Theo Từ điển Bách khoa xuất bản tại Việt Nam 2005, diễn biến
hòa bình được định nghĩa: “Diễn biến hòa bình chiến lược của chủ nghĩa đế quốc
và các thế lực phản động quốc tế, được thực hiện dưới một phương thức, thủ đoạn
mới để chống phá, đẩy lùi và đi đến xoá bỏ chủ nghĩa xã hội. Đối tượng của chiến
lược Diễn biến hòa bình là các nước có khuynh hướng phát triển phi tư bản chủ
nghĩa. Bản chất của chiến lược DBHB là chống chủ nghĩa xã hội. Nội dung cơ bản
là phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa về các mặt chính
trị, tư tưởng, kinh tế, văn hoá, xã hội, v.v… Phương thức và thủ đoạn chủ yếu
là tạo dựng và thúc đẩy những nhân tố phản động, chống đối từ bên trong, đẩy đối
phương vào khủng hoảng toàn diện, từng bước chuyển hoá chế độ chính trị theo
con đường phát triển tư bản chủ nghĩa hoặc bị chính các thế lực chống đối dùng
bạo lực lật đổ…”
Bức điện tín của George F. Kennan
Diễn biến hòa bình không phải là một chủ thuyết độc lập
nhưng là một bộ phận của hai học thuyết đối ngoại thịnh hành của Mỹ sau thế chiến
thứ hai là ngăn chận (containment) và đẫy lùi (rollback).
Tháng 2 năm 1946, George F. Kennan, nhân viên ngoại giao làm
việc cho tòa đại sứ Mỹ tại Liên Sô, gởi Bộ Ngoại giao Mỹ một bản phân tích qua
hình thức một điện tín dài 5.500 chữ, trong đó ông trình bày một cách chi tiết
quan điểm của Stalin về tương lai nhân loại, mục tiêu và chiến lược của Liên Sô
sẽ được áp dụng trên phạm vi toàn thế giới, điểm mạnh và điểm yếu của chế độ Cộng
sản, đồng thời đề nghị một số biện pháp cần thiết phải được áp dụng để ngăn chận
làn sóng Cộng sản. Chính sách đối ngoại chỉ đạo của Mỹ đặt cơ cở trên những
phân tích của George Kennan được gọi là ngăn chận (containment).
Lý thuyết đẩy lùi (rollback) các ảnh hưởng của khối Cộng sản
tại những nơi bị Cộng sản chiếm được phác họa trước hết nhắm đến các quốc gia Cộng
sản chư hầu của Liên Sô tại Đông Âu. Người cổ võ mạnh mẽ nhất cho lý thuyết này
là cố Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles. Trong lúc lý thuyết ngăn chặn nặng về
phòng thủ, lý thuyết đẩy lùi nghiêng về phía phản công. Hai lý thuyết này chế
ngự chính sách đối ngoại của Mỹ trong và cả sau chiến tranh lạnh, tùy thuộc
hoàn cảnh chính trị tại mỗi quốc gia mà một hay cả hai chính sách được áp dụng.
Người đầu tiên gợi ý về diễn biến hòa bình là George Kennan
và được ngoại trưởng Dean Acheson dưới thời tổng thống Harry Truman ủng hộ. Tuy
nhiên người giải thích rõ quan điểm này cũng là John Foster Dulles. Trong một
điều trần tại Quốc hội Mỹ 15 tháng Giêng 1953, Ngoại trưởng Dulles phát biểu: “Chúng
ta phải luôn ghi nhớ đến việc giải phóng các dân tộc bị nô lệ. Tuy nhiên, giải
phóng đây không có nghĩa là phát động chiến tranh giải phóng, có nhiều phương
tiện khác hơn chiến tranh có thể được dùng để giải phóng”.
