
Trong một bài viết, “Cớ
sao gọi người Trung Quốc là “Tàu”!” đăng trên website báo Người Lao Động,
tác giả, học giả An Chi cho rằng (trích) “Tàu là một yếu tố Hán cổ và trong
tiếng Hán cũng như tiếng Việt còn có nghĩa là “xe”. Tàu (trong tàu bè) là một
từ Việt gốc Hán bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ 艚 mà âm
Hán Việt hiện đại là tào, có nghĩa là “thuyền”. Chữ tào 艚 này
cũng thông với chữ tào 漕, mà theo biện luận của Lưu Quân Kiệt
trong Đồng nguyên tự điển tái bổ (Ngữ văn xuất bản xã, Bắc Kinh, 1999) thì đều
còn có nghĩa là “xe”. Cái nghĩa “xe” của từ tàu vẫn hiện hành trong tiếng Việt.
Cứ so sánh tiếng Bắc, tiếng Nam thì thấy ngay. Cái mà trong Nam gọi là tàu thì
ngoài Bắc gọi là thuyền. Rồi ngoài Bắc gọi là tàu hỏa thì trong Nam gọi là xe
lửa. Thế là cái nghĩa “xe” đã thấp thoáng trong danh ngữ tàu hỏa (nếu không đi
sâu vào từ nguyên thì dễ hiểu lầm đây là cách dùng theo ẩn dụ). Rồi ngược lên
đầu thế kỷ XX, cả trong Nam ngoài Bắc đều gọi máy bay là tàu bay. Thế là cái
nghĩa “xe”, mở rộng là “phương tiện chuyên chở”, đã nằm ngay trong danh ngữ tàu
bay. Cho nên, trong thành ngữ tàu bay tàu bò thì cả hai thứ “tàu” này chẳng qua
đều cùng là “xe”. Vậy thì có lẽ ta sẽ biện luận rằng vì ngày xưa Tàu sang ta
bằng xe nên tổ tiên ta đã gọi họ là “Tàu” chăng? Nên nhớ rằng họ đã sang ta từ
xưa và sang thành nhiều đợt, lẻ tẻ có, thành đoàn có và đây là cả một câu
chuyện dài. (ngưng trích)
Ông An Chi nói Tàu có nghĩa là “Xe, thuyền” tôi cảm thấy ngờ ngợ.
Tiếng Việt vừa có Tàu vừa có cả Xe. Xe là phương tiện chuyên
chở có hay không có động cơ (xe bò, xe kéo…) chạy trên bộ. Các phương tiện
chuyên chở khác không chạy trên mặt đất thì kêu bằng Tàu: tàu bay, tàu thủy.
Riêng một phương tiện đường bộ vừa tàu lại vừa xe: người Nam
gọi là xe lửa; người Bắc gọi là tàu hỏa (có lẽ vì nó không
chạy trực tiếp trên mặt đất mà chạy trên đường ray chăng?) Theo cấu trúc từ
vựng như ta thấy, Tàu là một từ tiếng Việt có lẽ không liên quan gì đến chữ Tàu
của tiếng Hán mà ông An Chi nói. (Tiếng Hán có thể nói hỏa xa, hay hỏa…
tàu (!) chớ không nói tàu hỏa!)
Ông An Chi đã nhầm lẫn ngay cả trong tiếng Việt khi nói “Cái mà trong
Nam gọi là tàu thì ngoài Bắc gọi là thuyền (!).” Thực ra, cái mà trong nam
gọi là Tàu thì ngoài bắc cũng gọi là… Tàu! Còn cái ngoài Bắc
gọi là thuyền thì trong Nam gọi là ghe hay xuồng,
một dạng nhỏ hơn tàu. Tuy nhiên Thuyền là một từ Hán Việt,
cũng dùng chỉ một chiếc tàu trong ngữ cảnh từ Hán Việt, như chiến thuyền
là tàu chiến. giang thuyền, hải thuyền là loại tàu quân sự cỡ nhỏ chạy
trên sông hay trên biển. (Ngoài ra, phi thuyền chỉ một loại tàu
bay ngoài không gian, có lẽ để phân biệt với phi cơ là tàu
bay trong khí quyển)…. Dùng như một từ đơn, thuyền trở thành một từ
Việt và đó là một chiếc… ghe.
