Nhà văn Khổng Trung Linh (1957-2020)
Kính dâng hương hồn Bố và những người Việt Nam yêu nước!
Quê nội tội thuộc làng Nam Am. Tuy không phải là vùng đất
phát quan như các làng khác, nhưng ông tôi thuộc hạng thông minh, chăm chỉ, nên
trở thành học sinh xuất sắc và sau này trở nên trưởng tràng và là con rể của một
cụ khóa về quê mở trường dậy học (thầy khóa, trước kỳ thi Hương tối thiểu là ba
tháng phải tổ chức kỳ khảo khóa để sơ tuyển những người đủ tư cách và trình độ
đi thi. Sau đó, lập danh sách trình lên trên để chuẩn bị kỳ thi Hương. Người
nào qua được kỳ khảo khóa này được gọi là thầy khóa). Cụ khóa người làng Cổ Am,
họ Đào. Một giòng họ nổi tiếng phát về hoạn lộ. Theo lời bà nội tôi kể lại: cụ
khóa đi bộ từ huyện về làng, vừa đi vừa đọc sách, về đến đầu làng thì cụ đã thuộc
lòng hết cả quyển sách! Cụ khóa thi không đỗ vì bài cụ viết quá thâm sâu, quan
chánh chủ khảo đọc không hiểu nên đánh rớt. Tuy nhiên, các học trò sau này của
cụ đều đỗ đạt và chấp chánh trong triều đình.
Sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại. Đảng trưởng Nguyễn
Thái Học và một số đồng chí bị bắt ở Hải Dương đem về Yên Bái xử tử. Sau
đó, Eugene René Robin, Thống sứ Bắc kỳ còn ra lệnh ném bom triệt hạ làng Cổ Am,
huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương và những vùng lân cận vì có tin là nghĩa quân về
ẩn náu ở những nơi đó. Những cuộc oanh kích này khai quật mồ mả tổ tiên người
dân tỉnh Hải Dương. Ông tôi uất hận, chiều chiều cho xe kéo chạy khắp phố Tây
dùng tiếng Pháp chửi họ thậm tệ vì hành vi man rợ này. Những người lính sen đầm
(gendarmes) biết tiếng “Monsieur Khổng Trung Lục” nên làm ngơ, để cụ thản nhiên
chửi Tây cho hả giận. Cũng vì lý do trên, từ đó ông tôi thường trầm tư ngồi uống
rượu một mình.
Bố tôi kể rằng ông tôi thích rượu Làng Vân. Rượu được nấu bằng
gạo nếp cái hoa vàng thơm ngon trồng trên cánh đồng làng Vân Xá, xã Vân Hà,Việt
Yên, Bắc Giang với men rượu bí truyền của làng. Ông tôi không uống nhiều. Chỉ một
xị rượu nhỏ và khoanh giò, ông ngồi như thế trên một bục đá sau nhà, đến hết cả
một cuối tuần. Lâu lâu, ông nhấp một ngụm rượu rồi thở dài. Những khi hết rượu,
ông lại gọi các con đi mua về một xị, bất kể nắng mưa hay đêm khuya gió bão. Bố
tôi và bác tôi, hai anh em sợ ma nên hay rủ nhau giả lái xe gắn máy có còi hụ
chạy hết quãng đường làng tối nghịt mua rượu cho thầy.
Ông tôi mất khi chưa đầy 50 tuổi. Nỗi đau mất nước gặm nhấm
tâm hồn người.
Hôm tiễn đưa, bạn thiết chỉ có vài người. Sau đó, bà nội tôi
nhận được thơ từ văn phòng ông tôi, lên thu dọn đồ đạc. Lúc mở két ra thấy vỏn
vẹn vài đồng tiền Đông Dương. Cả đời ông tôi làm lụng vừa đủ trả nợ cho cậu và
nuôi các em họ!
