
Cuối cùng tôi cũng bỏ cha tôi mà đi. Anh hai, chị ba, anh tư đã được cha
dựng vợ gả chồng ra riêng từ nhiều năm trước. Vì kế sinh nhai ở xa quê nên ít
khi mấy người về thăm. Khi tôi vào chùa quy y tam bảo, những ngày tháng tu học
ở chùa, tôi biết cha tôi còn lại một mình với cỏ cây, với trăng sao, mưa nắng.
Hồi tưởng lại ngày tháng dưới một mái nhà với cha và các anh chị mà lòng bồi
hồi. Khi tôi vừa đủ trí khôn mới biết cha tôi sống cô quạnh một mình, không bà
con thân thích và rất nghèo. Nghèo nhưng cha con chúng tôi đều yêu thương nhau,
đùm bọc lấy nhau. Tôi là con út nên được chiều chuộng nhiều. Để nuôi con khôn
lớn, cha tôi đã nai lưng làm đủ mọi nghề. Lúc thì làm thợ hồ, thợ mộc, lúc thì
mần ruộng thuê, vác lúa mướn, lúc thì gác gian, cuối cùng là nghề đưa đò ngang
bên Thủ Thiêm.
Thời trai tráng, cha tôi là một nghệ sĩ cổ nhạc. Ông chuyên về đờn cò theo một
gánh hát quê lưu diễn khắp Lục Tỉnh Nam Kỳ. Lúc khán giả miền Tây già trẻ lớn
bé nức lòng mến chuộng cải lương lại là lúc ông bầu gánh hát chẳng may bị lạc
đạn của Tây, bèn rã gánh. Sầu đời, cha tôi lặn lội lên Sài Gòn tìm kế sinh
nhai, rồi theo dân tứ xứ kéo qua Thủ Thiêm dựng làng lập ấp ven sông.
Thủ Thiêm xưa là vùng đất trũng, mọc đầy cây bàng và lác, lưu dân đến lập ấp
nên gọi là ấp Cây Bàng cạnh bến đò Cây Bàng. Trải qua nhiều năm tháng lần hồi
mới có mặt lũ trẻ chúng tôi. Thời đó, cuộc sống của cha tôi lúc bước chân ra
khỏi cửa là chạm mưa, chạm nắng, đất bờ sông lúc nào cũng như nghiêng xuống,
con đò thì chòng chành trước những xuồng máy đuôi tôm ngày càng nhiều. Nhất là
thập niên 1960, con phà hình hột vịt do hãng đóng tàu Caric của Tây bên Thủ
Thiêm hạ thủy là gây nhiều sự chú ý. Phà có hai từng, ngoài chở khách còn chở
cả xe cộ qua lại trên sông. Nhiều đêm, thấy cha ngồi một mình lặng lẽ nhìn con
phà dưới bến tôi thương ông vô hạn. Tôi có cảm tưởng như con phà vô tình át
tiếng đò chèo của cha tôi, đẩy gia cảnh chúng tôi vào nơi chông chênh, khốn
khó. Lạ một điều là trong mắt chúng tôi cuộc sống có vất vả, có mưa phơi nắng
trải, dù mỏi mệt nhưng cha vẫn luôn gọn gàng, ngăn nắp, hòa nhã và đặc biệt rất
nghệ sĩ.
Nghèo xơ nghèo xác nhưng tấm lòng cha tôi lại giàu vô lượng. Dưới mái nhà
tranh vách đất đơn sơ chật hẹp cạnh bờ sông, ông âm thầm nuôi bốn anh chị em
chúng tôi cho tới ngày khôn lớn.
Tôi vẫn nhớ chị ba tôi thủ thỉ lúc tôi chập chững biết đi, vòi vĩnh mẹ thì
cha ôm tôi vào lòng chỉ lên bàn thờ nói mẹ mất lâu rồi. Ngoài sự đùm bọc của
cha, anh chị em tôi chưa từng biết mẹ chúng tôi là ai, không biết mẹ chúng tôi
qua đời từ lúc nào, chỉ thấy bức di ảnh một người mẹ đã mờ nhạt lồng trong
khung kính cũ kỹ đặt trên kệ thờ nhỏ rí ở góc nhà.
Rồi cái gì tới sẽ tới. Chờ đứa con út là tôi có đủ trí khôn cha mới cho
chúng tôi biết sự thật. Một sự thật bất ngờ và vô cùng đau đớn mà lúc đó chúng
tôi đều không tin vào tai mình. Cả bốn anh chị em tôi lần lượt bị đời vứt bỏ ở
những bãi rác công cộng được cha thương tình đem về nuôi nấng. Sau giây phút
ngỡ ngàng về sự thật hết sức đau lòng, không ai bảo ai, chúng tôi đều quỳ sụp
xuống lạy tạ cha tôi và khóc. Đời tôi chưa bao giờ nghe mình khóc thương tâm
đến như vậy. Mà có riêng gì tôi đâu, cả ba anh chị của tôi cũng nước mắt nước
mũi ròng ròng, vật vã, xót thương. Cây lúa lớn lên từ đất, từ ơn mưa móc; còn
chúng tôi lớn lên từ mồ hôi, nước mắt của cha tôi. Cứ vậy anh chị em chúng tôi
nương tựa nhau dưới mái nhà nghèo khó, nhưng vô cùng hạnh phúc trong vòng tay
ấm áp của người cha bồ tát. Khi nhận thấy chúng tôi đã cứng cáp trong đôi cánh
bay, ông lần lượt dựng vợ gả chồng xong ông tung hết lũ con ra ngoài đời. Riêng
tôi lại hướng về ánh sáng của Phật đạo.
Ngày tháng tu tập ở chùa, tôi luôn luôn tưởng nhớ đến cha già, một người cha
thường khiến cho bốn anh chị em chúng tôi đều hết lòng thờ phụng, kính yêu. Cha
tôi, dù không phải là cha ruột, hình thành con người cho chúng tôi, nhưng cha
là món quà vô giá mà Trời Phật đã ban ra để cứu vớt chúng tôi.
Ngày xa xưa cha tôi sớm cô quạnh một mình. Chúng tôi là những con chim non
bất hạnh được cha lượm về dưỡng dục cho đến khi khôn lớn chúng tôi bay đi, cha
tôi vẫn cô quạnh một mình. Và cha đã ở vậy cho đến cuối đời.
Cha tôi, một người cha vỏ ngoài bình thường nhưng bên trong lại chứa đựng
một trái tim bồ tát. Sống trong giáo pháp nhà Phật, tôi tin rằng cha tôi là một
vị Bồ Tát hóa thân dưới một ẩn tướng để cứu độ lũ con bị đời ruồng bỏ.
Cha tôi họ Lý tên Đình. Trên tấm mộ chí đơn sơ của Cha tôi, ngoài tên họ Lý
Bố Đình, phía dưới còn khắc thêm “pháp danh” thật nhỏ, thật khiêm nhường mà lúc
còn tại thế Cha tôi chẳng hề hay biết: Bồ Tát Đình.
Phan Ni Tấn