy bi kịch của nó, mà tôi, tôi nào được tích sự gì đâu!
Hồi nào “Ru” được nhà nước cởi mở thông thoáng cho in ấn bản tiếng Việt, lúc ấy
tôi xin được cà kê dê ngỗng dài lời hơn. Trong khi chờ đợi, dù không ai ru, tôi
cũng trùm chăn đi thét đây.
Hồ Đình Nghiêm
26/9/2018