John Foster Dulles (1888-1959) giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao
dưới thời Tổng thống Dwight D. Eisenhower từ 1953 đến 1959. Ông là một chính
khách có lập trường chống Cộng sản cương quyết, biện hộ cho chủ trương cứng rắn
trong việc đối đầu với phong trào Cộng sản Quốc tế, nhất là với Trung Cộng và
Liên Sô. Tại hội nghị Geneva 1954, được biết là ông đã từ chối bắt tay Ngoại
trưởng Trung Cộng Chu Ân Lai. Với tư cách Ngoại trưởng, Dulles dành nhiều thời
gian để xây dựng khối Minh Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) nhằm chặn đứng sự bành
trướng của Sô Viết sang Tây Âu. Tại viễn đông, Dulles vận động thành lập Tổ Chức
Liên Phòng Đông Nam Á (SEATO). Dulles cũng đưa ra hai chủ trương được gọi là
“bên miệng hố chiến tranh” (brinkmanship) và trả thù ồ ạt (massive retaliation)
để đặt các quốc gia Cộng sản tiêu hao tài nguyên nhân lực trong tình trạng thường
trực chuẩn bị cho chiến tranh. Với Trung Cộng, Ngoại trưởng John Foster Dulles
có thái độ chống đối ra mặt và có lần đã gọi chế độ Cộng sản tại Trung Quốc là
“hiện tượng xấu”. Trong một diễn văn vào tháng Sáu 1957, ông còn nhấn mạnh “hiện
tượng đó phải biến mất đi”. Ngày 11 tháng 8/1958, trong một thông cáo báo chí,
Bộ Ngoại giao Mỹ dưới quyền John Foster Dulles xác định “Chủ nghĩa Cộng sản
tại Trung Quốc không phải là vĩnh cửu và một ngày nào đó chế độ đó sẽ sụp đổ”.
Ngày 24 tháng Mười 1958, trong một phỏng vấn dành cho đài BBC, Ngoại trưởng
Dulles tiên đoán “Chủ nghĩa Cộng sản sẽ nhường bước cho một hệ thống mới
quan tâm đến an sinh của quốc gia và con người”, “Cộng sản Trung Quốc và Cộng sản
Nga không phục vụ lợi ích của con người” và “thứ Cộng sản đó sẽ thay đổi”.
Mao Trạch Đông và “diễn biến hòa bình”
Mao Trạch Đông, được biết là người đầu tiên diễn dịch quan
điểm của Ngoại trưởng Dulles thành “diễn biến hòa bình”. Trước
tình hình nội bộ đảng không bao giờ đoàn kết và quan hệ xấu dần theo giữa Trung
Cộng với Liên Sô, “diễn biến hòa bình” trở thành mối bận tâm
hàng đầu của Mao Trạch Đông. Theo hồi ký của Bạc Nhất Ba (薄一波), một
trong Bát Bất Tử của đảng Cộng Sản Trung Hoa, nguyên Ủy viên Bộ Chính Trị kiêm
Chủ tịch Ủy Ban Kinh Tế Nhà Nước, Mao tin rằng chính sách “diễn biến
hòa bình” của Dulles đã bắt đầu có hiệu quả tại Liên bang Sô Viết qua
việc Khrushchev chủ trương “sống chung hòa bình” với khối tư bản.
Các báo Hồng Kỳ và Nhân Dân đăng
hàng loạt các bài bình luận tố cáo Khrushchev phản bội lý tưởng Cộng sản. Mao
Trạch Đông tìm mọi cách để ngăn chận tình trạng mà ông ta kết án là Chủ nghĩa
xét lại xảy ra tại Trung Cộng. Mao đọc các bài điều trần và diễn văn của Ngoại
Trưởng Dulles từng chữ một. Việc Thống chế Bành Đức Hoài phê bình chính sách
“Ba ngọn cờ đỏ” tại Hội Nghị Lư San càng làm cho Mao nghi ngờ thêm rằng các mầm
mống của diễn biến hòa bình đang phát sinh ngay trong nội bộ đảng Cộng sản
Trung Quốc. Cũng theo Bạc Nhất Ba , tháng 11 1959, Mao triệu tập một phiên họp
Bộ Chính trị thu hẹp để thảo luận về tình hình quốc tế. Trong dịp này Mao ra lịnh
thư ký in và phân phối cho các thành viên tham dự phiên họp ba diễn văn quan trọng
của Ngoại trưởng Dulles. Ba diễn văn đó gồm Chính sách đối với Viễn
đông (Policy for the Far East) đọc tại Phòng Thương Mại California
ngày 4 tháng 12, 1958, Bản điều trần trước Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện
Hoa Kỳ ngày 28 tháng Giêng 1958, và bài thuyết trình Vai trò của
Luật pháp trong Thời bình (The Role of Law in Peace) trình bày trước Hội
Luật Sư New York ngày 31 tháng Giêng 1959.
