Máy bay lướt ngang thảm nước biếc
bao la mút thẳm phía dưới, trí Nết chập chờn về những tháng ngày vừa qua, đăng
đẳng vô vị đến tội nghiệp mình: bị xâu xé trong tính toán về / ở và làm chứng
nhơn cho những điều nghịch thế nửa khóc nửa cười. Ngó xiêng nghiêng theo cánh
máy bay, dõi mắt nhìn sự mềm mại tuyết trắng của lớp mây phía dưới, Nết so sánh
đời mình với lớp mây kia. Mây vô định, bất trắc nhưng ít ra được nhởn nhơ không
đau khổ về hoàn cảnh trái ý… Hành khách chung quanh sao mà vô tư, mình thì bận
bịu về ý phải đưa ra cho những câu hỏi của người lối xóm tò mò. Thấy trước
trong ánh mắt của những cô bạn gái chung quanh lóa lên tia thương hại rằng mình
chướng khí, cờ vô tay không phất thì thôi lại còn liệng xuống đất đạp đạp.
Đổi lại thế ngồi để cắt đứt dòng suy
nghĩ, Nết trầm trồ trong bụng về mấy ngón tay sơn vẽ của người đờn bà hơi cứng
tuổi ngồi đầu hàng ghế bên kia đường đi: bóng chuốt, trang trí tỉ mỉ bằng những
bông hoa sặc sỡ. Ngó xuống móng tay mình, trơn tru, coi quê mùa cách gì, tự
nhiên Nết mỉn cười. May mà mình chưa quen với cách trang điểm thời thượng đó,
mang bộ móng đỏ nầy về càng nhục hơn…
Đò Đại Ngãi ủi vô bến, người lái đò
tắt máy, gài thắng rồi bước mau ra trước bỏ tấm bửng ở đầu mũi xuống, gác kê
lên bờ đất. Tiếng máy xe của hành khách nổ điếc tai chừng năm bảy phút rồi trả
lại cảnh ngáy ngủ cho toàn khu vực. Đời sống ở quê nhà vẫn như bao nhiêu năm
trước, trầm lặng tiếp nối. Nết hít thiệt sâu không khí thân thiết mùi quê hương
rơm rạ, chỗ chôn nhao cắt rún của mình rồi đưa mắt quan sát cảnh vật chung
quanh, thay đổi tuy có nhưng chậm như rùa nên không lạ lẫm bao nhiêu, Ông lão
ngày nay đi bừa là con ông lão ngày xưa đi cày; ông lão ngày xưa đi cày là cha
ông lão ngày nay đi bừa (thơ PPL). Vậy đó dòng đời trôi chảy, người đi sau con
trâu hay còng lưng gánh nặng những nông sản không bao nhiêu tiền. Tấm bảng lớn
chào mừng quý khách đến Thị Trấn Cù Lao Dung màu xanh nước biển lâu ngày biến
thành nhờn nhợt mốc thích. Con đường độc đạo xuyên qua cù lao đi về phía bến đò
Đại Ân 2 vẫn buồn như thuở nào. Hai bên mép đường lác đác những căn nhà lụp
xụp, thấp thoáng phía trong có người đàn bà ngồi bệt xuống đất bắt chí cho con
trong khi bên ngoài hai ba cái bàn ọp ẹp thỉnh thoảng có những thanh niên lưng
trần, ốm yếu, đương đánh vật với mấy gô rượu đế ngâm đá cục. Mấy quài dừa xiêm
để ơ hờ ngoài mép cửa. Gần tới nhà, trước khi quẹo vô xóm mình, Nết đứng lại
ngắm nghía cảnh vật chung quanh, luôn tiện tránh hai người đàn ông đương quàng
vai nhau đi ngất ngơ coi thiệt thanh bình. Một người đàn bà lật đật nách con
đứng lên đon đả ra hỏi Nết:
‘Bây về hồi nào vậy Nết, sao mau
vậy, bộ nhớ tía bây hả?’
Nết trả lời cho qua chuyện:
‘Nhớ xóm nhớ làng phải về thăm thôi.
