Bà làm việc cật lực, nhưng chẳng phải vì tiền. Tại cái số nó
vậy. Ai đời tên cúng cơm bà là Hoa, Tiếu Hoa, nên lúc nào môi miệng cũng tim tỉm,
lại có ông chồng tên Nga (chính ra ông có tên Ngang, vì ông sinh ngược. Bố ông
cho tên Ngang không sang, đặt Ngân cho nó kêu. Chừng đi làm giấy khai sinh, cái
anh làm giấy là con bà tiệm may thường có thói quen xẻo bớt chút rẻo, nên anh
cũng xẻo bớt một phần, chỉ còn lại là Nga. Trong khai sinh tên ông có đội mũ).
Tên hai ông bà toàn là tên các cái nôi cách mạng vĩ đại cả, thành ra số bà là
phải lao động mới vinh quang.
Bà đã sáu mươi hơn, ấy vậy mà cứ mạnh cùi cụi. Thoắt một cái
là chạy ra chợ khuân về một đống nào thịt nào đậu xanh nào hành củ hành lá, tha
hồ ai muốn đặt bao nhiêu cái bánh chưng thì đặt. Ăn bánh bà phát ghiền, phần vì
rẻ phần vì ngon. Rẻ đến nỗi thiên hạ đùa nhau là thịt chuột. Ngon tới nỗi chất
nếp mịn màng như không phải nếp hột, vừa độ dẻo ôm lấy cái lưỡi háu ăn, đậu
xanh vừa bùi vừa thơm, bở ra trong đóc họng, thịt vừa độ mặn nhạt và rệu đến nỗi
chỉ cần ấn nhẹ đôi hàm răng (dù giả) là thịt thà đã chui ngay xuống cổ. Tới trạm
chót của bao tử rồi mà cái mùi lá chuối xanh, mùi tiêu, mùi hành, mùi mắm dân tộc
hãy còn cứ phưỡng ở mũi. Tuyệt vời !
“Bác ơi, chu cha, nặng vầy làm sao bác bưng cho nổi?”
“Tôi có bưng đâu, cứ vớt ra từng cái, xả nước thì mở cái vòi
đây nè. (Cười cảm động) Tội quá, ý tứ quá, biết lo cho bác.”
“Còn cái cối như vầy làm sao bác bưng chận lên bánh được?”
“Cứ dần nó tới, dễ lắm, không sao.”
Tôi nhìn một đống cối đá, nhăn mặt dạy đời :
“Sao bác không nhờ người làm cái cần quây lên quây xuống cho
đỡ nặng?”
“Thôi thôi, như vậy thành kỹ nghệ rồi, đâu ngon lành gì nữa.
Mỗi cái bánh chận lên ít nhất cũng phải hai mươi ký chớ ít sao. Mà thôi đừng
lo, tội quá. Bữa đó cô đặt mấy cái?”
“Cháu đặt tám cái.”
Bà quát :
“Chi mà lắm thế. Tôi chỉ còn ba cái đây này.”
“Chết, không đủ bác ơi. Còn phải mang tới cho bà mẹ chồng...”
“Ối giời, mẹ chồng với chả mẹ chồng! Mang cho bà ấy mấy
cái?”
“Bốn cái.”
“Mẹ chồng già rồi mà ăn chi lắm thế. Mang cho bà ấy một cái
thôi, còn cô hai cái. Thôi hết rồi đấy. Tôi chịu, làm bao nhiêu cũng không đủ!”
Chẳng ngạc nhiên gì vì bà Nga không hề có mẹ chồng, chỉ có bố
chồng. Mà ông bố chồng thấy thằng con bẽn lẽn dắt về một cô Việt Nam xinh đẹp
hiền thục thế kia thì cưng còn hơn cưng cái nhà từ đường. Gia đình bà Nga hồi
đó cũng muốn gả cho ông Nga cho rồi, vì mới mười bảy tuổi đầu mà trông bà cứ
phơn phớn đẹp, mắt mũi cứ tròng trành ướt át, người ngợm cứ tươn tươn lên bát
ngát. Đám con trai Tàu ngày ngày lượn lờ trước cửa, khối thằng nhà giàu ra gì,
nhưng bố mẹ bà lại ưng ý đám ông Nga hơn, dù sao cũng là giòng dõi con rồng.
