Trên thế giới không có nước nào có
lịch sử lâu đời như Tàu, không có nước nào có một nền văn hóa không đứt đoạn
như Tàu, mà cái văn hóa đó lại đã từng đạt đến một nền văn minh cao độ. Người
Hy Lạp thời nay với người Hy Lạp ngày xưa chẳng liên quan gì với nhau. Người Ai
Cập cũng vậy. Nhưng người Tàu hôm nay thì đúng là hậu duệ của người Tàu cổ đại.
Tại sao một nước khổng lồ như vậy,
một dân tộc to lớn như vậy ngày nay lại ra nông nỗi xấu xa ấy? Chẳng những bị
người nước ngoài ức hiếp mà còn bị ngay dân mình ức hiếp. Nào là vua bạo ngược,
quan bạo ngược, mà cả dân (quần chúng) cũng bạo ngược.
Thế kỷ thứ XIX, quần đảo Nam Dương
thời nay tức là Đông Nam Á, còn là thuộc địa của Anh và Hà Lan, có một chuyên
viên Anh đóng ở Malaysia nói rằng: “Làm người Tàu ở thế kỷ thứ XIX là một tai
họa”. Bởi vì ông này đã thấy cộng đồng người Hoa sống ở quần đảo Nam Dương
giống một lũ lợn, vô tri vô thức, tự sinh tự diệt, tùy thời còn có thể bị sát
hại hàng loạt. Thế mà tôi thấy người Hoa ở thế kỷ XX so với người Hoa ở thế kỷ
XIX tai họa của họ còn lớn hơn.

Điều làm chúng ta đau khổ nhất là
bao mong đợi của người Hoa từ một trăm năm nay cơ đồ như đã bị tiêu tan toàn
bộ. Cứ mỗi lần có một mong chờ trở lại, hứa hẹn nước nhà một tương lai sáng sủa
hơn, thì kết quả lại càng làm cho chúng ta thất vọng và tình hình lại càng trở
nên tệ hại hơn. Một mong chờ khác lại đến, để rồi lại đem về những ảo vọng,
thất vọng, những tồi tệ liên miên vô tận.
Dân tộc cố nhiên là trường tồn, sinh
mệnh của cá nhân là hữu hạn. Một đời người có được bao ước vọng lớn? Có được
bao lý tưởng lớn, chịu được mấy lần tan vỡ? Con đường trước mặt sáng sủa thế
nào? Hay lại đen tối? Thật khó nói cho hết!
Bốn năm trước, lúc tôi diễn giảng
tại New York, đến đoạn “chói tai”, có một người đứng dậy nói: “Ông từ Đài
Loan đến, ông phải nói cho chúng tôi nghe về những hy vọng, phải cổ võ nhân
tâm. Sao lại đi đả kích chúng tôi?.” Con người đương nhiên cần được khích
lệ, vấn đề là khích lệ rồi sau đó làm gì nữa? Tôi từ nhỏ cũng từng được khích
lệ rồi. Lúc 5, 6 tuổi, tôi được người lớn nói với tôi: “Tiền đồ của Tàu nằm
trong tay thế hệ các cháu đấy!” Tôi cho rằng trách nhiệm của tôi lớn quá,
chắc không thể nào đảm đương nổi. Sau đó tôi lại nói với con tôi: “Tiền đồ
của Tàu nằm trong tay thế hệ các con đấy!” Bây giờ con tôi lại nói với cháu
tôi: “Tiền đồ Tàu nằm trong tay thế hệ các con đấy!”
Một đời, rồi một đời, biết bao nhiêu
lần một đời? Đến đời nào thì mới thật khá lên được?
Tại Tàu đại lục rộng lớn, sau thời
Phản hữu (Phong trào chống phe hữu năm 1958), tiếp theo lại là Đại Cách Mạng
Văn Hóa long trời lở đất. Từ ngày loài người có lịch sử đến nay chưa bao giờ
thấy được một tai họa do con người làm ra to lớn đến như vậy. Chẳng nói đến tổn
thất sinh mạng, cái tổn thương lớn lao nhất là sự chà đạp nhân tính, giầy xéo
lên phẩm hạnh cao quý. Con người nếu rời bỏ nhân tính và những đức hạnh cao quý
thì sánh với cầm thú.
