*
Có bữa tôi đang ngồi lơ tơ mơ hút thuốc thì chuông
điện thoại reo:
– Tiến hả?
– Dạ…
– Vũ Đức Nghiêm đây…
– Dạ…
– Anh buồn quá Tiến ơi, mình đi uống cà phê chút chơi
được không?
– Dạ… cũng được!
Tôi nhận lời sau một lúc tần ngần nên tuy miệng nói
“được” mà cái giọng (nghe) không được gì cho lắm. Tôi cũng thuộc loại
người không biết làm gì cho hết đời mình nên thường rảnh nhưng không
rảnh (tới) cỡ như nhiều người trông đợi. Sống ở Mỹ, chớ đâu phải Mỹ
Tho mà muốn đi đâu thì đi, và muốn đi giờ nào cũng được – mấy cha?
Khi Mai Thảo và Hoàng Anh Tuấn còn trên dương thế,
thỉnh thoảng, tôi cũng vẫn nghe hai ông thở ra (“anh buồn quá Tiến ơi”)
y chang như thế. Chỉ có điều khác là ông nhà văn khi buồn thì thích
đi uống rượu, ông thi sĩ lúc buồn lại đòi đi… ăn phở, còn bây giờ thì
ông nhạc sĩ (lúc buồn) chỉ ưa nhâm nhi một tách cà phê nóng. Ai sao
tui cũng chịu, miễn đến chỗ nào (cứ) có bia bọt chút đỉnh là được!
Vũ Đức Nghiêm sinh sau Mai Thảo và trước Hoàng Anh
Tuấn. Ông chào đời vào năm 1930. Hơn 80 mùa xuân đã (vụt) trôi qua. Cả
đống nước sông, nước suối – cùng với nước mưa và nước mắt – đã ào
ạt (và xối xả) chẩy qua qua cầu, hay trôi qua cống. Những dịp đi chơi
với ông (e) sẽ cũng không còn nhiều lắm nữa. Tôi chợt nghĩ như thế
khi cho xe nổ máy.
Quán cà phê vắng tanh. Nhạc mở nhỏ xíu nhưng tôi vẫn
nghe ra giai điệu của một bài hát rất quen:
Gọi người yêu dấu bao lần.
Nhẹ nhàng như gió thì thầm.
Làn mây trôi gợi nhớ chơi vơi thương người xa xôi.
Gọi người yêu dấu trong hồn.
Ngập ngừng tha thiết bồn chồn.
Kỷ niệm xưa mơ thoáng trong sương cho lòng nhớ thương…
- Hình như là nhạc Vũ Đức Nghiêm… Anh nghe xem có
đúng không? Tôi đùa.
- Em nói nghe cái gì?
- Anh thử nghe nhạc coi…
- Nhạc của ai?
Tôi chợt nhớ ra là ông anh đã hơi nặng tai nên gọi cô
bé chạy bàn:
- Cháu ơi, người ngồi trước mặt chúng ta là tác giả
của bản nhạc Gọi Người Yêu Dấu mà mình đang nghe đó.
Cháu mở máy lớn hơn chút xíu cho ổng… sướng nha!
Thấy người đối diện có vẻ bối rối vì cách nói
vừa dài dòng, vừa hơi quá trịnh trọng của mình nên tôi cố thêm vào
một câu tiếng Anh (vớt vát) nhưng ngó bộ cũng không có kết quả gì.
Đúng lúc, chủ quán bước đến:
- Cháu nó mới từ Việt Nam sang, ông nói tiếng Mỹ nó
không hiểu đâu. Ông cần gì ạ?
- Dạ không, không có gì đâu. Never mind!
Tôi trả lời cho qua chuyện vì chợt nhận ra sự lố
bịch của mình. Cùng lúc, bản nhạc của Vũ Đức Nghiêm cũng vừa chấm
dứt. Tôi nhìn anh nhún vai. Vũ Đức Nghiêm đáp lại bằng một nụ cười
hiền lành và… ngơ ngác!
Tự nhiên, tôi thấy gần và thương quá cái vẻ ngơ ngác
(trông đến tội) của ông. Tôi cũng bị nhiều lúc ngơ ngác tương tự trong
phần đời lưu lạc của mình. Bây giờ hẳn không còn ai, ở lứa tuổi hai
mươi - dù trong hay ngoài nước - còn biết đến tiếng “Gọi Người Yêu
Dấu” (“ngập ngừng tha thiết bồn chồn”) của Vũ Đức Nghiêm
nữa. Thời gian, như một giòng sông hững hờ, đã vô tình bỏ lại những
bờ bến cũ.