Trong bài viết “Đế quốc Mỹ, kẻ thù hung bạo nhất của
loài người” vào ngày 12 tháng Giêng 1964, Mao nhấn mạnh đến sự phát
triển của diễn biến hòa bình tại Liên Sô: “Chính sách xâm lược và chiến
tranh của chủ nghĩa đế quốc Mỹ đe dọa một cách trầm trọng đến Liên bang Sô Viết,
Trung Cộng và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Hơn nữa, nó đang mãnh liệt tìm
cách đẩy mạnh chính sách “diễn biến hòa bình” tại các nước xã hội chủ nghĩa nhằm
mục đích tái lập chủ nghĩa tư bản và làm tan rã phe xã hội chủ nghĩa”.
Trong khoảng thời gian từ 1960 đến 1967, Mao tập trung toàn bộ nỗ lực vào việc
chống chủ nghĩa xét lại Sô Viết và thanh trừng các phần tử y cho là xét lại
trong đảng Cộng sản Trung Hoa, đứng đầu là Thống Chế Bành Đức Hoài. Nhiều nhà
phân tích cho rằng “ diễn biến hòa bình” đã đẩy Mao vào các hoạt
động thanh trừng nội bộ đẫm máu trong thời gian đó, tuy nhiên cũng có quan điểm
cho rằng Mao đã lợi dụng lý do chống diễn biến hòa bình để loại bỏ các phần tử
chống y trong bộ chính trị.
Đặng Tiểu Bình và “diễn biến hòa bình”
Tuy nhiên, áp bức và đấu tranh là hai mặt biện chứng trong
quy luật phát triển của xã hội con người. Một chủ nghĩa đi ngược tại đà tiến của
văn minh, chà đạp lên giá trị con người chủ nghĩa đó phải sụp đổ. Đúng như John
Foster Dulles nhận xét, sau khi các thế hệ cộng sản đam mê làm cách mạng sắt
máu ra đi, các thế hệ chuyển tiếp và thứ ba, thứ tư đối diện với gia tài băng
hoại về mọi mặt buộc họ hoặc phải thay đổi để duy trì quyền lãnh đạo hay phải
chịu sụp đổ không tránh khỏi trước sức phản kháng của nhân dân. Nhiệt tình cách
mạng xã hội chủ nghĩa và niềm tin vào một xã hội không giai cấp, làm theo năng
lực hưởng theo nhu cầu là những chiếc bong bóng nước sau cơn mưa thời đại. Tuy
mức độ nhanh chậm khác nhau, những cải tổ thuận theo hướng phát triển chung của
nhân loại đã đồng loạt xảy ra. Nói như nhà bình luận chính trị Á Châu Frank
Chinh, lãnh đạo các nước Cộng sản chọn “diễn biến hòa bình theo cách riêng của
họ”.
Giống như Mao, Đặng Tiểu Bình lo ngại về “diễn biến
hòa bình” nhưng khác Mao, y biết diễn biến là điều không tránh khỏi.
Tháng 11/1989, họ Đặng nhận xét về viễn ảnh này: “Các nước Tây phương đang
phát động một thế chiến thứ ba không khói súng. Họ muốn tạo ra một diễn biến
hòa bình để đưa các nước xã hội chủ nghĩa sang tư bản chủ nghĩa”. “Đồng
chí Giang Trạch Dân và cấp lãnh đạo trong chính phủ của ông, có thể được xem
như thuộc thế hệ thứ ba, và sẽ có thế hệ thứ tư, thứ năm. Khi nào thế hệ già
như chúng tôi còn sống, sẽ không có thay đổi. Nhưng khi chúng tôi chết hết, ai
bảo đảm là sẽ không có diễn biến hòa bình?” Mặc dù vẫn tiếp tục chống “diễn
biến hòa bình”, các chính sách kinh tế, chính trị của Đặng Tiểu Bình
và sau đó được Giang Trạch Dân kế tục qua chính sách Ba Đại Diện đã góp phần đẩy
mạnh tự diễn biến hòa bình bởi vì như Đặng Tiểu Bình nói “Con người
không thể ăn chủ nghĩa xã hội”.
Liên Sô và “diễn biến hòa bình”
Tại Sô Viết, sau khi Leonid Brezhnev chết ngày 10 tháng
11/982, Yuri Andropov nắm chức Tổng bí thư nhưng chỉ chưa được hai năm cũng chết
vì bịnh suy thận giao quyền lại cho Konstantin Chernenko. Lúc đó Konstantin
Chernenko đã 71 tuổi và cũng đang bịnh hoạn. Ngày 10 tháng 3/1985, viên tổng bí
thư cực đoan bảo thủ này theo gót Leonid Brezhnev và Yuri Andropov về với Mác.