Bây giờ người ta nói nhiều về Hương
Cảng [Hồng Kông]. Bất cứ nước nào, nếu có đất đai bị nước ngoài chiếm cứ đều
cảm thấy tủi nhục. Chờ cho đến lúc lấy được về chẳng khác nào lòng mẹ bị mất
con. Ai cũng nhớ chuyện nước Pháp lúc phải cắt hai tỉnh Alsace và Lorraine giao
cho Đức đã đau khổ như thế nào, lúc lấy lại được về đã sung sướng ra sao.
Nhưng Hương Cảng của chúng ta chỉ
cần nghe đến việc trả về tổ quốc là lập tức hồn bay phách lạc. Chuyện gì mà lạ
thế?
Còn nói về Đài Loan, hiện nay nhiều
thanh niên người tỉnh này hoặc người nơi khác ở đây đều chủ trương Đài Loan độc
lập. Tôi nhớ lại 30 năm trước đây, lúc Nhật Bản trả lại Đài Loan cho Tàu
(1945), mọi người sung sướng như si cuồng chẳng khác nào đứa con lạc mẹ lại tìm
được đường về nhà. Cái gì đã xảy ra sau 30 năm đó để cho đứa con kia lại muốn
bỏ nhà ra đi?
Ở nước ngoài, có lúc tôi dừng lại
trong công viên, nhìn trẻ con ngoại quốc, thấy sao chúng sung sướng thế. Trong
lòng tôi lúc ấy tự nhiên cảm thấy thèm thuồng quá. Chúng không phải mang gánh
nặng, con đường chúng đi bằng phẳng, rộng rãi quá, tâm lý khỏe mạnh, sung mãn,
sảng khoái.
Con trẻ Đài Loan chúng ta đến trường
học, đeo kính cận, mặt khó đăm đăm vì phải đối phó với áp lực bài vở. Mẹ ngất
ngã xuống đất, con đến đỡ mẹ dậy, mẹ kêu rống lên:
“Mẹ có chết cũng chẳng sao, việc gì
đến con! Con đi học bài đi! Đi học bài đi!”
Vợ tôi lúc dạy học ở Đài Loan, thỉnh
thoảng cứ đề cập đến đạo đức làm người, tức thì sinh viên nhao nhao phản đối:
“Chúng tôi không cần học làm người, chỉ cần học để ứng phó với việc thi cử.”
Lại nhìn về trẻ con ở Tàu lục địa, từ nhỏ đã phải học đánh đấu nhau, lừa dối
bịp bợm nhau, lại luyện tập cách lừa bạn, phản đồng chí, lại phải học cách bốc
phét, bịa đặt. Một nền giáo dục đáng sợ thay! Một thế hệ nữa những đứa trẻ này
lớn lên sẽ như thế nào?
Người ta thường nói: “Mình nắm
tương lai mình trong tay mình.” Lúc đã luống tuổi, tôi thấy câu này không ổn;
sự thực, có lẽ chỉ nắm được một nửa trong tay mình, còn một nửa lại ở trong tay
của kẻ khác.
Kiếp người trên đời này giống như
một cục sỏi trong một máy nhào xi măng, sau khi bị nhào trộn, thân chẳng tự chủ
được. Điều ấy khiến tôi cảm thấy đó không phải là một vấn đề của riêng một cá
nhân nào, nhưng là một vấn đề xã hội, văn hóa.
Lúc chết, Chúa Giê Su (Jesus) bảo: “Hãy
tha thứ cho họ, họ đã làm những điều mà họ không hề hiểu.” Lúc trẻ, đọc câu
này tôi cho rằng nó chỉ là một câu tầm thường. Lớn lên rồi lại vẫn thấy nó
không có gì ghê gớm cả, nhưng đến cái tuổi này rồi tôi mới phát hiện rằng nó
rất thâm thúy, thật đau lòng thay! Có khác nào người Tàu sở dĩ trở thành xấu xí
như ngày nay bởi chính vì họ không hề biết rằng mình xấu xí.
Chúng ta có đủ tư cách làm chuyện đó
và chúng ta có lý do tin rằng Tàu có thể trở thành một nước rất tốt đẹp. Chúng
ta không cần cứ phải muốn có một quốc gia hùng mạnh. Quốc gia không hùng mạnh
thì có can hệ gì? Chỉ cần sao cho nhân dân hạnh phúc rồi thì đi tìm quốc gia
hùng mạnh cũng chưa muộn.
