
Lời nói đầu: Đây là một câu chuyện có thật xảy ra ở
chiến trường Tây Ninh vào tháng 6 năm 1971 khi Sư đoàn Nhảy Dù VNCH vây hãm
Công trường 9 Việt cộng ở đồn điền cao su Mimot sâu trong đất Miên và bắt sống
tù binh Lê Văn Chép, bí danh Năm Thái cấp bậc đại úy, chính trị viên tiểu đoàn
D.1 thuộc trung đoàn Q.761/ công trường 9 Việt Cộng.
Sau khi trực thăng của Trung tướng Đỗ Cao Trí (1), Tư Lệnh Quân đoàn III và
Quân khu 3 bị phát nổ trên khung trung khi vừa cất cánh tại sân bay Tây Ninh
East; Trung tướng Đỗ Cao Trí bị tử nạn. Trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lệnh
Biệt khu Thủ Đô được bổ nhiệm thay thế Tướng Đỗ Cao Trí về làm Tư lệnh Quân
đoàn III ở Biên Hòa và tiếp tục cuộc hành quân Toàn Thắng 1/71 đánh sang
Kampuchia để lùng diệt các đại đơn vị của VC. Vào Tháng 6 năm 1971, trong cuộc
hành quân Toàn Thắng 2/1971, các lực lượng VNCH tham chiến thuộc Vùng 3 Chiến
Thuật gồm Sư đoàn Dù, Biệt Động Quân, Sư đoàn 18 BB, Sư đoàn 25 BB và Lữ đoàn 3
Kỵ Binh. Liên binh của QĐVNCH đã lùa các Công trường 5, 7 , 9 và Đoàn 429 Đặc
công chạy sâu và các đồn điền cao su Mimot, Mimai, Chlong, Dambe, Kratié… Sư
đoàn Dù khi vây hãm Công trường 9 của VC ở Mimot đã bắt sống 1 tù binh thuộc
Tiểu đoàn D.1/ Trung đoàn Q 761/ Công trường 9; y khai tên là Lê Văn Chép, cấp
bậc binh 2 là tân binh mới xâm nhập vào Nam và được bổ sung cho Tiểu đoàn D 1.
Tên tù binh được trực thăng giải giao về BTL Tiền phương Sư đoàn Dù ở B 16
(tiền thân của B 16 là B 33) Lực Lượng Đặc Biệt. Biệt đội Quân Báo Sư đoàn Dù do
Đại úy Bé làm Biệt đội trưởng phụ trách thẩm vấn tên tù binh để thu thập các
tin tức cần thiết cho chiến trường đang nóng bỏng ở đất Miên.
Thiếu úy Vũ đang uống cà phê ở Quán Mường thì nhận được lệnh của Trung tá
Nguyễn Văn Tại, Trưởng Phòng 2 Hành quân/ BTL Tiền Phương QĐ III phải trở về
Phòng 2 gấp. Anh vội trả tiền và ra xe Jeep phóng về B 16 LLĐB, nơi đóng quân
của BTL Tiền phương Quân đoàn. Bước vào Phòng 2, anh giơ tay chào Trung tá Tại,
hỏi:
– Có chuyện gì gấp hả Trung tá?
– Cậu sang ngay Biệt đội Quân báo/ Sư đoàn Dù để thẩm vấn 1 tên tù binh thuộc
Công trường 9 VC do lực lượng Dù bắt được ở đồn điền cao su Mimot. Ông Tướng
đang hỏi tin rối rít cả lên. Trung tá Tại nói.
– Dạ được rồi Trung tá, tôi sẽ sang bên Dù liền. Nói xong anh quay ra leo lên
xe Jeep lái sang Biệt đội Quân báo Sư đoàn Dù.
Khi đến nơi, Vũ vào gặp Đại úy Bé, Biệt đội trưởng Quân báo Sư đoàn Dù và
trình bày việc bên Quân đoàn muốn thẩm vấn tên tù binh. Đại úy Bé nói:
– Kẹt quá toa. Ông tướng Dư Quốc Đống, Tư lệnh Sư đoàn Dù đang ngồi chờ kết
quả thẩm vấn tên tù binh; bọn moa đang hành quân quần thảo với CT 9 VC ở Mimot
nên rất cần tin tức cho chiến trường. Toa thông cảm chờ bọn moa nghe.
– Đại úy. Ông có thể cho tôi ngồi quan sát cuộc thẩm vấn được không?
– Được. Toa có thể ngồi ngoài của sổ nhìn vào để nghe buổi thẩm vấn chẳng sao.
Đại úy Bé nói.
Đại úy Biệt đội trưởng Biệt đội Quân báo sai lính mang 1 chiếc ghế sắt kê ở
cửa sổ phòng thẩm vấn cho Thiếu úy Vũ ngồi quan sát. Anh nhìn vào bên trong
phòng thẩm vấn quan sát tên tù binh; viên Trung sĩ Thẩm vấn viên đang ghi chép
gì đó trên giấy. Vũ thấy tên tù binh khoảng ngoài 30 tuổi, vóc cao ráo, có vẻ
chững chạc, ăn nói khôn ngoan và đặc biệt là y rất có tác phong của một cán bộ
chỉ huy; hơn nữa y lại đang chỉ trỏ trên tấm bản đồ mà viên Trung sĩ Thẩm vấn
viên của Nhảy Dù trải trên bàn; điều này càng cho Vũ chắc chắn tù binh Lê Văn
Chép là một sĩ quan cán bộ chứ không thể nào là một tân binh mới từ Bắc xâm
nhập vào bổ sung cho Công trường 9.
Vũ ít có liên lạc với Biệt đội Quân báo Dù nên không biết khả năng của vị
Trung sĩ Thẩm vấn viên ra sao. Anh thường làm việc với các Biệt đội Quân báo
của Sư đoàn 5BB do Đại úy Bé làm Biệt đội trưởng, hoặc với Phòng 2 Sư đoàn
25BB; những sĩ quan thẩm vấn của 2 đại đơn vị này rất xuất sắc và có nhiều kinh
nghiệm điều tra tù hàng binh. Vũ tiếp tục theo dõi cuộc điều tra; anh thấy tên
tù binh Lê Văn Chép rất khôn ngoan, lanh lợi và ánh mắt của hắn sắc như dao, cứ
đảo qua đảo lại để quan sát bên trong phòng thẩm vấn và lom lom ngó người Trung
sĩ Thẩm vấn viên. Vũ thầm nghĩ trong đầu, với kinh nghiệm của một sĩ quan thẩm
vấn tù binh như anh, anh đoán chắc tên tù binh này cũng phải là một sĩ quan cán
bộ của Q761/ Công trường 9 chứ không phải là một tân binh mới từ Miền Bắc xâm
nhập vào bổ sung cho Công trường 9 như lời hắn khai. Đến 8 giờ tối, Vũ quay trở
về Phòng 2 Quân đoàn, báo cáo sự tình cho Trung tá Tại và nhận xét của anh về
tên tù binh; anh cũng yêu cầu ông lên trình với Đại tá Ngô Văn Minh, Tham Mưu
trưởng hành quân Quân đoàn can thiệp lấy tên tù về Ban Thẩm vấn Quân đoàn để
điều tra. Sau đó Vũ lái xe Jeep trở về Ban Thẩm Vấn Quân đoàn nằm ở Bunker số 1
ngay ở tay phải của cổng vào B 16.