Những khi kể về ông tôi, bố tôi hay nhắc về những kỷ niệm
thuở thiếu thời với cha mình. Với ông, thầy là một người cha nghiêm nghị, cổ
kính, kính trời, trọng đất, ít bộc lộ tình cảm nhưng xử thế hết sức công minh.
Ông dạy con: “Các con đừng gọi ai bằng con, bằng thằng, hay
nó, nếu không thích thì gọi là họ hay người ta.”
Có lần sau cơn mưa lớn, mấy cha con đi coi vườn tược, ao hồ,
ông thấy trong ao nhà có giống cá lạ, ông nói: “Thầy không nuôi loại cá này,
hôm nay lại có, như vậy chúng nó theo nước mưa từ ao hàng xóm sang!” Ông cho
người mua mấy gánh cá cùng loại đổ trả vào ao hàng xóm.
Thời đó, các quan chức trong làng thường mặc áo thụng và đội
khăn đóng. Ông tôi đội khăn quấn trắng trên đầu và mặc áo vải the đi làm. Mỗi
sáng thức dậy, ông sai bố tôi cầm một đầu khăn đứng cuối nhà, cứ thế ông gấp
làm mấy lượt, đoạn dùng tay miết khăn thành nếp rồi chít lên đầu. Sau này lớn
lên bố tôi mới hiểu rằng ông cả đời chịu tang mẹ.
Ông tôi phụ trách lương bổng cho nhân viên, cả quan chức Tây
lẫn Việt toàn vùng duyên hải Bắc Việt. Mỗi khi tính toán sổ sách, ông cầm bút
lướt từ trên xuống dưới, tính nhẩm trong đầu, cộng trừ nhân chia, không bao giờ
sai một xu.
Mỗi khi ông đi làm hay đi đâu về đến đất làng, ông cởi giầy
ra kẹp vào nách rồi đi chân trần cho tới lúc về đến đầu ngõ. Khi về đến cổng
nhà, ông cất giọng tằng hắng thật lớn. Bà nội tôi nghe tiếng ông về, kéo mấy bà
bạn xuống nhà ngang tiếp tục câu chuyện dở dang bên mấy miếng trầu, để lại khoảng
không gian tĩnh mịch cho chồng.
Trên nóc bếp, bố tôi kể rằng huân chương của người Pháp trao
tặng treo lủng lẳng bám đầy bồ hóng. Mấy huy chương có cờ tam tài, ông cắt chia
cho mấy anh em chơi. Đâu đó lại có vài đôi giầy Gia Định treo lủng lẳng. Không
biết ai cho riêng sắc chỉ vua ban thì được trang trọng trưng bày ở tổ đình đầu
làng. Theo bố tôi kể thì tước của ông tôi là Hồng Lô Tự Thiếu Khanh. Sau này
khôn lớn, tra cứu phẩm trật nhà Nguyễn, chúng tôi mới biết tước của ông tôi
tương đương với quan ngũ phẩm trong triều đình.
Tưởng cũng cần nói thêm: sau các Hòa ước Harmant và
Patenôtre, nhà Nguyễn chỉ còn cai quản Trung Kỳ với chế độ bảo hộ, không có
quân đội, không tài chính, không ngoại giao. Vua nhà Nguyễn chỉ lo việc cúng tế,
nhóm họp dưới quyền chỉ huy của Khâm sứ người Pháp, không mang triều phục. Về
hình thức, bộ máy triều đình Huế không thay đổi (vẫn có vua, Cơ mật viện, các
Thượng thư…) nhưng về bản chất đã hoàn toàn thay đổi. Họ chỉ là triều đình trên
danh nghĩa nhưng không có quyền hành và chỉ là những viên chức phục vụ.