Tôi nghĩ người Tàu chúng ta có phẩm
chất cao quý. Nhưng tại sao cả trăm năm rồi, cái phẩm chất ấy thủy chung vẫn
không làm cho người Tàu thoát khỏi khổ nạn?
Nguyên do vì sao?
Tôi muốn mạo muội đề xuất một câu
trả lời có tính cách tổng hợp: Đó là vì văn hóa truyền thống Tàu có một loại
siêu vi trùng, truyền nhiễm, làm cho con cháu chúng ta từ đời này sang đời nọ
không khỏi được bệnh.
Có người sẽ bảo: “Tự mình không xứng
đáng, lại đi trách tổ tiên!.” Xét cho kỹ câu nói này có một sơ hở lớn. Trong vở
kịch nổi tiếng “Quần ma” (Những con ma) của Ibsen (íp sen) có kể chuyện hai vợ
chồng mắc bệnh giang mai sinh ra một đứa con cũng bị bệnh di truyền. Mỗi lần
phát bệnh nó lại phải uống thuốc. Có lần tức quá nó kêu lên: “Con không uống
thuốc này đâu! Con thà chết đi thôi! Bố mẹ đã cho con cái thân thể như thế này
à!?” Trường hợp này thì nên trách đứa bé hay trách bố mẹ nó? Chúng ta không
phải trách bố mẹ, cũng không phải trách tổ tiên chúng ta, nhưng nhất quyết phải
trách cái thứ văn hóa họ đã truyền lại cho chúng ta.
Một nước rộng ngần đó, một dân tộc
lớn ngần đó, chiếm đến một phần tư dân số toàn cầu, lại là một vùng cát chảy
của sự đói nghèo, ngu muội, đấu tố, tắm máu mà không tự thoát được. Tôi nhìn
cách cư xử giữa con người với nhau ở những nước khác mà lại càng thèm. Cái văn
hóa truyền thống kiểu nào để sinh ra hiện tượng này? Nó đã khiến cho người Tàu
chúng ta mang sẵn trong mình nhiều đặc tính rất đáng sợ!
Một trong những đặc tính rõ nhất là
dơ bẩn, hỗn loạn, ồn ào. Đài Loan đã từng có một dạo phải chống bẩn và chống
hỗn loạn, nhưng chỉ được mấy ngày. Cái bếp của chúng ta vừa bẩn vừa lộn xộn.
Nhà cửa chúng ta cũng vậy. Có nhiều nơi hễ người Tàu đến ở là những người khác
phải dọn đi.
Tôi có một cô bạn trẻ tốt nghiệp đại
học chính trị. Cô này lấy một người Pháp rồi sang Paris sinh sống. Rất nhiều
bạn bè đi du lịch Âu châu đều ghé nhà cô trú chân. Cô ta bảo với tôi: “Trong
tòa nhà tôi ở, người Pháp đều dọn đi cả, bây giờ toàn người Á đông nhảy vào!”
(Người Á đông có khi chỉ người châu Á nói chung, có khi lại chỉ người Tàu). Tôi
nghe nói vậy rất buồn, nhưng khi đi xem xét tận mắt mới thấy là chỗ nào cũng
đầy giấy kem, vỏ hộp, giầy dép bừa bãi, trẻ con chạy lung tung, vẽ bậy lên
tường, không khí trong khu bốc lên một mùi ẩm mốc. Tôi hỏi: “Các người không
thể tổ chức quét dọn được hay sao?” Cô ta đáp: “Làm sao nổi!”
Không những người nước ngoài thấy
chúng ta là bẩn, loạn, mà qua những điều họ nhắc nhở chúng ta cũng tự thấy mình
là bẩn, loạn.
Còn như nói đến ồn ào, cái mồm người
Tàu thì to không ai bì kịp, và trong lĩnh vực này người Quảng Đông phải chiếm
giải quán quân. Ở bên Mỹ có một câu chuyện tiếu lâm như sau: Có hai người Quảng
Đông lặng lẽ nói chuyện với nhau, người Mỹ lại tưởng họ đánh nhau, bèn gọi điện
báo cảnh sát. Khi cảnh sát tới, hỏi họ đang làm gì, họ bảo: “Chúng tôi đang thì
thầm với nhau.”