Khoảng 10 giờ tối, Trung tá Tại gọi điện thoại cho Ban Thẩm vấn báo cho Vũ
biết sáng ngày mai bên Phòng 2 Sư đoàn Dù sẽ giải giao tên tù binh Lê Văn Chép
cho Ban Thẩm vấn Quân đoàn do sự can thiệp của Đại tá Ngô Văn Minh, Tham Mưu
trưởng Hành quân QĐ III. Trung tá Tại đã thuyết phục bên BTL Tiền phương Sư
đoàn Dù là Thiếu úy Vũ là một sĩ quan thẩm vấn tù binh có nhiều kinh nghiệm và
rất có khả năng trong việc điều tra. Trung tá cũng cho biết ngày mai khi Vũ
thẩm vấn tên tù, Đại tá Ngô Văn Minh, Trung tá Nguyễn Văn Tại, Trung tá Be
Trưởng Phòng 2 Dù và Đại úy Bé sẽ ngồi dự thính nghe Thiếu úy Vũ thẩm vấn người
tù.
Sáng sớm ngày hôm sau, Phòng 2 Sư đoàn Dù giải giao tù binh Lê Văn Chép cho
Ban Thẩm Vấn Quân đoàn III; Vũ kêu Trung sĩ Phán ký nhận và giao cho Quân cảnh
giam trong khu nhà giam tù binh. Anh cũng phân phối binh lính thuộc quyền sắp
xếp chỗ thẩm vấn tù binh và kê 4 chiếc ghế để các vị sĩ quan đến quan sát cuộc
thẩm vấn của Vũ. Đúng 9 giờ sáng, các sĩ quan dự thính đến nơi, được mời ngồi
vào vị trí đã kê ghế dành riêng cho quý vị đó. Trước khi dẫn tên tù binh ra làm
việc, Vũ mời các sĩ quan dự thính an tọa. Anh nói:
– Thưa Đại tá, thưa nhị vị Trung tá và Đại úy Biệt đội Quân báo Sư đoàn Dù.
Qua sự quan sát và kinh nghiệm của bản thân là một sĩ quan thẩm vấn tù binh
chuyên nghiệp tôi cam đoan với quý vị tù binh Lê Văn Chép là một sĩ quan trong
quân đội cộng sản. Trong khi tôi làm việc yêu cầu các vị không đặt các câu hỏi
cắt ngang sự thẩm vấn của tôi vì có thể tôi đang giăng bẫy tên tù, quý vị hỏi
là đã tạo cơ hội cho hắn thoát cái bẫy của tôi. Ngay cả khi tôi làm như sắp áp
dụng biện pháp tra tấn hay hù dọa, xin quý vị cứ bình tâm đừng can thiệp để
đương sự không thể tránh né, cũng như có thì giờ để thoát những bẫy rập tôi bủa
vây y. Xin cảm ơn quý vị.
Vũ ra lệnh cho Trung sĩ Phán kêu Quân cảnh giải giao tù binh Lê Văn Chép lên
cho anh làm việc. Vũ chỉ chiếc ghế trước mặt bảo Chép ngồi xuống. Trên bàn làm
việc của Vũ đặt Bản sao Cung từ tù binh do Biệt đội Quân báo Dù chuyển cho anh
cùng với tên tù binh khi giải giao cho anh. Vũ bắt đầu hỏi:
– Tên anh là Lê Văn Chép quê ơ Vũ Thư, Thái Bình có đúng không?
– Dạ đúng thế ạ. Chép trả lời.
– Vậy anh đi lương hay đi giáo? Đa số dân Vũ Thư là Công giáo phải không?
– Dạ đúng thế ạ. Nhưng tôi không theo tôn gáo nào ạ.
– Thế anh nói là dân Vũ Thư, Thái Bình thì anh có biết Huyện Vũ Thư là tên sáp
nhập của 2 huyện mà thành là những huyện nào không? Vũ hỏi.
– Dạ Huyện Vũ Thư được sáp nhập bởi 2 huyện Vũ Tiên và Thư Trì ạ. Chép trả lời.
– Vậy anh ở bên Vũ Tiên hay Thư Trì?
– Dạ tôi ở bên Vũ Tiên ạ.
– Anh ở xã nào của Vũ Thư? Vũ hỏi.
– Dạ tôi ở xã Vũ Đoài ạ.
– Vũ Đoài có gần Nam Định không?
– Dạ tiếp giáp với Tỉnh Nam Định.
– Anh sinh năm, nào nhỉ?
– Dạ sinh năm 1940.
– Vậy là năm nay anh 31 tuổi?
– Da đúng thế ạ.
– Anh thi hành nghĩa vụ quân sự năm nào?
– Dạ mới năm ngoái. Năm 1970 vì nhu cầu lấy quân tôi mới bị động viên vào Nam ạ.
– Anh thuộc Đoàn Xâm Nhập số mấy, quân số bao nhiêu người và tập kết ở bãi nào?
– Dạ tôi thuộc Đoàn 2235 XN cùng với Khung Tiểu đoàn 2 Tỉnh Thái Bình. Quân số
2000 người và tập kết ở Ông Cụ ạ. (một đoàn xâm nhập quân số thường từ 1000 đến
2000 người gồm vừa án bộ, binh sĩ và dân công tải đạn hoặc lương thực vào Nam)
– Anh có được học Công ước Genève về tù binh không?
– Dạ có ạ. Chúng tôi đã được quán triệt rồi ạ.
– Vậy anh có biết lứa tuổi thi hành nghĩa vụ quân sự năm 1968 là tuổi nào
không?
– Dạ từ 18 đến hai nhăm.
– Anh nói 18 đến 25? Vậy năm 1970, anh 30 tuổi là ngoài tuổi nghĩa vụ sao anh
lại bị động viên?
Lê Văn Chép hơi sững người vì bị hỏi đột ngột mà y không đề phòng. Y liền
nói: vì tôi có mẹ già nên được hoãn lại ạ.
– Anh có cam kết với tôi là mới xâm nhập vào Nam đầu năm nay (1971) phải
không?
– Dạ. Đúng thế ạ. Chép trả lời.
– Thôi được. Anh đứng lên, cởi hết quần áo ra, chỉ mặc quần đùi thôi. Vũ ra
lệnh.