Với sự ủng hộ của Andrey Gromyko, Bộ Trưởng Ngoại Giao lâu đời nhất trong lịch
sử Sô Viết, Mikhail Sergeyevich Gorbachev lên nắm quyền không bị sự cản trở lớn
nào. Trong lúc hầu hết các tổng bí thư trước đó sinh ra trước Cách Mạng Cộng sản
1917, Gorbachev sinh ra trong thời Cộng Sản, không mang trong người một dòng lý
lịch vào tù ra khám nào và chỉ gia nhập đảng Cộng sản trong thời gian theo học
Luật tại Đại Học Moscow. Ở tuổi 54, Gorbachev là ủy viên Bộ Chính trị trẻ tuổi
nhất trong lịch sử đảng Cộng sản Liên Sô. Tháng Giêng 1987, các Cải tổ
kinh tế (Perestroika) và Cởi mở văn hóa chính trị (glasnost)
tại Sô Viết bắt đầu. Ngày 26 tháng 11/1991, hệ thống Cộng sản Liên Sô chính thức
sụp đổ.
Trần Xuân Bách nhận thức được sự vận hành của lịch sử. Ông
hiểu rằng bài ca chiến thắng buổi sáng 30 tháng Tư 1975 đang trở thành bài ai
điếu. Dân tộc Việt Nam đã chịu đựng quá nhiều, hy sinh xương máu quá nhiều. Đổi
mới xã hội toàn diện sớm chừng nào tốt cho các thế hệ Việt Nam mai sau chừng
đó. Nhưng giữa một đám bảo thủ chỉ biết bám vào chiếc bè quyền lực, quan điểm của
Trần Xuân Bách trở nên lạc lõng. Giáo Sư Carl Thayer phát biểu với BBC sau ngày
ông Trần Xuân Bách qua đời: “Cuối cùng Việt Nam đi theo con đường của
Trung Quốc, nhấn mạnh đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế là lý do người dân cần
phải theo đảng. Cải tổ chính trị, theo tôi, thì vô cùng chậm chạp. Và kể từ khi
ông Trần Xuân Bách bị sa thải, Việt Nam cũng chẳng đẩy mạnh cải cách chính trị
gì cả, và thậm chí số người bất đồng chính kiến có vẻ tăng lên, số vụ hà hiếp họ
cũng tăng lên. Do vậy Việt Nam vẫn còn đi sau trong lĩnh vực cải tổ chính trị,
và Đảng muốn kiểm soát chặt chẽ tiến trình này.”
Trần Xuân Bách chia sẻ quan điểm với Leonid Abalkinm, cố vấn
kinh tế của Gorbachev: “Đổi mới sâu sắc trong quản trị kinh tế không thể
thành thực tế nếu không có những thay đổi tương ứng với đổi mới trong chính trị”.
Trong bài phát biểu cuối năm 1989 trước khi bức tường Berlin
đã sụp đổ, Trần Xuân Bách nói về dân chủ: ”Dân chủ không phải là ban ơn,
không phải là mở rộng dân chủ (mở rộng). Đó là quyền của dân, với tư cách là
người làm nên lịch sử, không phải là ban phát, do tấm lòng của người lãnh đạo
này hay người lãnh đạo kia. Thực chất của dân chủ hóa là khơi động trí tuệ của
toàn dân tộc để tháo gỡ khó khăn và đưa đất nước đi lên kịp thời đại. Từ hai vấn
đề đó, xẩy ra một vấn đề quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là
thế nào? Có nước tự cho mình không cần đổi mới, đã bị bục vỡ. Có nước coi đổi mới
kinh tế phải làm nhanh, còn đổi mới chính trị thì chầm chậm cũng bục chuyện. Có
nước chỉ đổi mới kinh tế, không đổi mới chính trị, đã bục to. Có nước làm cả
hai, nhưng không nhịp nhàng, gặp khó khăn. Hai lãnh vực này phải nhịp nhàng,
không chân trước chân sau, không tấp tểnh đi một chân.”
Cũng vì “tấp tểnh đi một chân” mà sau 25 năm đổi mới, Việt
Nam vẫn là một quốc gia nghèo và phát triển chậm so với hầu hết các quốc gia
trong vùng như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, đừng nói chi là Singapore, Hàn Quốc.