Tại sao tiếng nói người Tàu lại to?
Bởi tâm không yên ổn. Cứ tưởng lên cao giọng, to tiếng là lý lẽ mình mạnh. Cho
nên lúc nào cũng chỉ cốt nói to, lên giọng, mong lý lẽ đến với mình. Nếu không,
tại sao họ cứ phải gân cổ lên như thế?
Tôi nghĩ những điểm này cũng đủ để
làm cho hình ảnh của người Tàu bị tàn phá và làm cho nội tâm mình không yên ổn.
Vì ồn ào, dơ bẩn, hỗn loạn dĩ nhiên có thể ảnh hưởng tới nội tâm, cũng như sáng
sủa, sạch sẽ với lộn xộn, dơ bẩn là hai thế giới hoàn toàn khác xa nhau.
Còn về việc xâu xé nhau thì mọi
người đều cho đó là một đặc tính nổi bật của người Tàu. Một người Nhật đơn độc
trông chẳng khác nào một con lợn, nhưng ba người Nhật hợp lại lại thành một con
rồng. Tinh thần đoàn kết của người Nhật làm cho họ trở thành vô địch.
Bởi vậy trong lĩnh vực quân sự cũng
như thương mại, người Tàu không thể nào qua mặt được người Nhật. Ngay tại Đài
Loan, ba người Nhật cùng buôn bán thì lần này phiên anh, lần sau đến lượt tôi.
Người Tàu mà buôn bán thì tính cách xấu xa tức thì lộ ra bên ngoài theo kiểu:
Nếu anh bán 50 tôi sẽ bán 40. Anh bán 30 tôi chỉ bán 20.
Cho nên, có thể nói, mỗi người Tàu
đều là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như là ở bên trên thì chỉ cần thổi
một cái là tắt được mặt trời, ở dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư.
Người Tàu ở một vị trí đơn độc như trong phòng nghiên cứu, trong trường thi nơi
không cần quan hệ với người khác thì lại có thể phát triển tốt. Nhưng nếu ba
người Tàu họp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con
giòi, hoặc thậm chí không bằng cả một con giòi nữa. Bởi vì người Tàu có biệt
tài đấu đá lẫn nhau.
Chỗ nào có người Tàu là có đấu đá,
người Tàu vĩnh viễn không đoàn kết được, tựa hồ trên thân thể họ có những tế
bào thiếu đoàn kết. Vì vậy khi người nước ngoài phê phán người Tàu không biết
đoàn kết thì tôi chỉ xin thưa: “Anh có biết người Tàu vì sao không đoàn kết
không? Vì Thượng đế muốn thế. Bởi vì nếu một tỷ người Hoa đoàn kết lại, vạn
người một lòng, anh có chịu nổi không? Chính ra Thượng Đế thương các anh nên
mới dạy cho người Hoa mất đoàn kết!” Tôi tuy nói thế nhưng rất đau lòng.
Người Tàu không chỉ không đoàn kết,
mà mỗi người lại còn có đầy đủ lý do để có thể viết một quyển sách nói tại sao
họ lại không đoàn kết. Cái điều này thấy rõ nhất tại nước Mỹ với những hình mẫu
ngay trước mắt. Bất cứ một xã hội người Hoa nào ít nhất cũng phải có 365 phe
phái tìm cách tiêu diệt lẫn nhau.
Ở Tàu có câu: “Một hòa thượng gánh
nước uống, hai hòa thượng khiêng nước uống, ba hòa thượng không có nước uống.”
Người đông thì dùng để làm gì? Người Tàu trong thâm tâm căn bản chưa biết được
tầm quan trọng của sự hợp tác. Nhưng nếu anh bảo họ chưa biết, họ lại có thể
viết ngay cho anh xem một quyển sách nói tại sao cần phải đoàn kết.
Lần trước (năm 1981) tôi sang Mỹ ở
tại nhà một người bạn làm giáo sư đại học. Anh này nói chuyện thì đâu ra đấy;
thiên văn, địa lý; nào là làm sao để cứu nước.
Ngày hôm sau tôi bảo:
“Tôi phải đi đến đằng anh A một tý!”