Để lâu con cái đùm đề còn đi đâu được nữa. Thấy tía tôi có nhà không Xẩm Ba?
Xẩm Ba bước ra ngoài mái hiên, xòe
bàn tay che nắng cho đứa nhỏ:
‘Mới thấy tía bây tiếp người khách ở
dưới xóm Đài Loan lên đó. Nghe đâu nhà họ có người đau bụng đẻ trâu, rặn hồi
hôm tới giờ, nhờ tía bây cho thuốc trục. Trời! Bây mới qua bển có mấy tháng mà
coi tơ quá. Mát da mát thịt dàng trời!’
Nết cười bẻn lẻn cám ơn, chào Xẩm Ba
rồi quay lưng rẽ vô đường hẻm nhà sau khi đưa tay véo nhẹ má thằng nhỏ kháu
khỉnh đương ngậm chàm bàm một búng cơm. Nết gặp tía mình đưa một người thanh
niên ra tận vuông rào và đương lập lại câu dặn dò:
‘Lựa một trái đu đủ lớn mà còn xanh
nha, càng xanh đậm càng tốt, cắt hai theo bề dọc, đừng rữa mủ gì hết, cứ để
vậy, úp vô lòng hai bàn chưn chừng mười lăm phút thì đẻ được thôi. Coi chừng
khi đứa con ra rồi, nhao coi bộ hết thì lấy đu đủ bỏ đi không thôi tử cung tuôn
ra theo đó. Nhớ nha, cẩn thận cái vụ này, hông phải giởn chơi đâu!’
Nết tươi cười chào người thanh niên
quen biết:
‘Chào hia Hơn. Sao lập gia đình
chưa?’ Có cái lắc đầu chán chường. ‘Lo làm ăn đi ông ơi, lông bông hoài quá
tuổi phải ở góa đó. Ờ mà ai sanh khó vậy hia?’
Khách mắt sáng lên:
‘Chào Nết! Chị Hai tôi. Khổ quá, nhà
đơn chiếc mà chuyện nầy chuyện kia hoài.
Ngừng một lúc hơi lâu, anh nói tiếp,
chậm rãi:
‘Cũng muốn có gia đình để có cớ tu
tỉnh làm ăn, nhưng xui là sanh ra trong xóm Đài Loan nên con gái đâu lọt tới
phiên mình. Đành chịu ế độ. Thúi hẻo. Tháng rồi hai cô còn nheo nhẻo theo chồng
xuất cảnh, tháng nầy rục rịch một cô nữa. Cha mình ăn mắm thì mình khát nước.
Đời ổng trai thiếu gái thừa, đời mình có bao nhiêu con gái thì Đài Loan, Hàn
Quốc vớt hết.. mình bơ mỏ khóc thầm cả đêm.
Tía Nết nghe lóm thấm ý mỉn cười nửa
miệng nhưng không nói gì.
‘Thôi đừng quê xệ nữa, hia Hơn chịu
khó đợi, để thủng thẳng tôi coi cô nào ở xóm nầy được được làm mai cho…’ Nết an
ủi bạn và chấm câu bằng một cái le lưỡi rụt rè.
Người thanh niên cười buồn, chào hai
tía con, quay đầu xe, mở máy chạy ra khỏi ngỏ.
Ông thầy thuốc đưa hai tay kéo cái
va li của con, mắt ướt rượt:
‘Sao về mà không báo trước để tía đi
đón hay bao xe lên thành phố rước con. Tính dấu được chừng nào hay chừng nấy mà
con về bất tử nên cũng nói thiệt luôn. Thằng Na, em con mất rồi.’
Nết nghe như trời xập kế bên mình ầm
ầm. Tiếng ông già đều đều mơ hồ như trong chiêm bao. ‘Nó đi nhậu dưới bến đò
Đại Ân rồi qua bển cặp bè cặp bạn chạy chơi sao đó, không đội nón bảo hộ còn cự
cãi với công an giao thông. Bị bắt về đồn. Chiều hôm sau tía được báo tin là
tối đó nó thắt cổ bằng tấm ra trãi giường. Thảm quá! Vú con ở dưới nghe chuyện
nầy chắc chết thêm lần nữa!’