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo… của Nguyễn Khuyến chỉ là một chiếc
ghe, không thể là… tàu được.
Ông An Chi nói: “Vậy thì có lẽ ta sẽ biện luận rằng vì ngày xưa Tàu sang
ta bằng xe nên tổ tiên ta đã gọi họ là “Tàu” chăng?”
Không phải đâu. Trong tiếng Hán có từ Xa nghĩa là Xe. Theo lý luận
như vậy, nếu ngày xưa người Tàu qua Việt Nam bằng xe, thì phải gọi họ là người
… Xa hay người.. Xe chớ, sao gọi là người Tàu để phải
suy diễn “tàu là… xe” cho lôi thôi! Mà bằng chứng lịch sử cũng cho thấy người
Tàu, ngay cả các phái bộ sứ giả, sang ta cũng đi bộ, không thấy sử sách nào nói
họ đi xe. Mà nếu có thì chỉ một lần duy nhất và họ đi chiều ngược lại, từ Việt
Nam về Tàu. Đó là lần Tôn Sĩ Nghị chui vào một cái ống đồng bỏ lên xe chở quân
lương cho quân sĩ kéo chạy thoát sự truy đuổi của quân đội Nguyễn Huệ.
Cho đến năm 1945 khi đội quân Tàu phù của tướng Lư Hán sang giảỉ giới quân
đội Nhật cũng gồng gánh bồng bế dắt díu nhau đi bộ lang thang lướt thướt như
một đám ăn mày. Thế thì bọn Tàu di dân lếch thếch càng không thể đi bằng xe.
Một là xe không phải là phương tiện di chuyển phổ biến ở bên Tàu cho đến đầu
thế kỷ XX, làm gì có nhiều xe vào thời thượng cổ!
Thời Chiến quốc người ta quan niệm sức mạnh của quốc gia bằng số xe họ có,
một nước “vạn thặng” có vạn chiếc xe thì lớn hơn một nước “thiên thặng” chỉ có
một ngàn chiếc xe. Thực ra số xe đó là của triều đình, và là phương tiện chiến
đấu trong lực lượng quân sự đi xâm lược nước khác thôi, không phải phương tiện
giao thông trong đời sống xã hội. Vả lại, thiên thặng hay vạn thặng chỉ là
tiếng thậm xưng, nói vống lên như nói “vạn tuế” chớ không phải có một vạn chiếc
xe thực. Vì đâu có ai sống được… vạn tuổi?
Hai, vào thời thượng cổ, xe là phương tiện sang trọng và biểu hiệu quyền lực
của vua quan triều đình, ngay cả giới thượng lưu trong dân chúng cũng chưa chắc
dám sắm xe (cạnh tranh với vua cho mà mất đầu!), trong khi di dân là hạng dân
cùng khổ đi tìm đất sống, làm gì có xe mà đi “sang thành nhiều đợt, lẻ tẻ
có, thành đoàn có” như ông An Chi nói đến nỗi thành danh là người Tàu
(với nghĩa người di cư bằng xe!) Không lẽ ông An Chi nghĩ dân Tàu di cư bằng…
xe đò? Ngay cả khi triều đình của chúng cử binh đi đánh nước ta, chúng cần
“thần tốc” và giữ sức khỏe cho binh sĩ mà cũng phải đi bộ hàng tháng trời, quân
chưa tới nơi đã có lắm đứa bỏ mạng vì kiệt sức. Tàu (xe) ở đâu ra cho bọn cùng
đinh di cư để được gọi là người Tàu?
Trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, Huình Tịnh Paulus Của giải thích:
“Tàu: c.n. Thuyền lớn, thuyền đi biển, nước Trung quốc; người An
Nam thấy tàu khách qua lại nhiều, lấy đó mà gọi nước Tàu, người Tàu.
Người Tàu: người có nhiều Tàu, người Trung quốc.
Bên Tàu: bên Trung quốc.”