Các sĩ quan dự thính nhìn Vũ lom lom với ánh mắt ngạc nhiên không biết anh
chàng Vũ định làm gì người tù binh? Anh ta định đánh đập, tra tấn tù binh hay
sao? Vũ đưa mắt ra dấu bình tĩnh cho các sĩ quan dự thính để họ an tâm vì đây
là kế hoạch thẩm vấn của Vũ. Quan niệm của Vũ là: Khi thẩm vấn một tù binh tứ
là đang tranh thủ đánh đòn cân não với đối tượng… trước hết phải đấu trí, rồi
đấu lý, cuối cùng mới phải áp dụng biện pháp đấu lực với những đối tượng cực kỳ
ngoan cố. Hiện tại anh đang đấu trí và đấu lý với tù binh Lê Văn Chép, chưa đến
giai đoạn phải đấu lực với y.
Tù binh Lê Văn Chép đã cởi bỏ hết quần áo, trên người y chỉ còn 1 chiếc quần
đùi. Vũ tiến đến trước mặt anh ta, kêu anh ta dang hai tay ra; Vũ tiến đến nắn
bóp kỹ lưỡng từng bắp thịt, từng bàn tay, bàn chân, lưng, ngực ngưới tù rồi
nói:
– Anh có công nhận hành quân trên đường mòn Hồ Chí Minh từ Bắc vào Nam rất
gian khổ phải không? Thường một Đoàn Xâm Nhập khi đến điạ phận Quảng Bình gần
biên giới Lào phải bỏ lại hết các giấy tờ tùy thân, hình ảnh của người thân rồi
vượt núi 1001 mét cao trắc trở; trong khi mỗi đoàn viên còn phải mang vác vũ
khí, vác pháo, súng cối, đạn dược các loại cộng thêm lương thực 10 đến 15 ngày
ăn; trung bình mỗi người mang vác khoảng 80 đến 100 kí lô. Sau khi vượt núi 1
ngàn linh 1 sang đến bên Lào đi theo đường mòn Hồ Chí Minh leo đồi, vượt suối…
vất vả trăm chiều. Sau hơn 3 tháng trời gian khổ như thế vào đến bãi tập kết
B3, hoặc Ông Cụ, hoặc Hải Yến… mọi người đều mệt lả. Sau đó mới được bổ sung về
đơn vị mới. Với sự gian khổ trên đường xâm nhập như thế anh có công nhận với
tôi là các bắp thịt tay, chân ngực bụng đều cứng như sắt không? Bàn tay, bàn
chân đều chai hết không? Vũ hỏi.
– Dạ đúng ạ. Trên đường xâm nhập quả là rất vất vả, gian nan ạ. Chép trả lời.
– Anh đã xâm nhập vào chiến trường B (2) lâu lắm rồi nên các bắp thịt tay chân,
ngực đều đã nhão mềm cả rồi chứng tỏ anh đã xâm nhập vào Miền Nam lâu rồi. Anh
sinh năm 1940 thì tuổi của anh phải đi nghĩa vụ từ năm 1959, 1960 hoặc trễ lắm
là 1961 chứ không phải mới xâm nhập trong năm nay. Ở Miền Bắc không có chế độ
hoãn dịch vì cha mẹ già yếu hoặc con một; chế độ hoãn dịch chỉ có ở trong Miền
Nam chúng tôi mà thôi. Anh phải là 1 sĩ quan chỉ huy nên anh ít vận động hơn
các binh lính; do đó tay anh không còn chai cứng, bắp thịt vì ít vận động nên
trở thành mềm và da trắng trẻo hơn; hơn nữa anh còn biết Công ước Genève về tù
hàng binh, chỉ có sĩ quan mới được học tập về Công ước tù binh này. Anh cũng
biết sử dụng bản đồ một cách thành thạo vì chính tôi đã quan sát ngày hôm qua
khi được Sư đoàn Dù thẩm vấn anh đã chỉ trỏ trên bản đồ. Chỉ có sĩ quan mới
được học cách đọc và chấm tọa độ trên bản đồ. Tác phong của anh cũng là tác
phong của một sĩ quan vì khi hút thuốc, các cán binh thường cầm điếu thuốc bằng
ngón trỏ và ngón cái để giấu điếu thuốc trong lòng bàn tay tránh phát ra ánh
lửa, trong khi sĩ quan thường kẹp đếu thuốc bằng ngón trỏ và ngón giữa theo
kiểu tiểu tư sản…
Lê Văn Chép ngớ người trước sự phân tích, nhận xét của Thiếu úy Vũ, y chưa
kịp có phản ứng nào thì chợt nghe Vũ hỏi:
– Năm Thái là ai? (3)
Lê Văn Chép giật bắn người như bị điện giật, mặt y tái đi… Y nghĩ thầm nghĩ “không
hiểu sao tên sĩ quan này lại biết rõ hắn là ai mà gọi đúng tên hắn? Chắc anh ta
đã biết mình rồi nên mới gọi như thế.” Như một phản xa tự nhiên hắn lắp
bắp:
– Dạ tôi là Năm Thái ạ. Tôi tên thật là Lê Văn Chép, cấp bậc Tiểu đoàn bậc
trưởng (Đại úy), bí danh Năm Thái, Chính trị viên Tiểu đoàn D.1/ Trung đoàn E 1
(4)
– Được rồi anh Năm Thái. Bây giờ anh tạm nghỉ uống nước cho khỏe rồi chúng ta
sẽ tiếp tục câu chuyện nhé. Vũ cho Lê Văn Chép mặc quần áo và gọi Quân Cảnh
mang Lê Văn Chép vào phòng giam.
Năm Thái theo người Quân cảnh đi vào trong nhưng trong đầu y vẫn thắc mắc “không
biết sao người sĩ quan thẩm vấn này lại biết rõ tung tích của y; hơn nữa hắn
lại rất am hiểu cả đến quê quán Vũ Thư, Thái Bình của Chép. Người này quả là
bản lãnh…”
Khi Lê Văn Chép đã được Quân cảnh dẫn đi khuất, Thiếu úy Vũ quay lại các sĩ
quan dự thính. Anh nói:
– Trình Đại tá và nhị vị Trung tá. Tù binh Lê Văn Chép nhân thân bây giờ đã
bị phát giác. Y chính là Năm Thái, Đại úy Chính trị viên Tiểu đoàn D 1/ Q 761/
Công trường 9. Với cương vị là một sĩ quan, hơn nữa lại là Chính trị viên (cộng
sản luôn đề cao vai trò chính trị chỉ huy quân sự) nên các tin tức khai thác
tiếp theo sẽ vô cùng quan trọng cho chiến trường. Tôi sẽ thẩm vấn đương sự và
viết trong bản cung từ để gửi đến quý vị. Quý vị có thể tiếp tục ngồi quan sát
hoặc có thể về, tôi sẽ ưu tiên điều tra những tin tức cần thiết cho chiến
trường trước vì mặt trận vẫn còn đang nóng bỏng, cần những tin chiến thuật cho
các đơn vị ta đang tham chiến.