Nhìn lại đất nước trong từng lãnh vực, không có thành tựu nào đáng hãnh diện với
thế giới. Những gì được gọi là thành quả thật quá nhỏ nhoi so với sự chịu đựng
của dân tộc. Trong thống kê 2010 của tổ chức Minh Bạch Quốc Tế (Transparency
International), Việt Nam bị xếp vào hàng 116 trong tổng số 178 nước được thăm
dò với chỉ số điểm vỏn vẹn 2.7 trên 10, cùng hạng với Ethiopia, Tanzania,
Guyana.
Ngoài một xã hội bị tham nhũng đục khoét bên trong, lãnh đạo
đảng Cộng sản Việt Nam đang đứng trước nhiều đe dọa, cô lập và lợi dụng từ bên
ngoài. Mâu thuẫn giữa các quốc gia có quyền lợi kinh tế trong vùng Biển Đông
ngày càng gay gắt và không sớm thì muộn cũng sẽ dẫn đến chiến tranh trong khu vực.
Và nếu đúng như vậy, giới lãnh đạo Cộng sản Việt Nam sẽ làm gì để bảo vệ được
chủ quyền đất nước hay lại một lần nữa ném dân tộc vốn đã quá lầm than vào lò
thiêu của tham vọng ngoại bang?
Từ Neville Chamberlain đến Richard Nixon, từ Franklin
Roosevelt đến Herbert W. Bush, lịch sử nhân loại để lại vô số bài học về tham vọng
đế quốc và số phận bất hạnh của các quốc gia nhược tiểu. Vì quyền lợi của đất
nước, các cường quốc sẵn sàng bỏ rơi hay bán đứng đồng minh như Anh đã làm với
Tiệp Khắc tại Munich 1938, Anh và Mỹ đã làm với Ba Lan tại Yalta 1944, Mỹ đã
làm với Việt Nam Cộng Hòa tại hội nghị Paris 1973, hoặc phó mặc sinh mạng của
những người đứng lên vì khát vọng tự do dân chủ làm mồi cho đoàn kên kên Sô Viết
như trường hợp Hungary 1956, Tiệp Khắc 1968.
Tháng 4, 2006, Bộ trưởng Ngoại Giao CSVN Nguyễn Dy Niên,
trong cuộc phỏng vấn dành cho báo chí trong nước đã phát biểu về diễn biến hòa
bình: “Trong các văn kiện của Đảng chúng tôi cũng như trên các phương
tiện thông tin đại chúng, nhiều học giả VN và nhà báo cũng đã nói đến diễn biến
hòa bình. Đây không phải suy diễn mà là hiện tượng thực tế mà VN nhìn nhận. VN
đang cố gắng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do dân, vì dân để
người dân thực sự dân chủ. Tôi nghĩ là 4 nguy cơ VN đề ra, mà đẩy lùi được thì
sẽ tăng được sự phát triển… Việc xây dựng nhà nước pháp quyền, đẩy lùi tham
nhũng thành công, theo tôi, sẽ là biện pháp ngăn chặn diễn biến hòa bình”.
Khi được hỏi tiếp, ai là kiến trúc sư của “Diễn biến hòa
bình”, Nguyễn Dy Niên thoái thác: “Có lẽ chúng ta không nên nói ai là
kiến trúc sư mà chỉ nói những vấn đề mà VN phải xử lý. Đó là thách thức phải đối
mặt và xử lý thế nào để vẫn giữ được bản sắc dân tộc và độc lập tự chủ của chế
độ…”.
Một mặt đảng tiếp tục nhồi sọ sinh viên học sinh những mớ lý
thuyết Mác Lê lạc hậu lỗi thời nhưng mặt khác tự diễn biến hòa bình để kéo dài
sự sống. Trong dịp mừng sinh nhật Hồ Chí Minh 2010, Lê Hùng Nghĩa, trong phát
biểu tại Học Viện Ngoại Giao, nhắc lại ngay từ năm 1946, trong đơn thỉnh nguyện
Liên Hiệp Quốc ủng hộ Việt Nam vừa độc lập, ông Hồ đã viết “Việt Nam thu xếp
các điều kiện ưu đãi đối với các nguồn đầu tư tư bản từ các nước”. Hồ Chí Minh,
từ một “người Cộng sản quốc tế kiên cường” được diễn biến hòa bình sang một
“nhà tư tưởng dân tộc” và hôm nay tiếp tục được diễn biến thành một nhà chủ
trương tư bản hóa Việt Nam. Những năm tới sẽ là gì nữa?