Vừa nghe đến tên anh A kia, anh bạn tôi trừng mắt giận dữ. Tôi lại bảo: “Anh
đưa tôi đi một lát nhé!” Anh ta bảo: “Tôi không đưa, anh tự đi cũng được rồi!”
Họ cùng dạy học tại Mỹ, lại cùng quê
với nhau mà tại sao không thể cùng đội trời chung? Có thể nào nói như vậy là
hợp lý được? Bởi vậy việc người Tàu cắn xé nhau là một đặc tính nghiêm trọng.
Những người sống tại Mỹ đều thấy rõ
điều này: đối xử với người Tàu tệ hại nhất không phải là người nước ngoài, mà
chính lại là người Tàu với nhau. Bán rẻ người Tàu, hăm dọa người Tàu lại cũng
không phải là người Mỹ mà là người Hoa. Tại Malaysia có một chuyện thế này. Một
ông bạn tôi làm nghề khai thác mỏ khoáng sản. Anh ta bỗng nhiên bị tố cáo một
chuyện rất nghiêm trọng. Sau khi tìm hiểu mới biết rằng người tố cáo mình lại
là một bạn thân của anh ta, một người cùng quê, cùng đến Malaysia tha phương
cầu thực với nhau. Người bạn tôi chất vấn anh kia: “Tại sao anh lại đi làm cái
việc đê tiện đó?” Người kia bảo: “Cùng đi xây dựng cơ đồ, bây giờ anh giàu có,
tôi vẫn hai tay trắng. Tôi không tố cáo anh thì tố ai bây giờ?”
Cho
nên kẻ thù của người Tàu lại là người Tàu.
Không hiểu vì sao người ta lại so
sánh người Tàu với người Do Thái được? Tôi thường nghe nói “người Tàu và người
Do Thái giống nhau ở chỗ cần cù.” Điều này phải chia làm hai phần:
Phần thứ nhất: cái đức tính cần cù
từ mấy ngàn năm nay cũng chẳng còn tồn tại nữa, nó đã bị thời kỳ “Tứ nhân bang”
(bè lũ bốn tên) phá tan tại lục địa rồi.
Phần thứ hai: chúng ta còn gì để có
thể đem so sánh với người Do Thái được? Báo chí Tàu thường đăng: “Quốc hội Do
Thái (Knesset) tranh luận mãnh liệt, ba đại biểu là ba ý kiến trái ngược nhau”,
nhưng cố ý bỏ sót một sự kiện quan trọng là sau khi họ đã quyết định với nhau
thì hình thành một phương hướng chung. Tuy bên trong quốc hội tranh cãi tơi bời,
bên ngoài đang giao chiến, bốn phía địch bao vây, nhưng Israel vẫn tổ chức bầu
cử.
Ai cũng biết cái ý nghĩa của bầu cử
là vì có đảng đối lập. Không có đảng đối lập thì bầu cử chỉ là một trò hề rẻ
tiền.
Tại Tàu chúng ta, hễ có ba người sẽ
cũng có ba ý kiến, nhưng cái khác nhau là: sau khi đã quyết định xong, ba người
đó vẫn làm theo ba phương hướng khác nhau. Giống như nói hôm nay có người đề
nghị đi New York, người đề nghị đi San Francisco… Biểu quyết, quyết định đi New
York, nếu ở Israel cả hai người sẽ cùng đi New York, nhưng ở Tàu thì một người
sẽ bảo: “Anh đi New York đi, tôi có tự do của tôi, tôi đi San Francisco!”
Người Tàu không thể đoàn kết, hay
cắn xé nhau, những thói xấu đó đã thâm căn cố đế. Không phải vì phẩm chất của
họ không đủ tốt. Nhưng vì con siêu vi trùng trong văn hóa Tàu ấy làm cho chúng
ta không thể đè nén, khống chế hành vi của chúng ta được. Biết rõ rành rành là
xâu xé nhau, nhưng vẫn xâu xé nhau. Nếu nồi vỡ thì chẳng ai có ăn, nhưng nếu
trời sụp thì người nào cao hơn người đó phải chống đỡ.