Ông tôi theo đạo Công giáo. Một lần vô tình đi dự nhằm Thánh
Lễ của người Pháp, ông bị ông từ Tây đuổi ra khỏi nhà thờ. Uất nhục, từ đó ông
bỏ Lễ, thề cho đến chết không hề đặt chân đến khuôn viên Thánh Đường. Lo cho phần
rỗi của cha mình, bác tôi nguyện sống cuộc đời tu trì để cầu nguyện, hãm mình
chỉ cho thầy hầu ông cụ được ơn trở lại. Vì thế từ Hải Dương, bác tôi lặn lội
vào Hà Nội, xin gia nhập tu viện Chúa Cứu Thế, một dòng có tiếng về truyền
giáo. Phần lớn linh mục xuất thân từ dòng này đếu nổi tiếng về tài hùng biện và
thông thái. Có vị còn được xưng tụng là “thần khẩu” như linh mục Nguyễn Văn
Vàng.
Theo lời bà tôi kể lại: sau này ông tôi trở lại đạo và sống
thuần thành cho đến cuối đời.
Khi cha bề trên được tin ông tôi mất, ngài cho gọi bác tôi
vào và khuyên nhủ: “Nay bố con đã mất, con nên về để lo cho mẹ và các em.” Bác
tôi vâng lệnh bề trên từ giã cuộc đời tu hành trở về cuộc sống trần tục để chu
toàn bổn phận và trách nhiệm của người anh cả trong gia đình.
Sau này, khi ra chấp chính dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, bác
tôi nổi tiếng về tài ăn nói và bình định. Ông về đến đâu, hết lòng lo cho dân
chúng sở tại, nên nhân dân rất thương mến. Có lần, khi ông thuyên chuyển đi nhiệm
sở mới, cư dân quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đến tiễn ông và nhiều người đã
không cầm được nước mắt.
Tôi nhớ khi còn nhỏ, lâu lâu chúng tôi được cho đi xem chiếu
bóng. Trước khi vào phim chính, thường hay có hát quốc ca, chào quốc kỳ và suy
tôn Ngô Tổng Thống. Đôi khi trong phần tin tức, chúng tôi thấy hình ảnh ông
trong những đoạn phim thời sự. Cả đám con nít chẳng hiểu tí gì về thời sự, chỉ
biết chỉ vào màn ảnh miệng la chí chóe: “Bác Lộ kìa!” hay “Bố kìa!” Mấy khán giả
ngồi bên cạnh cũng phải phì cười.
Tháng Tư năm 1975, miền Nam Việt Nam bị cưỡng chiếm. Bác tôi
ở lại. Một năm sau, vụ án nhà thờ Vinh Sơn (đường Trần Quốc Toản Sài Gòn) bùng
nổ. Bạo quyền cộng sản Việt Nam coi đây là một vụ án nổi loạn chống lại chính
quyền. Vì có nội tuyến, bác tôi bị nhà cầm quyền vây hãm và bắt giam, tuyên án
tử hình và rồi sau đó vội vã mang ra sân bắn Thủ Đức hành quyết cùng với Đại Đức
Võ Văn Nhì, mặc dù thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận được thơ riêng xin ân
xá. Hội Ân Xá Quốc Tế và Đức Giáo Hoàng Phaolồ VI cũng đã chính thức can
thiệp. Theo lời kể lại, vị Đại Đức này đã tìm hiểu về giáo lý Công Giáo trong
thời gian trong tù, và vài ngày trước khi ra pháp trường, ông đã nhận phép rửa
tội qua tay bác tôi, tử tù Khổng Trung Lộ, bí danh: Hoàng Thiên Phước, cựu quận
trưởng, cựu giám đốc Thông Tin, cựu dân biểu, Thiếu Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 308.
Sư đoàn có nhiệm vụ đánh úp thành phố Hồ Chí Minh để lật đổ chính quyền cách mạng.
Mấy năm sau, người nhà mới tìm ra chỗ chôn xác hai người. Bác gái tôi xin phép
cải táng và mang nắm tro tàn của ông qua Hoa Kỳ để con cái được gần gũi, khói
nhang.