Cả không gian tối sầm, những cột,
vách căn nhà ngã xiêng theo nhau xụp xuống, Nết bấu vô cái bàn nước giữa nhà,
định thần. Chợt Nết như nghẹn cứng họng, nổi quạu:
‘Thắt cổ gì, ra đâu mà có sẵn trong
tù? Con nít nghe cũng biết có gì đó không ổn. Cái quân ác đức mà…’
Ngừng một chút nén giận, Nết thở dài
vịn vai tía:
‘Mà thôi, số nó vậy thì phải chịu
vậy. Xác thân đời! Mình nín thở qua sông cho yên chuyện. Lùm xùm chọc ổ kiến
lửa chẳng ích gì….. Mấy tháng rồi tía?’
‘Cũng đâu ba bốn tháng nay. Con đi
độ chừng hơn một con trăng chứ mấy! Tía cố quên ngày tháng của nó. Người ra đi
rồi thì thời gian còn có nghĩa lý gì đâu nữa mà để ý.’
Nết thắp mấy cây nhang cho em, trên
bàn thờ chỏng chơ hai trái xoài bự kềnh, xanh lè (cái giống xoài Đài Loan oan
nghiệt trồng trên cù lao có nhiều con gái đẹp nầy) rồi ngó qua tía, quẹt nước
mắt:
‘Bịnh tim tía sao rồi, đở không?’
‘Thì cũng vậy vậy thôi, xình lên xẹp
xuống như giả ngộ. Tháng rồi thầy giáo Hoạch ở bên Sóc Trăng có cấp cho giấy
giới thiệu lên gặp phái đoàn y tế Mỹ trên tàu gì đó vừa mới cặp bến Sài-gòn làm
chuyện nhơn đạo. Tía lên thì họ nói cần thêm giấy chứng nhận thuộc diện nhà
nghèo vì bịnh nhơn lung quá làm không xuể.’
‘Rồi sao? Tía có lên Ủy Ban xin
không?’
‘Chầu chực mấy ngày mới được mời vô
giải thích là Cù Lao mình lên Thị Trấn mấy năm nay rồi, được Trên công nhận là
huyện tiên tiến, đã thực hiện xong chuyện xóa đói giảm nghèo, làm sao ai dám cả
gan thọc tay vô chứng nhận tía nghèo. Cũng có lý! Thôi, để bịnh theo tía xuống
mồ luôn. Nói thì nói vậy, chớ mỗi ngày tía đều vái van y tổ Hải Thượng Lãn Ông,
Nguyễn Trọng Phủ phò hộ cho tía tự bốc thuốc được lành. Biết đâu!’
Nết thấy mình không còn hơi sức nói
gì thêm được. Nghe chuyện nhà riết rồi muốn té xỉu. Chữ biết đâu của tía thể
hiện lòng kỳ vọng vô bờ, một kỳ vọng ngay tía cũng cảm nhận như kẻ chìm đò mong
mỏi một tấm ván nào đó trôi ngang. Nết lũi nhanh ra nhà sau rửa mặt, cố che dấu
cặp mắt Nết biết rằng đương đỏ hoe và ngập ngụa lệ tràn.