“Mai bác còn nấu nữa không, cho cháu ít cái nữa.”
“Không, mai tôi nghỉ đi chùa. Mai làm lễ cho nhà tôi đấy.”
“A dạ !”
Mua bánh mà toàn dùng ngôn ngữ ăn mày. Đã nói là bà làm
không phải vì tiền mà, bà bỏ công ra bố thí cho nhân loại đấy. Chớ nội căn nhà
tổ bố phía trước cách nhà sau chỉ một cái sân nhỏ mà có bao giờ bà đặt chân ra
đâu. Có, nhưng chỉ thỉnh thoảng để lau chùi. Nội cơ ngơi phía sau đủ bà hành
nghề làm phước rồi. Mà nào bà có cần nhiều chỗ, cái nhà phía sau bày chai lọ để
đựng nước mắm cho khách, bao ny lông thì treo dọc treo ngang chiếm hết ba phần
tư căn nhà. Bà chỉ còn lại một khoảng nhỏ đặt cái bàn và vươn tay trái rút cái
bao ny lông, vươn tay phải bốc bánh hay chả chiên hay thịt kho bỏ vào bao, rồi
túm đầu bao lại, là đủ rồi, cần gì phải thênh thang? Bà lại thường đứng ngay cửa,
tức khách đứng ngoài, cần gì rộng hơn? Và nếu vì tiền, bà chỉ việc cho thuê hay
bán phía trước đi rồi lúc thúc ở nhà sau nhai hoài tới hết đời vẫn chưa hết của
mà!
Lúc nào bà cũng lịch sự tươm tất. Chắc trước khi hấp hối mà
chưa kịp trang điểm thì bà không chịu nhắm mắt xuôi tay cho đặt xác vào hòm. Tới
nhà bà dù chín mười giờ tối, và dù chỉ thắp cái đèn bóng tròn nho nhỏ mờ mờ, dù
bà chỉ một mình, vẫn thấy bà áo dài truyền thống, phấn son chỉnh tề ra mở cửa.
Hai cườm tay mang bốn cái vòng ngọc chạm vàng. Ngón tay nếu biết nói, chúng sẽ
kiện bà về tội bóc lột sức lao động. Hẳn bà tiếc sao trời không cho thêm bà ít
ngón nữa. Và nếu bà cần tiền, cứ lột mấy ngón tay ra cũng đủ có nhai có để rồi.
Còn tai, may là già rồi chớ còn trẻ hẳn bà dám đục thủng nhiều lỗ dọc vành.
Nghe nói hồi cưới bà, ông Nga chẳng có gì nhiều, mà bà thì
sính nữ trang từ nhỏ nên phụ thân ông cũng ráng lo cho bà đủ bộ lệ. Bà chẳng
đòi hỏi gì lắm đâu, chỉ cái nghe lời con nhỏ bạn người Tàu, gì gì cũng phải có
đôi: hai đôi bông tai, hai đôi vòng, hai nhẫn, hai cái áo cưới, hai đôi hài
thêu. Ông người Việt bên Lào đã ba đời nên thiệt thà như đếm và nói tiếng Việt
không rành. Hồi mới quen nhau, mỗi lần tới là ông cúi sát đất như lạy bố mẹ bà.
Ngắm nghé con gái người ta có khác.
Về sau có lúc tâm sự với bạn bè, ông nói ông mê đôi mắt bà.