Là con trai út trong gia đình, bố tôi được thừa hưởng cả hai
nền học vấn Nho và Tây học. Sau khi ông Nguyễn Mạnh Hà đỗ tiến sĩ Luật bên Pháp
năm 21 tuổi, ông gởi thơ về thăm các Frères ở Hà nội. Trong thơ ông hứa sẽ bồi
hoàn mọi phí tổn ăn học cho người nào đỗ tiến sĩ cùng tuổi hoặc nhỏ hơn ông.
Các Frères bảo nhau: “Chỉ có Dominic Lưu!”
Ngày 19 tháng 12 năm 1946, chiến tranh Đông Dương bùng nổ.
Đường học vấn của bố tôi cũng như các thanh niên thiếu nữ thời bấy giờ bị gián
đoạn. Ông và một số bạn học bỏ vào Huế theo học lớp sĩ quan ở trường Đập Đá do
ông Phan Văn Giáo, đương kim Tổng Trấn Trung Phần, thành lập. Sau khi tốt nghiệp,
ông về binh chủng Truyền Tin. Làm việc ở Pleiku dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá
Hải với chức vụ sĩ quan Truyền Tin tiểu đoàn 9 Sơn Cước.
Thời gian này, người Pháp chuẩn bị bàn giao Quân Đội lại cho
người Việt Nam. Trong những kỳ tập trận, họ cố tình bắt bẻ, làm khó dễ sĩ quan
Việt Nam mới ra trường. Trên trực thăng thì sĩ quan Pháp ra lệnh bằng tiếng
Pháp, lệnh hành quân cũng bằng tiếng Pháp, văn thơ thảo bằng tiếng Pháp, và
công điện cũng được trao đổi bằng tiếng Pháp. Thế nhưng, mười lần như một, các
tiểu đoàn Truyền Tin Việt Nam lúc nào cũng đứng đầu!
Bố tôi kể, ngày đầu về Pleiku nhận nhiệm sở mới. Người Pháp
kê ba bàn làm việc ngang nhau, và để ông ngồi giữa hai người lính Lê dương
(Légionnaires). Hai người này vốn là sĩ quan Đức Quốc Xã ngày xưa, sau thế chiến
thứ hai được trưng dụng bởi đoàn quân Légionnaires, và sang Việt Nam phục vụ.
Lê dương Pháp (Légion étrangère) là một đội quân tinh nhuệ của Lục quân Pháp.
Được thành lập năm 1831, đây là đơn vị đặc biệt của quân đội Pháp vì các binh
sĩ thuộc những người nước ngoài tình nguyện chiến đấu cho nước Pháp và hoàn
toàn chịu sự chỉ huy của sĩ quan Pháp.
Hai người lính này lên mặt trịch thượng và ra vẻ bất hợp
tác. Bố tôi thấy thế liền đập bàn và nói: “Trong quân đội, người ngồi giữa chỉ
huy.” Hai viên sĩ quan này chưa hiểu hết ý, ông quát: “Ai đặt tôi ngồi giữa?” Từ
đó, hai ông lính Lê Dương ríu ríu tuân theo lệnh người sĩ quan chỉ huy Việt
Nam. Khi nào cần thảo văn thơ, ông giao cho họ đánh máy. Khổ nỗi những ông sĩ
quan gốc Đức này không giỏi tiếng Pháp bằng viên sĩ quan Việt Nam mới ra trường,
nên lại phải gãi đầu, gãi tai nhờ bố tôi sửa chữa vừa lỗi chính tả, vừa lỗi văn
phạm. Từ đó, họ vừa mến vừa cảm phục!