Dù đã tìm mọi cách để bảo vệ “độc lập tự chủ của chế độ” như
Nguyễn Dy Niên nói, hơn ai hết giới lãnh đạo Đảng biết không thể nào ngăn chận
được bước chân của người khổng lồ cách mạng dân chủ đang sừng sững tới. Đến
nhanh hay chậm, đến trong bối cảnh đầy máu mủ hay êm đẹp tùy thuộc vào điều kiện
chính trị, lịch sử của mỗi quốc gia nhưng tự do dân chủ là tiến trình không thể
nào lui. Bởi vì, diễn biến hòa bình không phải là ”chiến lược của chủ nghĩa đế
quốc và các thế lực phản động quốc tế” hay “phương thức, thủ đoạn mới để chống
phá, đẫy lùi và đi đến xoá bỏ chủ nghĩa xã hội”, nhưng là một bước phát triển
có tính quy luật của văn minh nhân loại. Tiến trình dân chủ hóa đã diễn ra tại
Liên Sô, Đông Âu, các quốc gia độc tài Bắc Phi, và sẽ đến Việt Nam.
Dòng tiến hóa của con người là một dòng sông không ngừng chảy.
Từ giai đoạn sơ khai trên thượng nguồn Hy Lạp xa xôi, con người đang bước một
sang giai đoạn thật sự làm chủ lấy mình. Các chế độ phong kiến hà khắc đã chìm
sâu trong quá khứ, các chủ thuyết phi nhân đang bị xóa bỏ, các chế độ độc tài sắt
máu lần lượt ra đi. Theo tổ chức Freedom House, hiện nay có 117 trong số 191 quốc
gia trên thế giới sống trong chế độ dân chủ, tuy mức độ còn ít nhiều khác nhau.
Có quốc gia không may mắn phải đổ nhiều xương máu nhưng cũng có quốc gia may mắn,
cách mạng đã diễn ra trong hòa bình. Cách mạng dân chủ tại Nam Phi 1994 và Nam
Dương 1998 là hai bài học đáng lưu ý.
Năm 1974, lãnh tụ đảng Đoàn Kết Nam Phi Harry Schwarz và
lãnh tụ da đen Mangosuthu Buthelezi cùng chia sẻ một nhận thức rằng chế độ phân
biệt chủng tộc Nam Phi phải chấm dứt và việc giải thể chế độ phân biệt chủng tộc
tại Nam Phi là bước cần thiết đầu tiên để hòa giải quốc gia và xây dựng chế độ
dân chủ Nam Phi. Hai nhà chính trị sáng suốt này đã ký kết một văn kiện lịch sử
được gọi là Mahlabatini Declaration of Faith tại Mahlabatini, KwaZulu-Natal
ngày 4 tháng Giêng 1974. Nội dung chính của văn kiện kêu gọi nhân dân Nam Phi
thuộc mọi màu da, bộ lạc, đảng phái phải ngồi lại tìm một hướng đi tốt đẹp lâu
dài cho đất nước, cùng soạn thảo một hiến pháp nhấn mạnh đến việc tôn trọng các
quyền tự do căn bản của con người, nhưng quan trọng nhất văn kiện nhấn mạnh rằng
các mục tiêu nêu trên phải diễn ra trong hòa bình. Sau giai đoạn hai mươi năm đầy
khó khăn, thử thách cho đất nước và cho cả hai lãnh tụ, cuối cùng 1994, nhân
dân Nam Phi đã thực hiện cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên.
Tại Nam Dương, sau 32 năm độc tài tướng Suharto đã buộc phải
từ chức 1998. Nam Dương cần sáu năm và ba lần bầu cử để từng bước ổn định quốc
gia. Theo giáo sư Ik rarnua Bhaki, tác giả của nghiên cứu “Chuyển tiếp đến dân
chủ tại Nam Dương: Những vấn đề còn tồn đọng” (The transition to democracy in
Indonesia: some outstanding problems) trong thời gian năm năm sau khi Suharto bị
hạ bệ, Indonesia có ba tổng thống B.J. Habibie, Abdurrahman Wahid, and Megawati
Sukarnoputri, nhưng tất cả số đó đã được bầu lên hợp với các nguyên tắc dân chủ.