Đoàn người lục đục xuống khu nhận
hành lý. Phi trường bao la, người đông như kiến. Nết run run, mình tiếng Tây
tiếng u không biết, mọi chuyện đều mới tinh lần đầu, biết làm gì đây! May mà họ
đã chuẩn bị sẵn một nhân viên nói tiếng Việt nên mọi sự rồi cũng qua. Bực mình
là cái điện thoại cứu khổ cứu nạn đợi hoài mà không thấy reng. Hòa cả hơn hai
giờ sau mới có mặt, xuýt xoa chuyện kẹt xe với không có chỗ đậu gần. Sợ và bực
mình tới nghẹn cổ nhưng cũng làm thinh bỏ qua! Về tới nhà thì đã có sẵn bốn năm
ông tướng trời thần mặt nào mặt nấy đỏ gay như Quan Công, đương ngã nghiêng nói
chuyện trên trời dưới đất, cụng ly liên tu và hình như chưa tay nào muốn vãn
sòng. Nết sửa soạn bộ mặt tươi tỉnh nhứt chào ra mắt mọi người rồi lăn ngay vô
bếp tự coi mình như có bổn phận phải phụ Hòa tiếp khách. Mệt muốn đứt hơi như
là nếu không định thần thì ngã bẹp xuống đất nhưng phải chưng mặt ngoan hiền,
đứng và đứng mặc dầu hành hẹ tiêu tỏi mắm muối để chỗ nào mỗi thứ đều phải hỏi…
Những câu bình phẩm sau lưng nghe
loáng thoáng, gái một con trông mòn con mắt làm mình càng bực bội hơn. Bạn với
bè! Đã dặn là không nên nói chuyện gia đình mình với người ngoài. Chẳng tốt
lành gì, họ biết cũng chưa chắc đã thương mình hơn. Hứa rồi sao lại còn cho
người khác biết. Những ánh mắt nhìn lén lút sau lưng, xuýt xoa lưng ong, khéo
chìu chồng lại khéo nuôi con làm mình đỏ bừng mặt. Vâng, tôi đã có một con,
nhưng đó không phải kết quả của tình yêu, đó là sự trao đổi thương vụ, trao đổi
đã xong chính tôi muốn quên đi thời gian bi thảm làm công cụ đẻ mướn cho người.
Tôi muốn lập lại cuộc đời, anh ấy tuy lớn tuổi nhưng là cái phao cho tôi, dầu
không hoàn toàn ưng bụng cũng là phao không dễ mà có được. Nhưng sao thấy có gì
lợn cợn ngay lúc bắt đầu. Cuộc tình mới nở coi bộ đã bị sọc dưa từ trong trứng
nước.
Nết ngồi nhớ lại chuyện gần sáu
tháng trước. Thở ra. Hòa chưa lúc nào nhắc đến chuyện làm hôn thú, anh chỉ chăm
chút cho cái tiệm phở và những tính toán chi li, những than phiền về kẻ ăn
người ở không biết làm việc khiến anh hao tốn vô ích. Tháng trước, nhơn khi Hòa
thuyết giảng về đại họa Hán tộc của toàn cầu, Nết khuyên anh nên mua tương ớt
tiêu gừng từ Hàn Quốc hay Nhật Bổn thay vì dùng hàng Trung Quốc tuy rẽ nhưng có
thể hại cho sức khỏe người dùng, đã bị nự một trận nên thân nào là không nên
đem chánh trị vô chuyện bán buôn, nào là thân cô còn lo chưa xong, sao lại lo
cho thân khách hàng. Gần đây Hòa lại đổ quạu nạt nộ Nết rữa rau hai ba nước,
quá mất thời giờ lại hao phí nước nôi, chén tộ rau cỏ không vì chút xíu sạch dơ
mà mất khách hay thêm khách…. Giọt nước tràn ly khi Hòa ở chỗ làm thuế về hí
hửng báo tin mình khôn lanh nên tiền thuế tính cho khách hàng mình chỉ nộp lại
cho Sở Thuế chưa đầy một phần nhỏ. Không biết vì nguyên nhơn sâu xa nào khi
nghe Hòa báo như vậy lòng Nết trở nên lạnh tanh. Ý tưởng phải xa người đàn ông
nầy phừng lên tột cùng khi ông ta mướn người chạy mánh cho cả nhà lãnh food
stamp vì thuộc diện nghèo, lợi tức thấp. Nết còn nhớ rõ khi Hòa vẽ ra viễn
tượng lãnh thêm tiền thì tay anh quơ quơ trước mặt, rất hãnh diện, sợi dây
chuyền vàng bự xộn mặt đong đưa thiếu điều kéo cổ anh ta xuống. Và Nết đã lén
mua giấy máy bay bay về không một chút tình vướng víu, đắn đo…
‘Đó, tía coi, con làm sao ở với anh
ấy suốt đời được.’ Nết nói trong nước mắt. ‘Khôn lanh đó, nhưng mình không nên
dính dáng vô để thụ hưởng những khôn lanh kỳ cục như vậy. Anh ấy mánh mung nên
tâm bất an, đêm nào ngủ cũng mớ vì ác mộng hay giựt mình thức dậy nửa đêm khiến
con không sao yên giấc dầu là ban ngày quần quật hơn mười bốn tiếng. Thà về bên
nầy chịu nghèo cho sạch như ông nội mớm dạy con lúc nhỏ, tâm sẽ bình an hơn.’