Ông được Thiếu Tá Hải, một trong những sĩ quan Việt Nam đầu
tiên ngành Truyền Tin hết lòng thương mến. Một hôm, sau buổi thuyết trình về
tình hình chiến khu, Thiếu tá Hải gọi ông đến và trước mặt quân nhân các cấp, ông
trao lon Trung Úy cho bố tôi với lời nhắn nhủ: “Moa thăng cấp cho Lưu để còn
làm việc với tụi nó!” Nó đây ông muốn ám chỉ cấp chỉ huy người Pháp lúc bấy giờ.
Hình như vì lòng thương mến này và tính bất khuất của cả hai người, sau này Thiếu
Tá Hải bị thuyên chuyển. Riêng phần bố tôi, một lần bị áp bức, ông khích động
anh em quân nhân Việt Nam cạo trọc đầu, xuống đường để phản kháng. Sau vụ “nổi
loạn” này, bên Pháp có hai sĩ quan bị cách chức. Bên Việt Nam, cũng có hai sĩ
quan bị giáng cấp. Hồ sơ quân ngũ của ông bị cấp chỉ huy Pháp phê: “Sĩ quan văn
võ song toàn, nhưng có óc nổi loạn!’Tuy nhiên, cấp chỉ huy Việt Nam vẫn căn cứ
vào lời phê của người Pháp, chứ không duyệt xét lại. Vì lời phê này, ông mang cấp
bậc Trung Úy đến tám năm trong khi các bạn cùng khóa đều được thăng cấp Tá hoặc
Tướng.
Hồi đó, vị Tổng Tham Mưu trưởng được chỉ định là một vị tướng
lãnh trong quân đội Pháp biệt phái sang Quân Đội Việt nam Cộng Hòa, vì vậy vị
Chỉ huy trưởng Viễn Thông cũng là một sĩ quan cao cấp trong quân đội viễn
chinh Pháp tại Ðông Dương. Các vị chỉ huy trưởng trực thuộc cũng như các đơn vị
trưởng đều là người Pháp. Đa số sĩ quan Truyền tin VN được đào tạo trong nước,
ngoại trừ một số nhỏ được chọn lọc gởi đi học tại trường Truyền Tin Montargis.
Mãi cho đến khi người Pháp rút khỏi Ðông Dương và trao trả trọn vẹn chủ quyền lại
cho VN, nền Ðệ Nhất Cộng Hòa được thành lập và canh tân lại Quân Ðội Việt Nam,
binh chủng Truyền Tin mới thật sự do người VN chỉ huy. Từ đó hầu hết các sĩ
quan Truyền Tin được gởi đi Hoa Kỳ tu nghiệp để làm nồng cốt cho việc tổ chức lại
hệ thống Truyền Tin theo Quân Đội Hoa Kỳ.
Sau một cuộc đụng trận ở đèo An Khê, là một ngọn đèo nằm
trên đường từ Quy Nhơn (Bình Định) đi Pleiku (Gia Lai). Bố tôi bị thương nặng,
ông được đưa về Nha Trang dưỡng bệnh. Chiều chiều, từ trong khuôn viên dưỡng đường,
ông ngồi nhìn ra bờ Thái Bình Dương làm thơ, viết văn cho khuây khỏa. Cũng tại
nơi này, qua một áng văn, ông đã chứng minh rằng có Thượng Đế! Bài viết này đến
tay linh mục Giuse Đinh Cao Thuấn, Giám đốc Nha Tuyên Úy Công Giáo Quân Đội
VNCH lúc bấy giờ. Ngài đọc xong, liền liên lạc với bộ Tổng Tham Mưu, xin bố tôi
về làm chủ bút Bán Nguyệt San Tinh Thần, một tờ báo dành riêng cho các quân
nhân Công Giáo.
Chính trong thời gian này, bố tôi được dịp tìm hiểu thêm về
tình hình chính trị, quân sự nước nhà. Ông thật sự bất mãn trước những bất công
xã hội, và ước nguyện làm hết khả năng mình để thay đổi bộ mặt xã hội thời bấy
giờ.