Giải thích của Đại Nam Quấc Âm Tự Vị có vẻ “nôm na” dân dã, nhưng có lẽ hợp
lý và khả thủ hơn. Người ta thấy tàu buôn của họ đi lại ngoài biển thì gọi họ
là Tàu, chớ không phải thấy xe hay thấy họ qua Việt Nam bằng xe mà gọi là… Tàu!
Ông An Chi lại “khẳng định rằng Tàu là âm cổ Hán Việt của từ ghi bằng
chữ 曹
mà âm Hán Việt hiện đại là tào, có nghĩa rộng là “cơ quan triều đình”, hiểu
rộng ra là “quan”. Trong thời Bắc thuộc, nói chung giới cai trị là người Trung
Hoa cho nên dân chúng đã quan niệm rằng người Trung Hoa là “tàu”, nghĩa
là “quan” (sic.)
Tôi động lòng nhớ lại, khi còn nhỏ tôi nhiều lần chứng kiến bọn quân Pháp
hành quân càn quét (thời đó chúng gọi là đi pa-trui – patrouille) đến các làng
quê, bắt bớ hay sát hại những người chúng nghi là Việt Minh và chúng hãm hiếp
phụ nữ. Chuyện này rất phổ biến ở các vùng quê xa thành phố. Dân làng chỉ còn
biết quỳ lạy van xin chúng, gọi chúng là “quan lớn,” và bất cứ “thằng Tây” nào
kể cả những tên lính “lê dương”[1] người châu Phi da đen rạch mặt, cũng tự
xưng quan lớn (qua miệng bọn thông ngôn người Việt). Thế nên tôi nghĩ, từ thời
Bắc thuộc người Việt có thể đã gọi bọn Tàu đô hộ là “quan” – nghĩa là … Tàu như
ông An Chi nói chăng?
Tuy nhiên, các nạn nhân của bọn lính Pháp trong cơn nguy nan sinh tử dù có
quỳ lạy chúng gọi chúng là “quan lớn” để xin chúng tha mạng đi nữa, trong lòng
họ vẫn căm hờn chúng; chúng đi qua rồi, người ta lại nguyền rủa chúng, hễ có cơ
hội là phục kích giết chúng, chớ có ai thực sự coi chúng là quan lớn cho đến
ngày… chúng lên tàu về nước đâu, nói chi đến hàng ngàn năm sau khi người Việt
thoát khỏi ách đô hộ của Tàu mà vẫn gọi chúng là quan!
Vả lại, tiếng Hán cũng có chữ Quan để gọi người làm quan, thì việc
gì phải gọi và suy diễn tàu là quan! Việc gì ông An Chi phải
gò ép mọi thứ cho thành Tàu như kiểu gọt chân cho vừa giầy như thế.
Bài viết của học giả An Chi bị nhiều người phản đối trên mạng. Rất tiếc hầu
như tất cả chỉ phản đối bằng cảm tính, chỉ bằng trực giác cảm thấy lý lẽ của
tác giả không đúng, nhưng chưa ai đưa ra một biện giải nào có tính học thuật
chắc chắn. Dù vậy, ta hẵn cứ gọi họ, người Trung quốc, là người Tàu
như thói quen trước giờ, hoặc theo như Quấc Âm Tự Vị nói, còn nguồn
gốc của từ đó thực sự thế nào cứ tạm để lại chờ các nhà nghiên cứu khác đưa ra
thêm những luận giải nào nữa chăng.
Người Việt không những gọi người Trung quốc là Tàu mà còn gọi họ là Ba
Tàu.
Tại sao gọi họ là Ba Tàu? Ba Tàu là gì?
Có người, có lẽ biết rõ ngày xưa di dân Tàu không thể đến Việt Nam bằng xe,
và tàu là… tàu chớ không phải là xe, cho nên đã cho rằng người Tàu di cư sang
Việt Nam bằng… tàu (tức là ghe/thuyền). Vì số tàu khá nhiều, không biết chính
xác là bao nhiêu, nên người ta nói đại là… ba tàu, cũng như nói ăn ba hột
cơm, nói ba câu chuyện…
Lại có thuyết khác nói vì thấy các tàu di dân của người Trung quốc thường đi
từng ba chiếc một, hoặc xúm chụm lại nghỉ ở đâu đó từng ba chiếc một để dễ bảo
vệ nhau nên người ta mới gọi chúng là người … ba tàu!