– Em giỏi lắm và có nhiều kinh nghiệm điều tra, rất bình tĩnh và nắm vững tình
hình từ ở ngoài Miền Bắc đến hành trình xâm nhập v.v… em đều nắm rõ như lòng
bàn tay khiến tên tù binh không thể nào ngờ. Mà sao em biết nó là Năm Thái mà
gọi đích danh nó vậy? Đại tá Ngô Văn Minh hỏi.
– Cám ơn Đại tá. Đó là chuyên môn của Trung Tâm Thẩm Vấn Quân đoàn mà thôi Đại
tá. Sở dĩ tôi gọi tên Năm Thái chỉ là thăm dò phản ứng của y, vì bất cứ người
cán binh nào trong đơn vị cũng phải biết Chính trị viên của đơn vị, tôi hỏi để
thăm dò nhưng không dè lại chính là y; khiến y giật mình ngỡ tôi đã biết y nên
phải thú nhận.
Sau đó Đại tá Ngô Văn Minh, Tham Mưu trưởng Hành quân Quân đoàn, Trung tá
Nguyễn Văn Tại, Phòng 2 Quân đoàn và Trung tá Be, Trưởng Phòng 2 Sư đoàn Dù rời
khỏi Ban Thẩm vấn; chỉ còn Đại úy Bé Biệt đội trưởng Biệt đội Quân báo Sư đoàn
Dù xin được ở lại để theo dõi cuộc thẩm vấn của Vũ. Đại úy Bé đến bắt tay Vũ và
nói:
– Cảm ơn toa. Toa thật là một sĩ quan thẩm vấn quá giỏi mà từ trước đến nay
moa mới gặp; từ nay nếu có tù binh, moa sẽ ưu tiên để toa thẩm vấn, moa chỉ
nhận bản cung từ toa giao là đủ để trình lên thượng cấp rồi.
– Không có gì đâu Đại úy. Đó là chức trách của tôi, vì đã thẩm vấn quá nhiều tù
binh, hồi chánh viên cộng thêm trí nhớ tốt nên trước khi thẩm vấn đã nghiên cứu
trận liệt về đơn vị, quê quán người tù để nắm vững về cá nhân của chúng; khi đó
mình sẽ chủ động quần thảo chúng, tạo cho họ có cảm giác mình đã biết rõ về họ.
Chính vì thế tạo cho đương sự trở nên hoang mang không biết mình hiểu rõ họ đến
đâu và sẽ có nhiều sơ hở để ta khai thác.
Trung sĩ Ông Tấn Phán bưng đến 2 ly cà phê cho Đại úy Bé và Thiếu úy Vũ:
– Mời Đại úy và Thiếu úy uống cà phê.
– Cám ơn em. Mời Đại úy. Cậu kêu Quân cảnh mang tù binh Lê Văn Chép lên để tiếp
tục thẩm vấn nhé. Vũ nói.
– Dạ. Thiếu úy. Trung sĩ Phán vừa nói vừa đi vào khu giam tù binh có Quân cảnh
canh gác bên ngoài.
Người Quân cảnh dắt tù binh Lê Văn Chép bí danh Năm Thái lên phòng thẩm vấn
của Thiếu úy Vũ; dáng vẻ của Chép đã không còn vênh váo như trước, thay vào đó
là một nét mặt của một kẻ đã chấp nhận thua cuộc. Đợi cho Chép ngồi yên vị trên
ghế, Vũ bắt đầu nói về chủ thuyết cộng sản qua Chủ nghĩa duy vật lịch sử là hệ
thống quan điểm duy vật biện chứng về xã hội của triết học Marx-Lênin, là kết
quả của sự vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép
biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu đời sống xã hội và lịch sử nhân loại.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử là một trong ba bộ phận hợp thành triết học Marxist.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử lý giải sự tiến hóa của xã hội loài người bằng sự
phát triển của trình độ sản xuất. Trình độ sản xuất thay đổi khiến quan hệ sản
xuất cũng thay đổi dẫn đến những mối quan hệ xã hội thích ứng với những quan hệ
sản xuất đó cùng với những tư tưởng nảy sinh ra từ những quan hệ xã hội đó cũng
thay đổi kéo theo sự thay đổi hệ thống pháp lý và chính trị. Chủ nghĩa duy vật
lịch sử của Marx trở thành phương pháp luận của nhiều nhà nghiên cứu trong các
bộ môn như sử học, xã hội học v.v… Từ căn bản ấy dẫn đến thực tế chế độ cộng
sản Hà Nội mà cộng sản Hà Nội luôn tuyên truyền và bắt mọi tầng lớp dân chúng
học tập theo Tư Tưởng Hồ Chủ Tịch… thực chất là cóp nhặt từ những sách của
Lenine, Stalin, Khruschev, Mao Trạch Đông… mà chế ra sách Tư tưởng của Hồ. Tất
cả những điều viết trong cuốn sách đều cóp nhặt của những lãnh tụ cộng sản Nga
Hoa và được đảng cộng sản Việt Nam (ngụy danh dưới tên gọi Đảng Lao Động Việt
Nam) và được guồng máy tuyên truyền của đảng nhồi sọ mọi tầng lớp quần chúng
trong và ngoài đảng để tạo ra những huyền thoại chung quanh con người Hồ Chí
Minh. Thực tế nền kinh tế dưới chế độ cộng sản đã bị phá sản nên đã đẩy người
dân xuống đáy vực thẳm của sự đói rách, khốn khổ tột cùng.
Tù binh Lê Văn Chép ngồi nghe mà thầm thán phục viên sĩ quan ngụy có những
lý luận sâu sắc, chứng tỏ anh ta có đào sâu suy nghĩ và nghiên cứu kỹ về chủ
thuyết cộng sản. Chép nói:
– Vâng thưa anh. Những điều anh nói về triết học Marxist Leninist chứng tỏ
anh có nghiên cứu kỹ về chủ thuyết này. Chúng tôi từ những ngày còn trẻ đã được
học tập nên chúng tôi cho rằng vì đất nước chưa hòa bình, thống nhất nên vẫn
còn nhiều khó khăn gian khổ và phải thắt lưng buộc bụng để chi viện cho Miền
Nam.
– Anh nói thế là sai rồi. Cái căn bản lý luận Mác xít đã sai, dẫn đến việc điều
hành sai, nền kinh tế của xã hội chủ nghĩa sai vì là nền kinh tế tập trung với
mỹ từ nhân dân làm chủ và nhà nước quản lý dưới sự lãnh đạo của đảng. Anh cứ
nhìn nền kinh tế tập trung xã hội chủ nghĩa ở các nước cộng sản trên thế giới
từ cái nôi cộng sản là Liên xô, Trung cộng, Ba Lan, Tiệp Khắc, Nam Tư, Rumani,
Hung Ga ri v.v… Nước nào cũng nghèo đói, cũng chậm tiến, lạc hậu. Sau mấy chục
năm tiến lên xã hội chủ nghĩa mà dân các nước ấy vẫn sống trong sợ hãi và đói
nghèo; cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc… Nhưng tôi đó là lý tưởng của anh, con
đường các anh chọn, tôi không muốn đề cập đến. Bây giồ nói chuyện của chúng ta.