Ông thầy thuốc tay lật lật quyển
sách thuốc cũ rách, mắt ngó ra ngoài sân, môi run run:
‘Nghèo cho sạch là hạnh tu hành của
người cư sĩ đó con. Hạnh nghèo cho sạch còn khó hơn hạnh giàu bố thí. Và cũng
an lạc chơn tâm hơn bố thí nhiều.’
Nết vói tới trước cầm lên vuốt vuốt
cái điện thoại cả ngày nay bỏ lăn lóc trên bàn:
‘Con không hiểu biết nhiều như tía,
nhưng con vẫn nhớ chuyện bốn hột cơm nặng nề mà nội giải thích là ơn nặng của
người cho. Chuyện đó nội kể con nghe lâu lắm rồi.’
Người cha rót hai tách nước trà, đẩy
một tách tới trước mặt con gái:
‘Chuyện như thế nào tía già lú lẫn
rồi, con kể lại tía nghe.’
‘Lúc đó con đâu chừng bảy tám tuổi,
ăn cơm thường bỏ mứa. Nội kể chuyện có chú tiểu nhỏ giặt áo tràng cho thầy
mình, đè nhận hoài mà áo không chìm nên không thấm nước, không giặt được. Chú
vào bạch thầy. Thầy dạy vô sau nhà trù lấy bốn hột cơm đưa thầy, thầy đem ra để
lên bốn góc áo chỗ nổi lên mặt nước, tức khắc áo tràng chìm xuống nước. Ông nói
cơm quá nặng vì chứa ơn trọng của người cho ta, trong chùa là ơn của tín thí
đàn na, trong gia đình là ơn của cha mẹ, trong nước là ơn của toàn thể người
đóng thuế góp phần…’
‘Và con lạnh nhạt với thẳng là do
thẳng…’ Ông thầy thuốc không nói dứt câu. Hai tía con ngồi trầm ngâm, mỗi người
xoay xoay tách nước của mình. Lâu thiệt lâu người tía mới nói:
‘Quấy đó, tệ đó, nhưng ở đâu cũng
nhan nhản. Bên đây cũng lung mà bên kia cũng nhóc. Sống chung với cái quấy, cái
tệ mà không nhiễm mới quan trọng. Tách nước trà rữa sạch rồi vẫn còn phưởng
phất mùi trà vì bị nhiễm lâu ngày chầy tháng. Chén ngọc mới không nhiễm mà
thôi, nhưng chén ngọc trong cõi trần ai nầy khó kiếm lắm. Con là con của tía mà
đời là đời của con, tía để con quyết định nên về với thẳng hay ở lại trên quê
hương mình. Suy nghĩ cho kỷ, đừng có chướng, làm bậy cho đã nư là không nên.’
Nết đưa tay ra nắm bàn tay xương xẩu
của tía mình:
‘Đợi điện thoại của Hòa coi anh ấy
nói sao rồi mới tính được tía à. Dầu sao cũng tình nghĩa. Sòng phẳng, không
mượn anh ấy làm bè qua sông như thói thường thiên hạ, nhưng con cũng nghĩ là
không nên dứt tình rốt ráo.’
Con dế trên bàn nằm yên ngủ, coi bộ
chưa muốn kêu. Ngoài sân những bao thuốc Nam phơi nhiều nắng trỗ màu xám ngắt
buồn tênh.
Nguyễn Văn Sâm
Victorville, CA. July 15-25 2011
Victorville, CA. July 15-25 2011