Những lý giải khôi hài này có lẽ giúp cho không khí tìm hiểu đỡ căng thẳng.
Mới đây trong một bài viết “Ngôn
ngữ Sài Gòn xưa: Những chữ vay mượn”, khi đề cập những từ “Ba Tàu,”
và “Các chú,” tác giả Bericht Van đã tham khảo một bài phiếm luận
(được gọi là “tạp vụ”) trên tờ Gia Định Báo, tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên của
Việt Nam ra đời tại Sài Gòn từ năm 1865, trong số ra ngày 16/2/1870, nói rằng:
(trích) “Từ Ba-Tàu có cách giải thích như sau: Ba có nghĩa là ba vùng đất
mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa làm ăn và sinh sống: vùng Cù Lao Phố (Đồng
Nai), Sài Gòn-Chợ Lớn, Hà Tiên, từ Tàu bắt nguồn từ phương tiện đi lại của
người Hoa khi sang An Nam, nhưng dần từ Ba Tàu lại mang nghĩa miệt thị, gây ảnh
hưởng xấu...” (ngưng trích)
Bài phiếm luận trên tờ Gia Định Báo này xuất hiện chỉ 50 năm sau thời điểm
xảy ra lý do đưa đến sự ra đời của từ Ba Tàu, thế mà tác giả và nhà
báo đã quên mất sự kiện đó, để nói chuyện một cách vu vơ. Nếu người Tàu vì được
cho ở tại ba vùng đất mà gọi là người Ba Tàu, thì người Việt ở trên ba miền đất
nước sao không gọi mình là người… Ba Việt?
Những lý giải tào lao trong bài viết đó được chia sẻ lại trên (ít nhất) một
website khác và trên mạng xã hội Facebook có thể khiến sự suy diễn vô căn cứ
này càng phổ biến hơn.
Thực ra, từ người Tàu vốn đã có từ lâu như đã nói trên, và cũng
được gọi phổ biến là người Hoa. Từ Ba Tàu chỉ mới xuất hiện
từ đầu thập niên 30 của thế kỷ XIX, là kết quả của một sự kỵ húy của triều đình
nhà Nguyễn dành cho bà Hồ Thị Hoa, vợ chánh của vua Minh Mạng, mẹ của vua Thiệu
Trị.
Năm 1806, vua Gia Long và vợ (Thuận Thiên Cao Hoàng hậu) kén chọn con gái
của các quan đại thần làm vợ cho thái tử Nguyễn Phúc Đảm, người về sau là Vua
Minh Mạng. Cô Hồ Thị Hoa, 16 tuổi, con gái của Phúc Quốc công Hồ Văn Bôi người
Biên Hòa được chọn. Một năm sau, 1807, Hồ Thị Hoa sinh hạ hoàng tôn Nguyễn Phúc
Miên Tông, tức về sau là vua Thiệu Trị. Nhưng chỉ 13 ngày sau khi sinh, bà Hoa
qua đời. Vua Gia Long rất thương tiếc đứa con dâu hiếu thuậu, ban lệnh kỵ húy
cho bà. Nhưng chỉ sau khi vua Minh Mạng lên ngôi (1821) mới chính thức ban
chiếu về sự kỵ húy cho người vợ vắn số. Từ đó, tất cả những từ Hoa
trong dân gian khi nói hay viết được đổi sang nhiều từ khác. Tỉnh Thanh Hoa đổi
thành tỉnh Thanh Hóa, Cầu Hoa (trên đường Đinh Tiên Hoàng, quận 1, Sài
Gòn) được đổi thành Cầu Bông. Cửa (gate) Đông Hoa của Hoàng thành Huế
đổi thành cửa Đông Ba. Và chợ Đông Hoa ngoài cửa Đông Hoa cũng đổi tên
thành chợ Đông Ba…
Sao người ta không đổi từ Hoa này thành Bông (như cầu Bông) mà đổi
thành Ba? Có lẽ vì Bông là một tiếng thuần Việt (Nôm) đi với
Cầu cũng là tiếng Việt, thành Cầu Bông, nhưng không thể ghép được với
chữ Đông là từ Hán Việt để thành cửa Đông Bông và chợ Đông
Bông nửa Tàu nửa ta rất dị hợm. Gọi Cửa Đông Hóa hay chợ Đông
Hóa (như tỉnh Thanh Hóa) có lẽ chẳng có ý nghĩa gì hay ho cả. Sự biến đổi
đầu tiên xảy ra ở kinh đô, với cửa Đông Hoa thành cửa Đông Ba
rồi từ đó từ “Ba” thay cho từ “Hoa” lan vào Quảng Nam, với
Hội An là cái “ổ Hoa kiều” lâu đời. Cho đến nay, người Quảng Nam không còn nói
“ba” thay cho “hoa”, nhưng họ vẫn còn giữ lại câu ca dao xưa:
Thủng thỉnh lượm bông ba rơi
Lượm cho có cách hơn người trèo cao.