Cái loại triết học xâu xé nhau đó
lại đẻ ra nơi chúng ta một hành vi đặc thù khác: “Chết cũng không chịu nhận
lỗi.” Có ai nghe thấy người Tàu nhận lỗi bao giờ chưa? Giả sử anh nghe một
người Tàu nói: “Việc này tôi đã sai lầm rồi!” Lúc đó anh phải vì chúng tôi mà
uống rượu chúc mừng.
Con gái tôi hồi bé có một lần bị tôi
đánh, nhưng cuối cùng hóa ra là nó bị oan. Nó khóc rất dữ, còn tâm can tôi thì
đau đớn. Tôi biết rằng đứa con thơ dại và vô tội của tôi chỉ biết trông cậy vào
bố mẹ, mà bố mẹ bỗng nhiên trở mặt thì nó phải sợ hãi biết nhường nào. Tôi ôm
con vào lòng rồi nói với nó: “Bố xin lỗi con. Bố không đúng. Bố làm sai. Bố
hứa lần sau bố không làm như vậy nữa. Con gái ngoan của bố, con tha thứ cho bố
nhé!” Nó khóc mãi không thôi. Cái sự việc này qua rồi mà lòng tôi vẫn còn
đau khổ. Nhưng đồng thời tôi lại cảm thấy vô cùng kiêu hãnh bởi tôi đã dám tự
nhận lỗi của mình đối với nó.
Người Tàu không quen nhận lỗi và có
thể đưa ra hàng vạn lý do để che giấu cái sai trái của mình. Có một câu tục ngữ:
“Đóng cửa suy ngẫm lỗi lầm” (Bế môn tư quá). Nghĩ về lỗi của ai? Dĩ nhiên của
đối phương.
Lúc tôi đi dạy học, học sinh hàng
tuần phải viết tuần ký để kiểm thảo hành vi trong tuần. Kết quả kiểm thảo
thường là: “Hôm nay tôi bị người này người nọ lừa tôi. Cái người lừa tôi ấy
đã được tôi đối xử mới tốt làm sao, cũng bởi vì tôi quá trung hậu!.” Lúc
đọc đến kiểm thảo của đối phương, lại cũng thấy anh học trò kia nói mình quá
trung hậu. Mỗi người trong kiểm thảo của mình đều là người quá trung hậu. Thế
còn ai là người không trung hậu?
Người Tàu không thể nhận lỗi, nhưng
cái lỗi vẫn còn đó, đâu phải vì không nhận mà nó biến mất. Để che đậy một lỗi
của mình người Tàu không nề hà sức lực tạo nên càng nhiều lỗi khác hòng chứng
minh rằng cái đầu tiên không phải là lỗi. Cho nên có thể nói người Tàu thích
nói khoác, nói suông, nói dối, nói láo, nói những lời độc địa.
Họ liên miên khoa trương về dân Tàu,
về tộc Đại Hán, huyên thuyên về truyền thống văn hóa Tàu, nào là có thể khuếch
trương thế giới v.v… Nhưng bởi vì không thể đưa ra chứng cớ thực tế nào nên tất
cả chỉ toàn là những điều bốc phét.
Tôi chẳng cần nêu ví dụ về chuyện
nói khoác, láo toét làm gì. Nhưng về chuyện nói độc của người Tàu thì không thể
không nói được. Ngay như chuyện phòng the, người phương Tây vốn rất khác chúng
ta, họ thường trìu mến gọi nhau kiểu “Em yêu, em cưng” [Bá Dương dùng chữ
“đường mật” và “ta linh” để dịch chữ Honey, Darling của tiếng Anh: ND] thì
người Tàu gọi nhau là “kẻ đáng băm vằm làm trăm khúc” (sát thiên đao đích).
Hễ cứ có dính đến lập trường chính
trị hoặc tranh quyền đoạt lợi là những lời nói độc địa sẽ được tuôn ra vô hạn
định, khiến cho ai nấy nghe thấy cũng phải tự hỏi: “Tại sao người Tàu lại độc
ác và hạ lưu đến thế?”
Lại nói ví dụ về chuyện tuyển cử.
Nếu là người phương Tây thì tác phong như sau: “Tôi cảm thấy tôi có khả năng
giữ chức vụ đó, xin mọi người hãy bầu cho tôi!.”
Còn người Tàu sẽ xử sự như Gia Cát
Lượng lúc Lưu Bị tới cầu hiền (tam cố thảo lư). Nghĩa là nếu được mời, anh ta
sẽ năm lần bảy lượt từ chối, nào là “Không được đâu! Tôi làm gì có đủ tư cách!”