Anh đã là tù binh chiến tranh của chúng tôi, bị bắt ở chiến trường; anh cũng đã
được học về công ước Genève về tù binh tất nhiên anh phải hiểu nghĩa vụ của một
người tù binh cấp sĩ quan là phải thành thật khai báo để chúng tôi thiết lập hồ
sơ cho anh. Bây giờ ta tiếp tục nhé.
– Tên thật của anh là?
– Dạ. Lê Văn Chép
– Năm sinh? Ở đâu?
– 1940; ở Vũ Thư, Thái Bình
– Gia cảnh của anh ra sao? Thuộc thành phần nào?
– Dạ. Tôi có 1 vợ, 2 con và thuộc thành phần bần nông.
– Anh thi hành nghĩa vụ quân sự năm nào?
– Dạ năm 1960 và học ở Trường Lục quân Sơn Tây.
– Năm nào anh tốt nghiệp? Sau đó được bổ sung đi đâu?
– Dạ cuối năm 1961; sau đó được bổ sung về Tiểu đoàn địa phương Tỉnh Thái Bình.
– Khi nào anh mới xâm nhập vào Miền Nam?
– Giữa năm 1963, toàn Tiểu đoàn địa phương Tỉnh Thái Bình được lệnh đi B với
khung Tiểu đoàn cộng thêm một số tân binh mới được bổ sung. Thời gian này tôi
mang cấp Trung úy và giữ chức Phó Chính trị viên Đại đội. Tiểu đoàn mang tên
Đoàn 2263 Xâm Nhập xuất phát từ Thái Bình được xe chở đến Quảng Bình; sau đó
vượt núi 1001 để sang Lào, theo đường mòn Hồ Chí Minh để vào tập kết ở B 3.
Đoàn 2263 Xâm Nhập được tách làm 2 bộ phận; một nửa Tiễn đoàn kết hợp với các
lực lượng địa phương cấp Huyện để thành lập Tiểu đoàn 1 Đồng khởi hoạt động ở
Chiến khu D; nửa còn lại của Tiểu đoàn kết hợp với các đơn vị cấp Huyện thuộc
Phước Thành để thành lập Tiểu đoàn 2 Đồng Khởi hoạt động độc lập ở Phước Thành.
Tôi được biên chế về Tiểu đoàn 1 Đồng khởi hoạt động ở chiến trường Tây Ninh.
Khi ấy Trung đoàn Q761 đã được thành lập vào Tháng 1/1961 và tham dự trận đánh
Bình Giả tiêu hao gần hết quân số nên Tiểu đoàn D 1 Đồng Khởi và D 2 Đồng Khởi
được bổ sung về cho Trung đoàn Q761 trở thành D 1 và D 2 của Trung đoàn E 2
(Q761). Tháng 9 năm 1965, Sư đoàn Công trường 9 được thành lập, Q 761, Q762 và
Q 763 trực thuộc Sư đoàn này.
– Sư đoàn 9 có tham dự Trận Tổng Công kích và Tổng Khởi nghĩa Mậu Thân 1968
không? Vũ hỏi.
– Cuối năm 1967, Công trường 9 được lệnh chuẩn bị Tổng công kích Mậu Thân bằng
cách xâm nhập tiến sát vào vùng ngoại ô thuộc tỉnh Gia Định của Sài gòn ém quân
chuẩn bị xâm nhập sâu vào nội đô nhân dịp Tết Mậu Thân. Sau trận này, Cộng
trường 9 thiệt hại rất nặng gần như tiêu hao hơn 2/3 quân số. Q 761 chỉ còn
dưới 500 quân, Q 762 còn được 500 quân và Q763 hao hụt gần hết quân phải rút
trở ra và dạt sang Kampuchia.
Vũ trải tấm bản đồ hành quân vùng Mimot và hỏi Lê Văn Chép:
– Nào bây giờ anh có thể nói về bố quân của Trung đoàn E.1 (tức Q 761) ở đồn
điền cao su Mimot. Các anh làm nhiệm vụ gì ở đây?
– Dạ thưa anh. Toàn Sư 9 (công trường 9) có nhiệm vụ bảo vệ R (Trung Ương Cục)
khi R rút chạy khỏi cuộc hành quân của VNCH năm 1970 vào vùng Móc câu (biên
giới Việt Miên thuộc ranh của Tỉnh Bình Long – Tây Ninh và Kampuchia). Chúng
tôi đóng chốt ở đồn điền cao su Mimot để chặn đường tiến quân của các anh không
cho tiến sâu vào mặt Tây Bắc vì Trung Ương Cục R và Bộ chỉ huy Miền đang đóng ở
tỉnh Kratié (tiếng Miên là Khêt Kracheh).
– Còn E 2 và E 3 cùng Chỉ huy sở F 9 trú đóng ở đâu?
– Chỉ huy sở F 9 đóng sát Bộ Chỉ huy Miền thuộc địa phận tỉnh Cần Ché (Việt
cộng gọi Tỉnh Kracheh là Cần Ché). Còn E 2 bố quân ở phía Tây của Lộ 702 và E 3
đóng quân ở dọc ranh giới 2 Tỉnh Cần Ché và Kampong Cham để chặn lực lượng VNCH
tiến lên hướng Bắc.
Sau 6 giờ đồng hồ thẩm vấn tù binh Lê Văn Chép, bí danh Năm Thái, Đại úy
Chính trị viên Tiểu đoàn D 1/ Trung đoàn Q 761 (E 1)/ Công trường 9; Vũ miệng
hỏi, tay viết những lời khai của y, mắt quan sát từng hành động của Chép từ ánh
mắt đến các diễn biến trên mặt, cử chỉ v.v… để phát hiện y có toan tính hoặc
khai man điều gì; trong khi đầu óc vẫn phải đối chiếu với trận liệt của ta ghi
nhận về đơn vị Cộng trường 9 VC. Chép đã khai báo rất phù hợp với ghi nhận của
ta về tổ chức, nhân sự và danh tính từ Tư lệnh Sư đoàn 9 (Tạ Minh Khâm bí danh
Sáu Khâm) trở xuống đến các Trung đoàn trưởng, Tiểu đoàn trưởng v.v… một cách
chính xác. Có đôi lúc tù binh Chép định quanh co liền bị Vũ phát giác và chặn
lại khiến y phải khai hết mọi chuyện không dám tránh né quanh co nữa. Trong đầu
óc của Lê Văn Chép nghĩ là Vũ đã biết rõ đơn vị của Chép trong lòng bàn tay nên
khi hắn định giở trò khai láo, liền bị Vũ phát giác; từ đó y đã không còn cách
né tránh nên đã phải khai hết toàn bộ sự thật.