Khi ra tranh cử Dân Biểu ở đơn vị Gia Định năm 1967, là sĩ
quan Công giáo, ông đến trình diện một cha chính xứ. Linh mục này đặt ngay câu
hỏi: “Ông A hứa cho nhà xứ mấy trăm bao xi măng, ông B hứa trùng tu khuôn viên
thánh đường, còn ông Đại úy hứa cho nhà xứ cái gì?” Bố tôi thẳng thắn trả lời:
“Thưa cha, vì là sĩ quan Công giáo nên con đến trình diện cha chứ con không đến
xin phiếu. Nếu cha thấy con xứng đáng thì cha ủng hộ con, còn không cha ủng hộ
người khác.” Đoạn ông kiếu từ linh mục chánh xứ và ra về. Lần đó ông dẫn đầu tỉnh
Gia Định, một phần nhờ anh em quân nhân hết lòng ủng hộ, nhưng có lẽ vì văn thơ
nói lên tinh thần yêu nước của bố tôi được Đức Giáo Hoàng Phaolồ VI ban khen
qua Đức Khâm Sứ tòa thánh Angelo Palmas tại Sàigòn. Tôi còn nhớ trên bích
chương tranh cử ông đã tâm tình với cử tri như sau: “Dân tộc này phải được mọi
người kính nể, kẻ thù cũng như đồng minh. Phải chiến thắng cộng sản, đồng thời
cũng phải chế ngự những hành động ngạo mạn của những người bạn đồng minh kiêu
hãnh, đôi khi mù quáng đến độ sa lầy không lối thoát!”
Trong những năm làm việc với chức vụ dân cử trong Hạ Nghị Viện,
ông được anh chị em đồng viện quý mến và gọi ông là “linh hồn” của khối Độc Lập.
Dân Biểu Nguyễn Trọng Nho, một sĩ quan QLVNCH trước khi làm dân biểu Hạ Viện và
thẩm phán Tối Cao Pháp Viện đặc trách về Hiến Pháp tại miền Nam Việt Nam trong
ngày cuối nhiệm kỳ đã đến bắt tay bố tôi và nói: “Trong bốn năm, tôi chỉ phục
mình anh vì những gì anh nói đều từ tâm anh nói ra.”
Ông thường tâm sự với tôi: “Khi mình ở trên cao, mọi việc đều
thấy rõ và nhìn vấn đề sáng lắm.” Từ chỗ “sáng” này, trong bốn năm ở Quốc Hội,
ông đặt lại tất cả vấn đề, từ thương phế binh tới quả phụ, tử sĩ, từ quân dịch
đến cảnh sát.
Khi nói đến vấn đề quân dịch, ông đã thẳng thẳn trình bày với
Thiếu Tướng Đoàn Văn Quảng, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung:
“Thưa Trung Tướng, người tân binh không sợ quân dịch, nhưng họ sợ ngưỡng cửa
Quân Trường. Họ bỏ tiền ra mua gói xôi, nhưng khi đưa lên miệng họ không nuốt
được vì nó đã chua rồi!” Cũng trong một phiên họp Lưỡng Viện, ông đặt vấn đề hối
lộ với Đại Tá Trần Văn Hai, Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia: “Thưa Chuẩn Tướng,
mất nuớc hay không là do Cảnh Sát.”
Đại Tá Trần Văn Hai thất sắc nói: “Ông Dân Biểu có quá lời?”
Bố tôi dẫn chứng:
“Vì không dùng công xa nên tôi có dịp đi lại bằng những
phương tiện công cộng. Một chuyến xe đò vào thành phố, trên chất đầy hành khách
và hàng hóa, nhưng khi đến gần trạm kiểm soát, người lơ xe bắt tay nhân viên
công lực và xe chạy luôn không ngừng. Một chiếc xe lam, trên phủ đầy rau cải và
hành khách, cũng vậy, đến gần trạm kiểm soát cũng một cái bắt tay và xe chạy
luôn không ngừng. Những cái bắt tay quen thuộc này đã tiếp tay đưa vào thành phố
không biết bao nhiêu đồ quốc cấm, chưa kể đạn dược, vũ khí làm lợi cho phía bên
kia!”