Đại đa số dân chúng được hưởng các quyền tự do phát biểu, tự do thông tin, các
quyền kiểm soát lẫn nhau giữa hành pháp và lập pháp được tôn trọng, và phi
chính trị hóa các lực lượng võ trang. Mặc dù tiến trình dân chủ tại Nam Dương
khó khăn hơn các quốc gia khác bởi vì không chỉ đương đầu với tàn dư của cơ chế
độc tài mà còn phải vượt qua các trở lực cực đoan tôn giáo, các sinh hoạt dân
chủ tại Nam Dương đã được cải thiện rất nhiều. Theo giáo sư Larry Diamond, đại
học Stanford, trong một thống kê, trong mức thang từ 1 đến 10, với 1 tệ hại nhất
và 10 là dân chủ nhất, những người dân Nam Dương tham dự thống kê đã trả lời 7,
tức một mức độ dân chủ đáng ca ngợi.
Giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam tiếp tục kết án “diễn
biến hòa bình” nhưng họ quên rằng sự hiểu biết của người là nguồn thúc
đẩy cho các thay đổi xã hội. Thời kỳ tẩy não con người bằng các lý thuyết Mác
Lê đã không còn tác dụng. Nếu trước đây sự ngu dốt là bạn đường của chủ nghĩa Cộng
sản thì ngày nay trình độ dân trí cao là kẻ thù không đội trời chung.
Tác giả Archie Brown, giáo sư chính trị học đại học Oxford,
Anh quốc, trong tác phẩm Sự vươn lên và sụp đổ của chủ nghĩa Cộng sản (The
Rise And Fall Of Communism) phát hành lần đầu 2009 đã nêu ra 8 lý do khiến chủ
nghĩa Cộng sản sụp đổ, trong đó lý do hàng đầu không phải là kinh tế hay quân sự
mà là sự thay đổi xã hội (Social Change). Theo giáo sư Archie Brown, năm 1939 tại
Nga chỉ 11 phần trăm dân số học xong bậc tiểu học nhưng đến 1984 tỉ lệ đó đã
tăng đến 87 phần trăm. Năm 1954 chỉ có 1 phần trăm dân số Liên Sô tốt nghiệp đại
học nhưng đến 1984, tỉ lệ đó đã tăng gấp 7 lần. Trình độ giáo dục giúp cho người
dân không những có khuynh hướng muốn tìm hiểu những gì khác hơn mà còn có ý
nghi ngờ và từ chối các kiến thức họ được chế độ trang bị. Sự chuyển hóa tri thức
là một tiến trình không thể bị ngăn chận bởi bất cứ một cơ chế độc tài nào.
Tương tự tại Việt Nam, cách đây 50 năm tại miền Bắc, nhiều
người thật sự tin rằng đảng Cộng sản và dân tộc Việt Nam như nước với sữa, như
máu với thịt, hay như Hồ Chí Minh nói “đảng là con nòi của dân tộc”. Cách đây
36 năm không ít người đã bừng tỉnh và nhận ra rằng chỉ vì mục đích Cộng sản hóa
Việt Nam, đảng đã phản bội dân tộc, lợi dụng máu xương của những người ngã xuống
vì khát vọng hòa bình, vì mơ ước đoàn viên, vì cơm no áo ấm. Và hôm nay, đông đảo
nhân dân đã hiểu rõ cơ chế độc tài là trở lực duy nhất trên con đường dẫn đến một
Việt Nam tự do, dân chủ, văn minh. Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ toàn diện và
triệt để tại Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian.
Một sai lầm quen thuộc của các nhà độc tài là đánh giá thấp
phản ứng của nhân dân và nghĩ rằng họ có thể duy trì bộ máy cai trị bằng bạo lực
mà không cần thay đổi. Từ nhiều năm nay, Đảng Cộng Sản Việt Nam dựa vào tầng lớp
bồi bút để binh vực phần lý luận, dựa bộ máy quân đội, công an để trấn áp đồng
bào. Thế nhưng, đảng Cộng sản Liên Sô từng có cả một viện hàn lâm chuyên tập
trung nghiên cứu lý luận Cộng Sản, Đông Đức có những binh đoàn được trang bị vũ
khí hiện đại hơn quân đội Cộng Sản Việt Nam và Cơ quan Bảo vệ Nhà nước (The
State Protection Authority) trực thuộc Trung ương đảng Cộng sản Hungary còn tinh
vi hơn cả các cơ quan an ninh Việt Nam, và tất cả đều không cứu được đảng.