Vũ đúc kết thành một bản cung từ sơ khởi dầy 60 trang giấy khổ 8.50 x 17 chú
trọng vào những chi tiết có lợi cho cuộc hành quân đang tiếp diễn ở vùng Mimot,
Kampong Cham và Kracheh để các cấp chỉ huy của QĐVNCH đang điều động cuộc hành
quân có những kế sách hữu hiệu. Sau khi hoàn tất, Vũ đã photocopy cho Đại úy
Bé, Biệt đội trưởng Biệt đội Quân Báo Sư đoàn Dù 1 bản, 1 bản đem lên văn phòng
Đại tá Ngô Văn Minh, Tham mưu trưởng BTL Tiền phương Quân đoàn III, 1 bản cho
Trung tá Nguyễn Văn Tại, Phòng 2/QĐ III Hành quân và một bản kèm theo Phiếu
Giải Giao Tù binh để chuyển về Trung tâm Thẩm vấn Quân đoàn III ở Biên Hòa để
tiếp tục khai thác các tin tức chiến thuật và chiến lược khác.
Vũ lái xe ra chợ Thái Hiệp Thạnh Tây Ninh kiếm 1 nhà hàng để dăn bụng, sau
đó ghé cà phê Thằng Cuội của Đặng Hoàng Long để nhâm nhi ly cà phê tự thưởng
cho mình sau 1 ngày làm việc vừa mệt mỏi tinh thần, vừa uể oải thân xác vì ngồi
suốt ngày để thẩm vấn tù binh.
Qua lời khai của tù binh Lê Văn Chép, bí danh Năm Thái, Đại úy Chính trị
viên của Tiểu đoàn D 1/ Trung đoàn Q 761/ Cộng trường 9; Quân đội VNCH đã tiếp
tục tấn công lên Tỉnh Kracheh lên Dambe, Chlong (Việt cộng là Chơ lông) lùa
Trung ương cục R và Bộ Chỉ huy Miền chạy càng sâu trong đất Miên…
Vũ Uyên Giang
Georgia tháng 10 năm 2019
Ghi chú:
(1) Hành Quân Toàn Thắng 1/71 là cuộc hành quân tiếp nối của Toàn Thắng
Tháng 3 năm 1970, QLVNCH tấn công vào các cứ điểm ẩn nấp của VC trên đất
Kampuchia mà chúng thường gọi là An Toàn Khu do sự dung dưỡng của chính quyền
trung lập Shihanook thân cộng. Sau khi Shihanook bị Tướng Lon Non lật đổ năm
1970 và trở thành Tổng thống của Kampuchia.
(Trích Wipimedia Đỗ Cao Trí (1929-1971): Tướng Đỗ Cao Trí sinh ngày 20 tháng 11
năm 1929 trong một gia đình điền chủ lớn tại làng Bình Trước, Biên Hòa, miền
Đông Nam phần Việt Nam. Do gia đình có điều kiện khá giả nên thời niên thiếu
ông được học ở các trường danh tiếng dạy theo chương trình Pháp: trường Tiểu
học Nguyễn Du, Biên Hòa, trường Trung học Lycée Petrus Ký, Sài Gòn. Năm 1947, ông
tốt nghiệp Trung học Phổ thông với văn bằng Tú tài phần I.
Đầu tháng 8 năm 1947, sau khi rời ghế học đường, ông tình nguyện nhập ngũ vào
Quân đội Liên hiệp Pháp, được cho theo học khóa Đỗ Hữu Vị tại trường Sĩ quan
Nước Ngọt ở Cap Saint Jacques (Vũng Tàu), khai giảng tháng 8 năm 1947. Tháng 6
năm 1948, mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường, ông được chọn đi
du học khóa Bộ binh tại trường Thực tập Bộ binh Auvours, Pháp. Tháng 10 về
nước, ông gia nhập Binh chủng Nhảy dù và đi du học tiếp khóa căn bản Nhảy dù
tại Trung tâm Huấn luyện Nhảy dù Pau ở Pháp. Tháng 2 năm 1949 mãn khóa về nước,
ông phục vụ trong Đơn vị Nhảy dù của Quân đội Liên hiệp Pháp.
Ngày 22 tháng 1 năm 1955, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm. Cuối tháng
10,chuyển biên chế sang Quân đội Việt Nam Cộng hòa (cải danh từ Quân đội Quốc
gia). Ngày 10 tháng 2 năm 1956, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Tháng 9
cùng năm, nhận lệnh bàn giao Liên đoàn Dù lại cho Trung tá Nguyễn Chánh Thi
(nguyên Phó Tư lệnh Liên đoàn). Ngay sau đó, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh
Đệ Tam Quân khu (gồm 4 tỉnh: Kontum, Pleiku, Phú Yên và Bình Định). Đầu năm
1958, ông bàn giao chức vụ Tư lệnh Đệ Tam Quân khu lại cho Đại tá Bùi Hữu Nhơn
(nguyên Phó Tư lệnh Quân khu). Sau đó ông được cử đi du học tại Hoa Kỳ qua các
khóa:
– Khóa Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại Học viện Chỉ huy và Tham mưu Fort
Leavenworth ở Tiểu bang Kansas.
– Khóa Dân sự vụ tại Học viện Fort Gordon ở Tiểu bang Georgia.
– Khóa Điều không tại Học viện Không quân Fort Kisler ở Tiểu bang Mississippi.
Tháng 4 năm 1959 mãn khóa về nước, ông được cử giữ chức vụ Tham mưu trưởng Quân
đoàn I. Sau đó giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân đoàn I do Trung tướng Trần Văn Đôn
làm Tư lệnh.
Đầu tháng 8 năm 1961, chuyển về Duyên hải Nam Trung phân ông được cử giữ chức
vụ Chỉ huy trưởng trường Hạ sĩ quan Quân đội Việt Nam Cộng hòa (Đồng Đế, Nha
Trang) thay thế Trung tá Đặng Văn Sơn được cử đi làm Chỉ huy trưởng Trung tâm
Huấn luyện Biệt động quân Dục Mỹ. Cuối tháng 1 năm 1962, ông tổ chức lễ mãn
khóa cho khóa 2 Nhân vị Sĩ quan Đặc biệt Hiện dịch dưới sự Chủ toạ của Tổng
thống Ngô Đình Diệm. Trung tuần tháng 12 cuối năm, bàn giao chức vụ Chỉ huy
trưởng trường Hạ sĩ quan lại cho Đại tá Nguyễn Văn Kiểm. Ngay sau đó, ông được
bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh thay thế Đại tá Nguyễn Văn Thiệu
được cử làm Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh.