Từ đó trên cả nước không còn nơi nào và có ai còn gọi người Hoa là người
Hoa nữa. Từ Hoa được thay bằng từ Ba, nhưng gọi người
Hoa thì ai cũng hiểu, trái lại gọi người Ba thì vừa lạ hoắc vừa
vô nghĩa, chẳng ai biết đó là gì. Họ vốn là người Tàu. Thế thì gọi luôn Ba
Tàu, mà không cần giải thích gì thêm, ai cũng biết. Chỉ có vậy thôi, chẳng
có ý gì là miệt thị cả.
Còn về từ “Các chú,” bài phiếm luận vu vơ trên tờ Gia Định Báo gần một trăm
rưỡi năm trước viết: (trích) “Kêu Các-chú là bởi người Minh-hương mà ra; mẹ
An-nam cha Khách nên nhìn người Tàu là anh em, bằng không thì cũng là người
đồng châu với cha mình, nên mới kêu là Các-chú nghĩa là anh em với cha mình.
Sau lần lần người ta bắt chước mà kêu bậy theo làm vậy...” (hết trích)
Thực ra, “Các chú” chỉ là cách nói trệch từ “Khách Trú” (Sojourners) mà từ
gốc chữ Hán của nó là 寄居者 (ký cư giả). Nói về những người Tàu di dân
sang Việt Nam qua các thời đại, trong tác phẩm lịch sử The Birth of
Vietnam, tác giả, giáo sư sử học Keith Weller Taylor cũng dịch chữ ký
cư giả trong sử liệu chữ Hán thành Sojourners – khách trú.
Có thể có người muốn hỏi khó: Trong thực tế có bao giờ người Việt gọi những
người Hoa ở Việt Nam là Khách trú không?
Cớ chớ. Bình thường mà. Cho đến trước năm 1975, nhiều người vẫn gọi người
Tàu Chợ Lớn là Khách trú đấy. Đọc sách của cụ Vương Hồng Sển thường gặp từ này.
Trong nhiều thập niên đầu của thế kỷ XX, khách trú là một thế lực lớn thao
túng xã hội Việt Nam nhiều mặt, là vấn đề quan tâm của nhiều giới người Việt.
Dở lại sách báo xuất bản thời đó thì thấy ngay. Thậm chí khi nhà báo Đào Trinh
Nhất xuất bản tác phẩm biên khảo “Thế Lực Khách Trú Và Vấn Đề Di Dân Vào
Nam Kỳ” của ông (Nhiêu Ký xuất bản, 1924), cái thế lực khách trú này tung
tiền ra cho người tới canh cửa nhà xuất bản, chờ sách được đưa ra, chúng thu
mua hết để đem đốt.
Ngay từ xưa lực lượng khách trú đã nắm giữ hầu hết các nguồn lợi thương mãi
của Việt Nam, và thao túng nền kinh tế Việt Nam nên người ta đã nói trệch hai
chữ Khách trú thành “các chú” để mỉa mai chăng?
Thiếu Khanh
[1] tiếng Pháp: Légion étrangère, tiếng Anh: French Foreign Legion.