Vũ Đức Nghiêm, tựa như một cây cổ thụ hiếm hoi, vẫn
còn đứng lại bơ vơ bên bờ trong khi bao nhiêu nhạc sĩ cùng thời đều
đã ra người thiên cổ. Trúc Phương là một trong những người này. Qua
chương trình Bẩy Mươi
Năm Tình Ca Trong Tân Nhạc Việt Nam, nhà phê bình âm nhạc Hoài
Nam đã cho biết nhiều chi tiết vô cùng thê thiết về cuộc đời của
người viết nhạc (chả may) này.
Trang sổ tay hôm nay, chúng tôi xin được nắn nót ghi
lại đây những nhận xét của Hoài Nam, và mong được xem như một nén
hương lòng (muộn màng) gửi đến một người đã khuất:
“Trúc Phương là một trong những nhạc sĩ gốc miền
Nam được yêu mến nhất, từng được mệnh danh là ông vua của thể điệu
Bolero tha thiết trữ tình. Ông tên thật là Nguyễn Thiện Lộc, ra chào đời
năm 1939 tại xã Mỹ Hoà, quận Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, tức Vĩnh Bình – một
xứ Chùa Tháp thu nhỏ ở vùng hạ lưu sông Cửu Long…”
Tháng 4 năm 1975, Trúc Phương bị kẹt lại. Năm 1979,
ông vượt biên nhưng bị bắt và bị tù. Sau khi được thả, cuộc sống của
ông trở nên vô cùng thê thảm về thể xác vật chất cũng như tinh thần.
Trong một đoạn video phỏng vấn ông, được Trung Tâm Asia phổ biến tại
hải ngoại, Trúc Phương cho biết:
“Sau cái biến cố cuộc đời, tôi sống cái kiểu rài đây mai
đó,’bèo dạt hoa trôi’… Nếu mà nói đói thì cũng không đói ngày nào, nhưng mà no
thì chẳng có ngày nào gọi là no…Tôi không có cái mái nhà, vợ con thì cũng tan
nát rồi, tôi sống nhà bạn bè, nhưng mà khổ nổi hoàn cảnh họ cũng bi đát, cũng
khổ, chứ không ai đùm bọc ai được…đến nửa lúc đó thì vấn đề an ninh có khe khắc,
lúc đó thì bạn bè tôi không ai dám “chứa” tôi trong nhà cả, vì tôi không có giấy
tờ tùy thân, cũng chẳng có thứ gì trong người cả. Tôi nghĩ ra được một cách...
là tìm nơi nào mà có khách vãng lai rồi mình chui vào đó ngủ với họ để tránh bị
kiểm tra giấy tờ…Ban ngày thì lê la thành phố, đêm thì phải ra xa cảng thuê một
chiếc chiếu, 1 chiếc chiếu lúc bấy giờ là 1 đồng…thế rồi ngủ cho tới sáng rồi xếp
chiếc chiếu trả người ta... thế là mình lấy 1 đồng về… như là tiền thế chân…Một
năm như vậy, tôi ngủ ở xa cảng hết 9 tháng…Mà nói anh thương…khổ lắm… Hôm nào
mà có tiền để đi xe lam mà ra sớm khoảng chừng năm giờ có mặt ngoài đó thế rồi
thuê được chiếc chiếu trải được cái chỗ lịch sự chút tương đối vệ sinh một tí
mà hôm nào ra trễ thì họ chiếm hết rồi, những chỗ sạch vệ sinh họ chiếm hết rồi,tôi
đành phải trải chiếu gần chỗ ‘thằng cha đi tiểu vỉa hè’, thế rồi cũng phải nằm
thôi. Tôi sống có thể nói là những ngày bi đát…mà lẽ ra tôi nên buồn cho cái
hoàn cảnh như thế nhưng tôi không bao giờ buồn… Tôi nghĩ mà thôi, còn sống cho
tới bây giờ và đó cũng là một cái chất liệu để tôi viết bài sau này…”
Chất liệu, rõ ràng, đã có (và có quá dư)
nhưng cơ hội để Trúc Phương viết bài sau này (tiếc thay) không bao giờ
đến – vẫn theo như lời của nhà phê bình âm nhạc Hoài Nam:
“Vào một buổi sáng năm 1996, Trúc Phương không bao
giờ thức dậy nữa. Ông đã vĩnh viễn ra đi. Tất cả gia tài để lại
chỉ là một đôi dép nhựa dưới chân. Thế nhưng xét về mặt tinh thần
Trúc Phương đã để lại cho chúng ta một di sản vô giá.”