Ngày 7 tháng 7 năm 1963, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm. Đến ngày 21
tháng 8 cùng năm, ông được cử kiêm Tư lệnh Quân đoàn I thay thế Thiếu tướng Lê
Văn Nghiêm xin từ nhiệm vì lý do sức khoẻ. Ông là một trong các tướng Tư lệnh
Quân đoàn ủng hộ cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm nổ ra vào ngày 1 tháng
11 năm 1963. Ngày 2 tháng 11, ông được đặc cách thăng cấp Trung tướng tại
nhiệm. Cuối tháng 11, bàn giao chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh lại cho Trung
tá Nguyễn Văn Hiếu (nguyên Tham mưu trưởng Sư đoàn), chỉ còn giữ chức vụ Tư
lệnh Quân đoàn I. Ngày 12 tháng 12, ông chuyển về Cao nguyên Trung phần làm Tư
lệnh Quân đoàn II và vùng 2 Chiến thuật thay thế Trung tướng Nguyễn Khánh. Ngược
lại tướng Khánh chuyển ra miền Trung thay ông làm Tư lệnh Quân đoàn I. Trung
tuần tháng 3 năm 1964, chủ tọa buổi lễ mãn khóa 12 Đệ nhị Song ngư Sĩ quan Hải
quân ngành chỉ huy (khai giảng ngày 13/8/1962) tại Trung tâm Huấn luyện Hải
quan Nha Trang cùng tra kiếm danh dự và gắn cấp hiệu Hải quân Thiếu úy cho Thủ
khoa Trần Trọng Ngà.
Ngày 14 tháng 9 năm 1964, ông bị Trung tướng Nguyễn Khánh Chủ tịch Hội đồng
Quân đội Cách mạng kiêm Thủ tướng Chính phủ giải nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân
đoàn II vì có liên can đến cuộc Biểu dương Lực lượng vào ngày 13/9/1964 do
Trung tướng Dương Văn Đức Tư lệnh Quân đoàn IV cầm đầu. Thiếu tướng Nguyễn Hữu
Có được cử thay thế vào chức Tư lệnh Quân đoàn II. Cùng lúc, người anh là Nha
sĩ Đỗ Cao Minh và em rể là Thiếu tướng Dương Ngọc Lắm cũng bị bắt vì cùng tham
gia vào cuộc Biểu dương Lực lượng. Qua thượng tuần tháng 8 năm năm 1965, ông bị
buộc phải Giải ngũ (Do Quyết định của Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia). Ngày 15 tháng
5 năm 1967, ông được cử đại diện Việt Nam Cộng hòa đi làm Đại sứ tại Đại Hàn
Dân quốc.
Trong kế hoạch loại trừ thế lực của các tướng lĩnh ủng hộ Phó Tổng thống Nguyễn
Cao Kỳ. Cuối tháng 7 năm 1967 Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã triệu hồi về nước
và ông trở lại Quân đội, phục hồi nguyên cấp và bổ nhiệm ông thay thế Trung
tướng Lê Nguyên Khang (nguyên Tư lệnh Sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến kiêm nhiệm Tư
lệnh Quân đoàn III) giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn III kiêm Tư lệnh Biệt khu Thủ
đô.
Ngày 23 tháng 2 năm 1971, ông bị tử nạn phi cơ trực thăng tại Trảng Lớn, Bắc
Tây Ninh, trong khi đang bay thị sát chiến trường trong cuộc hành quân Toàn
thắng 1/71. Chiếc trực thăng UH.1 phát nổ và bốc cháy sau khi cất cánh từ Trung
tâm Hành quan của Quân đoàn III tại Tây Ninh được 10 phút. Ông tử nạn tai chỗ,
hưởng dương 42 tuổi. Tử nạn cùng với ông còn có phóng viên chiến trường người
Pháp Francois Sully, viết cho báo New York Time khi đang thị sát chiến trường
Campuchia.
Về sau có tin đồn cho rằng tướng Trí bị mưu sát do sự tranh giành quyền lực từ
các tướng lĩnh trong quân đội Sài Gòn, bởi chiếc trực thăng phát nổ quá đột
ngột không rõ nguyên nhân. Anh ruột của Ðỗ Cao Trí là nha sĩ Ðỗ Cao Minh, cho
biết rằng Ðại tá Chiêm, Phụ trách ban an ninh phủ Tổng Thống kể như sau: “Sáng
hôm đó ký giả tuần báo Newsweek, ông Francois Sully, gặp Tổng thống Thiệu đúng
8 giờ, sau đó gặp Trung tướng Ðỗ Cao Trí lúc 9 giờ để cùng đi thị sát mặt trận
Campuchia. Theo thông lệ, Sully phải để hành lý xách tay lại văn phòng bí thư
hay tùy viên, lúc về thì lại cầm theo. Không hiểu giữa thời gian đó, có ai gài
bom nổ chậm trong cặp không?”
Ngay sau khi tai nạn xảy ra, Tổng thống Thiệu cùng phu nhân đến dự lễ tẩm liệm.
Trong buổi lễ, Tổng thống thay mặt Chính phủ và Quân đội truy thăng cho ông cấp
bậc Đại tướng.
Ngày 26 tháng 2, lễ an táng được cử hành trọng thể với lễ nghi quân đội. Tổng
thống Thiệu đến dự lễ an táng cùng truy tặng đệ nhất đẳng Bảo quốc Huân chương
và Quân công bội tinh kèm Anh dũng bội tinh với nhành dương liễu. Linh cữu được
đặt trên một chiếc Thiết vận xa M.113 đưa đến nơi an nghỉ tại Nghĩa trang Quân
đội Quốc gia Biên Hòa. Ông là vị tướng đầu tiên cùng an nghỉ với hàng chục ngàn
tử sĩ chung một nghĩa trang theo nguyện vọng lúc sinh tiền. Trên mộ ông có khắc
2 câu thơ: Sống giữa ba quân, Thác giữa ba quân. Khóa 24 sĩ quan Võ bị Quốc gia
Đà Lạt (khai giảng 7/12/1967, mãn khóa 17/12/1971) được mang tên Khóa Đỗ Cao
Trí để tưởng niệm. (Hết trích)
Các sĩ quan cùng tử nạn trên trực thăng Tướng Đỗ Cao Trí gồm có:
– Trung tướng Đỗ Cao Trí (được vinh thăng Đại tướng)
– Thiếu tá Trần Minh Châu, Truyền tin Quân đoàn (được vinh thăng Trung tá)
– Thiếu tá Đặng Quốc Sĩ, Trung Tâm Hành Quân Quân đoàn (được vinh thăng Trung
tá)
– Đại úy Nguyễn Anh Tuấn, sĩ quan Tùy viên của Tướng Trí (được vinh thăng Thiếu
tá)
– Đại úy Thành, Hoa tiêu trực thăng
– Đại úy Phan Tất Đắc, Hoa tiêu trực thăng
– Ký giả Francois Sully, ký giả Hoa Kỳ gốc Pháp, một ký giả thân cộng của báo
New York Time đã bị chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm
trục xuất ra khỏi Miền Nam.