Ông không tả gì nhiều nhưng ai cũng thấy ông nghệ sĩ đáo để. Vì dù bây giờ già
rồi, đôi mắt bà vẫn tròn trịa với cái nhìn rất long lanh như mới nhỏ thuốc, thẳng
thắn ngây thơ, hồn nhiên như nai. Đôi chân mày thì nằm ngang phè phè trên đôi mắt
bồ câu ấy, tạo cho khuôn mặt bà một vẻ ngổ ngáo duyên dáng lạ lùng. Mới đầu
thiên hạ cứ kháo nhau cười, nói không hiểu hồi mới đầu và sau khi cưới, ban đêm
ban hôm ông tán tỉnh bà cách sao, chớ với nam phụ lão ấu gì ông cũng gọi bằng
“anh” tuốt hết. Khi ông đem bánh trái giao tận nhà, chị bạn tôi ra nhận, ông
“chào anh.” Chị bạn nhìn trước nhìn sau tưởng chồng mình hiện hồn về đứng bên cạnh,
còn ông Nga là người có cái gì nhỉ, ờ có lẽ là cái “thấu thị” với thế giới bên
kia, chị đâm ra rờn rợn mỗi lần gặp ông Nga. Tới một hôm thấy ông cười cười hỏi
con bé hàng xóm: “Chào anh, anh phẻ?” chị mới an lòng.
Từ ngày cưới, được cái vợ chồng cùng tuổi nằm duỗi mà ăn, huống
chi hai ông bà chẳng hề nằm duỗi, cứ mở mắt ra là đắm đuối lao động nên chẳng
những nhà cửa mọc cao lớn lên mà hai tay bà càng lúc càng chớp nháy. Tay bà
càng chớp nháy thì chùa chiền đình miễu càng mờ mịt khói hương. Nhưng mãi mãi
cũng chỉ rặn ra được một mụn gái. Qua Pháp làm ăn lậu chẳng thuế má gì, hai tay
bà lại càng ngày càng nặng. Và mụn gái càng ngày càng bước theo tiếng nhạc nhiều
hơn bước chân tới trường. Lúc đầu ông bà cũng buồn buồn. Riết rồi quen đi, bà bảo
là cái gì cũng có số cả, chớ hồi tui còn trẻ, thiên hạ biểu đi đóng phim chớ học
hành chi cho khổ. Mà cha mẹ tui gả chồng sớm quá chớ biết đâu... Cái số hết đấy
mà.
“Bác có gì nữa cho thêm cháu.”
“Có sẵn chả chiên đây. Lấy nhé?”
Bà Nga cúi nhặt mấy bao ny lông rơi vãi, xong vừa gãi đầu vừa
kêu:
“Khổ, cô coi, thiên hạ cứ đặt hết thứ này tới thứ kia, chẳng
có thì giờ mà gội cái đầu. Cô lấy một ký nhỉ?”
“Dạ. Là mấy cục hở bác?”
“Viên, mấy viên, có phải cứt đâu mà cục. Một ký mười viên.
(Tay gãi đầu bây giờ bốc chả) Hai, bốn...”
“Cháu nghe nói bác trai...”
“Sáu. Phật gọi ông ấy đấy cô à, chớ thiếu gì chỗ trượt chân
lại không chịu trượt mà phải đợi vào chùa, đợi lúc đi dạo hầu Thầy mới trượt? Mấy
rồi nhỉ, ờ tám. Cô thấy đúng không nào? Mười. Ngon lắm. Thế là sốt chút xíu rồi
đi đấy cô à, êm ái lắm.”
“Dạ êm ái thiệt. Đi được như vậy là tốt quá !”
“Đã bảo Phật gọi mà! Ờ, cô đạo gì nhỉ?”
“Cháu đạo Thiên Chúa.”
“Ừ, thế cũng tốt. Đạo Chúa thì chả tin gì sất nhỉ? Thế cô có
tin là ông nhà tôi Phật gọi không?”
“Dạ không, chắc là Chúa gọi.”
“Chúa gọi cái quỷ gì, người ta đạo Phật mà Chúa cô lại gọi
là nghĩa làm sao. (Tay bốc chả bây giờ đếm tiền) Này, thối lại cô ba chục. Thôi
về đi, dấm dớ!”
Paris, Septembre 1999.
Miêng