“Chúng ta ở đây là những người yêu nhạc, trong
nước cũng như hải ngoại, bên này cũng như bên kia chiến tuyến. Bởi vì
hơn ba mươi ca khúc nổi tiếng của ông cho dù có một hai bài có nhắc
đến chữ ‘cộng hoà’ vẫn phải được xem là những tình khúc viết cho
những con người không phải cho một chế độ chính trị nào. Những con
người sinh ra và lớn lên trong một cuộc chiến không lối thoát với
niềm khắc khoải chờ mong một ngày thanh bình. Cuối cùng thanh bình
đã tới nhưng không phải là thứ thanh bình mà những ‘con tim chân
chính’ trong nhạc của Lê Minh Bằng hằng mơ ước mà là thứ thanh bình
của giai cấp thống trị, của một thiểu số may mắn nào đó. Chính cái
thanh bình ấy đã cướp đi bao nhiêu sinh mạng trong đó có người Việt
Nam xấu số đáng thương tên Nguyễn Thiện Lộc, tức nhạc sĩ Trúc Phương
nổi tiếng của chúng ta.”
Thôi thì cũng xong một kiếp người! Và dòng đời, tất
nhiên, vẫn cứ lạnh lùng và mải miết trôi. Sáng nay, tôi lại chợt nhớ
đến Trúc Phương sau khi tình cờ đọc được một mẩu tin ngăn ngắn - trên
báo Pháp
Luật, phát hành từ trong nước:
“Ngày 31-1, một số cán bộ hưu trí, người dân ở phường
Bình Hưng Hòa B (quận Bình Tân, TP.HCM) bức xúc phản ánh cuộc họp mặt đầu năm
do phường tổ chức… Ngay phần khai mạc lúc gần 9 giờ sáng, trên nền nhạc hip
hop, hai phụ nữ ăn mặc hở hang, thiếu vải lên nhún nhảy, múa những động tác
khêu gợi. Hai thanh niên múa phụ họa. Quan sát đoạn video chúng tôi thấy nhiều
cán bộ hào hứng xem tiết mục ‘lạ mắt’ này. Có cán bộ còn dùng điện thoại quay lại
cảnh hai cô gái biểu diễn, ưỡn người và ngực về phía khán giả. Nhiều người tham
gia rất hào hứng, chỉ trỏ, thì thầm vào tai nhau…
Chúng tôi tiếp tục liên lạc với bà Nguyễn Thị Bích Tuyền,
Phó Chủ tịch phường kiêm Chủ tịch Công đoàn phường… bà Tuyền lý giải: ‘Tiết mục
múa chỉ diễn ra gần 3 phút và đây là vũ điệu theo phong cách Hawaii nên hơi lạ…”
Nếu ngay sau khi chiếm được miền Nam mà qúi vị cán
bộ cộng sản cũng có được cách “lý giải” tương tự thì thì Mai Thảo,
Hoàng Anh Tuấn… đã không phải bỏ thân nơi đất lạ. Vũ Đức Nghiêm cũng
đã tránh được những giây phút bơ vơ, ngơ ngác, lạc lõng ở xứ người.
Và Trúc Phương thì chắc chắn vẫn sẽ còn ở lại với chúng ta, vẫn
có những đêm khắc khoải buồn vào hồn không tên, thay vì
nằm chết cong queo trong đói lạnh – trên một manh chiếu rách – với tài
sản duy nhất còn lại chỉ là một đôi dép nhựa.
Mọi cuộc cách mạng luôn luôn có cái giá riêng của
nó. Riêng cái thứ cách mạng (thổ tả) của những người cộng sản Việt
Nam thì đòi hỏi mọi người đều phải trả cái giá (hơi) quá mắc mà
thành quả – xem ra – không có gì, ngoài tội ác!
26/7/2017
Tưởng Năng Tiến