– còn 2 Trung sĩ người Việt và 2 Trung sĩ xạ thủ Mỹ. Tất cả các vị này đều được
truy thăng lên một cấp và được tổ chức lễ nghi an táng theo quy chế của Quân
đội.
Năm 1983, hài cốt của ông được thân nhân bốc đem hỏa thiêu, di cốt được đưa vào
thờ trong một ngôi chùa tại quê nhà, Biên Hòa.
(2) VC gọi Miền Bắc là chiến trường A, Miền Nam là chiến trường B
(3) Năm Thái theo sự theo dõi của Quân báo VNCH là Chính trị viên của Tiểu đoàn
D.1/ Q 761/ CT 9
(4) Công trường 9 (tức Sư đoàn 9VC) được chính thức thành lập vào tháng 9 năm
1965 tại Chiến Khu D. Tư lệnh đầu tiên là Đại tá Hoàng Cầm (Ghi chú ** của tác
giả) (tên thật là Đỗ Văn Cầm, sinh năm 1920 tại Hà Tây bí danh Năm Thạch), Lê
Văn Tưởng làm Chính ủy. Tư lệnh CT 9 vào năm 1968, 1969 là Tạ Minh Khâm (bí
danh Sáu Khâm); sau đó là Nguyễn Thới Bưng (bí danh Út Thới)… Công trường 9 còn
có tên gọi là Sư đoàn Đồng Dù. Sư đoàn gồm có 3 Trung đoàn: Q 761 (hay E 1), Q
762 (hay E 2) và Q 763 (hay E 3).
a. Trung đoàn Q 761 (E 1) được thành lập vào tháng 7 năm 1961. Đây là Trung
đoàn chủ lực đầu tiên được thành lập, thành phần binh sĩ và sĩ quan chỉ huy đều
từ Miền Bắc xâm nhập vào Nam. Q 761 có 3 Tiểu đoàn: D 1, D 2 và D 3. Trung đoàn
đã tham dự trận đánh Bình Giả nên còn có tên là Đoàn Bình Giả.
b. Trung đoàn Q 762 (E 2) được thành lập vào tháng 7 năm 1962, gồm có 3 Tiểu
đoàn D 4, D 5 và D 6; vì đã tham dự trận Đồng Xoài nên còn mang danh hiệu là
Đoàn Đồng Xoài.
c. Trung đoàn Q 763 tiền thân là Trung đoàn E 2 độc lập của Quân khu 9, khi
thành lập Sư đoàn năm 1965 đã được sáp nhập vào Công trường 9 và được đổi tên
là E 3 hay Q 763) gồm 3 Tiểu đoàn D 7, D 8, D 9. Trung đoàn Q 763 còn có tên là
Đoàn Lộc Ninh. Đến năm 1969 Trung đoàn này bi trả về Quân khu 9 và mang lại tên
E 2 trực thuộc Sư đoàn 4 (F 4); để trám vào chỗ trống Trung đoàn Hoa Lư E 95
được sáp nhập vào Công trường 9 hoạt động ở Miền Đông.
Ghi chú (**) của tác giả: Tư lệnh đầu tiên của Sư đoàn 9 VC
khi thành lập vào tháng 9 năm 1965 tại Chiến khu D là Đại tá Hoàng Cầm, tên
thật là Đỗ Văn Cầm, bí danh Năm Thạch từ Miền Bắc vào Nam. Sau Hoàng Cầm được
thăng cấp Thiếu tướng, được chuyển về làm Tư lệnh phó Đoàn 301 (tương đương cấp
Quân đoàn của VNCH. Đoàn 301 gốm có 3 Sư đoàn Công trường 5 (1/), CT 7 (2/) và
CT 9 (mật danh là Sư đoàn Đồng Dù). Năm 1972, Hoàng Cầm được thăng cấp Trung
tướng chỉ huy tấn công vào Quận Lộc Ninh; sau đó là vây hãm An Lộc. Cộng sản
miền Bắc có 3 người cùng mang tên là Hoàng Cầm, 1 là tướng Hoàng Cầm, 2 là Hạ
sĩ Hoàng Cầm là anh nuôi đã chế ra Lò Hoàng Cầm để phân tán khói khi nấu nướng
và người thứ 3 là Nhà thơ Hoàng Cầm (tên thật là Bùi Tằng Việt ở 43 Lý Quốc Sư
Hà Nội; đã qua đời). Cấp bậc của tướng Hoàng Cầm sau ngày 30 tháng 4/1975 là
Thượng tướng.
1/ Công trường 5 CSVN được thành lập ngày 23 tháng 11 năm 1965 (nhân kỷ niệm
Ngày Nam Kỳ Khởi Nghĩa năm 1940) gồm có 2 Trung đoàn Q 764 (còn gọi là E 4) và
Q 765 hay E 5 (tiền thân là Trung đoàn E 55). Sư 5 VC là một Sư đoàn thiếu nên
được giao nhiệm vụ là Sư đoàn trừ bị của Bộ chỉ huy Miền, hoạt động chủ yếu ở
chiến trường Bà Riạ, Long Khánh và Biên Hòa. Tư lệnh đầu tiên của Công trường 5
là Nguyễn Hòa, Chính ủy là Lê Xuân Lưu. Từ 1965 đến 1968 trang bị của Công
trường 5 rất thô sơ chủ yếu chỉ có CKC, rất ít AK 47 và một số súng chiến lợi
phẩm thu được. Khi tham dự trận Tổng Công kích Mậu Thân 1968, Công trường 5
được bổ sung thêm Trung đoàn E 88 (thuộc Sư đoàn 308 Miền Bắc) thành một Sư
đoàn hoàn chỉnh.
2/ Công trường 7 CSVN: Sư đoàn 7 thành lập trên cơ sở 2 Trung đoàn 141 và 165
của Sư đoàn 312 cũ ở miền Bắc. Các Trung đoàn được chính Sư đoàn 312 huấn
luyện, rồi đi B (vào chiến trường miền nam) và tổng hợp lại thành 1 Sư đoàn
hoàn chỉnh. Sau đó đội hình có thêm nhiều Trung đoàn khác hành quân vào nam,
phối thuộc cho Sư đoàn như Trung đoàn 16 (Trung đoàn 101 Sư đoàn 325), Trung
đoàn 14 (Trung đoàn 18 Sư đoàn 325), Trung đoàn 209 (Sư đoàn 312), Trung đoàn 95C
(thuộc Sư đoàn 9)… Sư đoàn có mật danh “Công trường 7” và là phiên bản chiến
đấu ở xa của F312, nhiều chỉ huy cũng từng là chiến binh F312. Do thời chống
Pháp, Sư đoàn 312 có mật danh “Bến Tre” nên Sư đoàn 7 còn được gọi là “Sư đoàn
Bến Tre”.