Bộ máy tuyên truyền của đảng luôn nhấn mạnh “Công an và Quân
đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng” nhưng như cựu Thiếu tướng Nguyễn Trọng
Vĩnh phát biểu “Tôi đã từng nói: con giun xéo lắm phải quằn. Càng đàn
áp thì phẫn nộ càng tăng và càng lan rộng. Có thể đến một lúc là không kiểm
soát được”. Thật vậy, ngoài một số rất nhỏ cam phận cầm cờ khiêng kiệu,
đại đa số những người lính, những công an Việt Nam vẫn là những thanh niên mang
trong người dòng máu Việt Nam. Hầu hết sinh ra sau cuộc chiến, lớn lên trong cảnh
đói nghèo, có nước mắt để khóc cho những đồng bào bị hải quân Trung Cộng bắn thủng
ngực, có trái tim để biết hờn căm khi nhìn những hải đảo nhuộm bằng máu của ông
cha nằm đang trong tay giặc, có niềm tự hào dân tộc để biết đứng lên bảo vệ chủ
quyền lãnh thổ, có lòng tự trọng để biết tủi nhục khi phải đứng canh giấc ngủ
cho các ủy viên trung ương bên ngoài những biệt thự cao sang xây bằng xương máu
nhân dân.
Tương lai nào cho dân tộc Việt Nam
Các cuộc biểu tình chống Trung Cộng vừa qua, tuy vẫn còn giới
hạn nhưng đã có sự tham dự của nhiều thành phần dân tộc. Họ khác nhau về quá khứ
nhưng rõ ràng đang hướng đến một tương lai. Đó là tương lai tự do dân chủ cho
dân tộc Việt Nam. Không có con đường nào khác. Không có chọn lựa nào khác. Tự
do dân chủ là vũ khí để đánh bại âm mưu bành trướng của Trung Cộng, là cánh cửa
mở ra chân trời thịnh vượng cho nhiều thế hệ Việt Nam tương lai. Dân chủ không
phải là một khái niệm tây phương, là sản phẩm của “diễn biến hòa bình”, một
“âm mưu đế quốc” mà là quyền của con người được sống, được tự do đi lại, tự do
phát biểu, được quyền bầu cử người đại diện cho mình trong các cơ quan nhà nước.
Giá trị của một con người được thẩm định không phải ở chỗ
người đó bị té ngã nhưng ở chỗ người đó biết đứng lên và đi tới. Dân tộc Việt
Nam cũng thế, sau nhiều lần bị té ngã đang cố gắng đứng lên và đi tới cùng nhân
loại. Không bằng những nhát búa của thanh niên Đông Đức khi đập vỡ bức tường Bá
Linh hay những chiếc kềm của thanh niên Hungary khi cắt đứt hàng rào biên giới
Áo Hung, nhưng bằng những giọt nước kiên trì của các thế hệ Việt Nam yêu nước,
thành trì độc tài Cộng Sản sẽ bị xói mòn và tan vỡ.
Trần Trung Đạo
Tham khảo
Từ điển Bách khoa, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt
Nam, 2005.
Archie Brown, The raise and fall of communism, HarperCollins
Publishers, 2009
China Heritage Quarterly, The Australian National
University, No. 18, June 2009
Hoàng Tùng, Những kỉ niệm về Bác Hồ, DienDan.org
New Evidence on the Cold War in Asia, Cold War
International History Project Bullentin, issue 12/13, Wilson Center
Susab L. Shirk, China Fragil Superpower, Oxford
University Press, 2007
Mao Trạch Đông, Đế quốc Mỹ, kẻ thù hung bạo nhất của loài người, tuyển tập
các bài viết của Mao trong Marxists.org.
The Cambodia genocide Propject, 1994-2011, Yale Uninversity
U.S.-Vietnam Relations in 2011: Current Issues and
Implications for U.S. Policy, Mark E. Manyin Specialist in Asian Affairs,
Congressional Research Service 2010
Nikita S. Khrushchev, Speech to 20th Congress of the C.P.S.U. Marxists.org
Vietnam celebrates a less Marxist Ho on birthday M&G
News.
Khmer Rouge ‘Brother Number Two’ defends regime that killed two
million, Telegraph, 08 December 2011.
Phạm Đỗ Chí & Phạm Quang Diệu, Kinh Tế Việt NamTừ
Đổi Mới Đến Hội Nhập
Bình luận nước ngoài về Trần Xuân Bách, Giáo Sư Carl Thayer
trả lời phỏng vấn BBC