Kỳ thực, nếu anh tưởng thật mà đi mời người khác thì anh ta sẽ hận anh suốt
đời.
Chẳng khác nào nếu anh mời tôi diễn
giảng, tôi sẽ nói: “Không được đâu, tôi chẳng quen nói chuyện trước công
chúng!” Nhưng nếu anh thật sự không mời tôi nữa, sau này nếu nhỡ lại gặp nhau ở
Đài Bắc, có thể tôi sẽ phang cho anh một cục gạch vào đầu.
Một dân tộc hành xử theo kiểu này
không biết đến bao giờ mới có thể sửa đổi được lầm lỗi của mình; sẽ còn phải
dùng mười cái lỗi khác để khỏa lấp cái lỗi đầu tiên, rồi lại dùng thêm trăm cái
khác để che đậy mười cái kia thôi.
Tàu diện tích rộng thế, văn hóa lâu
đời thế, đường đường là một nước lớn. Thế mà, thay vì có một tấm lòng bao la,
người Tàu lại có một tâm địa thật hẹp hòi.
Cái tấm lòng bao la đáng lẽ chúng ta
phải có ấy chỉ đọc thấy được trong sách vở, nhìn thấy được trên màn ảnh. Có ai
bao giờ thấy một người Tàu có lòng dạ, chí khí sánh ngang được với tầm vóc nước
Tàu không? Nếu chỉ cần bị ai lườm một cái là đã có thể rút dao ra rồi, thử hỏi
nếu có người không đồng ý với mình thì sự thể sẽ ra sao?
Người Tây phương có thể đánh nhau vỡ
đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Tàu đã đánh nhau rồi thì cừu hận một
đời, thậm chí có khi báo thù đến ba đời cũng chưa hết.
Mọi người Tàu đều sợ sệt đến độ
không còn biết quyền lợi mình là gì thì làm sao còn biết đấu tranh, gìn giữ nó
được? Mỗi khi gặp một chuyện gì xảy ra y nhiên lại nói: “Bỏ qua cho rồi!”
Mấy chữ “bỏ qua cho rồi” này đã giết
hại không biết bao nhiêu người Tàu và đã biến dân Tàu thành một dân tộc hèn
mọn.
Giả sử tôi là một người nước ngoài
hoặc một bạo chúa, đối với loại dân tộc như thế, nếu tôi không ngược đãi nó thì
trời cũng không dung tôi.
Cái não trạng hãi sợ này đã nuôi
dưỡng bao nhiêu bạo chúa, làm tổ ấm cho bao nhiêu bạo quan. Vì vậy bạo chúa,
bạo quan ở Tàu không bao giờ bị tiêu diệt.
Trong truyền thống văn hóa Tàu, các
vị có thể xem ở “Tư trị thông giám” (Một pho sử của Tư Mã Quang tóm hết chuyện
hơn 2.000 năm để làm gương cho người đời sau), cái việc bo bo giữ mình đã được
xem là kim chỉ nam và nhấn mạnh năm lần bảy lượt. Bạo chúa, bạo quan cũng chỉ
cần dân chúng cứ bo bo giữ mình là được, cho nên người Tàu mới càng ngày càng
khốn đốn đến như thế.
Nơi nào người Tàu đã đặt chân đến
thì không thể có chỗ nào là không bẩn. Có hơn một tỷ người Tàu trên thế giới
này, làm sao mà không chật chội được? Ngoài ồn, chật, bẩn, loạn, lại còn thêm
cái tật “thích xem” (người khác đau khổ), hoặc “chỉ quét tuyết trước nhà mình
mà không động tý gì đến sương trên mái ngói nhà người khác.”
Họ luôn mồm “nhân nghĩa” mà tâm địa
ích kỷ, tham lam. Một đằng hô to khẩu hiệu: “Phải tử tế với người và súc vật!”
Trong khi đó ngày ngày không ngừng xâu xé lẫn nhau.
Tóm lại, người Tàu đúng là một dân
tộc vĩ đại, vĩ đại đến độ làm cho người đời nay không có cách nào hiểu nổi tại
sao họ có thể tồn tại được trên quả địa cầu này những 5.000 năm?