Vì nổi tiếng thanh liêm, một lần kia ông được đặc cử qua
Giám Sát Viện một thời gian để thanh tra. Chiều hôm trước đó, ông đi bộ thẩn
thơ trước cổng cơ quan này. Một nhân viên an ninh thấy ông tần ngần trước trạm
kiểm soát lớn tiếng hỏi: “Này anh kia! Đứng đây làm gì? Không đi chỗ khác chơi
tôi bắt bỏ bót bây giờ.” Ông móc thẻ Quốc Hội và từ tốn giải thích là ông sắp về
thanh tra ngày mai nên hôm nay đến để coi sơ chỗ làm việc. Khi nghe đến đây,
viên cảnh sát thiếu điều quỳ sụp xuống lạy như tế sao: “Thưa ông, ông tha cho
vì con không biết ông.” Bố tôi trấn an, cám ơn và bỏ đi. Một tuần sau bố tôi từ
nhiệm!
***
Tôi lớn lên với những mẫu chuyện vui buồn như thế.
Tôi lớn lên, thương cảm cho những chiến binh sau những cuộc
hành quân khốc liệt, uống say mướt trong những giờ nghỉ phép để rồi ngày mai lại
vội vã hành trang lên đường, tung thân vào những cuộc chém giết phi lý, tương
tàn. Mắt ưá lệ khi thấy cha mình mỗi lần chén thù, chén tạc với những người
lính chiến, tủi hận cho một đất nước điêu linh, trầm thống.
Tôi lớn lên và được chia sẻ để thấy được những mảnh đời trái
ngang; được chứng kiến cảnh những bà mẹ già khăn áo lặn lội từ Trung vào Nam, nằm
ngồi la liệt ở khuôn viên nha Hưu Bổng Sàigòn để chờ lãnh được món tiền tử những
người con thân yêu để lại; thấy được những cảnh đời éo le trong một đất nước
chiến tranh, bất hạnh, và nghèo khó; thấy những người quả phụ bế trên tay đứa
bé còn đỏ hõn chẳng một lời than trách khi định mệnh khắc nghiệt đã lấy đi niềm
hạnh phúc nhỏ nhoi nhất trên đời.
Tôi lớn lên và được chia sẻ để thấy được những bất công,
chênh lệch của xã hội thời bấy giờ. Thấy những thánh đường nguy nga, tráng lệ,
những chùa chiền, lăng tẩm huy hoàng để “nhốt” Chúa, Phật vào đó mà bên cạnh là
những căn nhà mái lá, lợp tôn nằm bên những con đường sình lầy tanh nồng cống
rãnh.
Để thấy được những sân quần vợt, những câu lạc bộ, hồ bơi
sang trọng bên cạnh những quán cơm bình dân, cà phê vỉa hè. Thấy những buổi dạ
tiệc trên sân thượng của những khách sạn Catinat, Caravelle mà những phần ăn tối
của thực khách nhiều khi còn hơn mấy tháng lương của một người lính tác chiến.
Thấy những bến xe đi về Lục Tỉnh tràn ngập rác rưởi bên cạnh
những khu bán phấn, buôn hương.
Thấy phi trường Tân Sơn Nhất từ trên không nhìn xuống chỉ bằng
những “hangar” xứ người.
Thấy những “đám đông thầm lặng”, coi việc nước non là trách
nhiệm của người khác, phó mặc cho ngoại nhân những quyết định ảnh hưởng đến vận
mạng của cả một dân tộc.
Năm 1970, với tư cách là một thường dân, bố tôi sáng lập Tổ
Chức Một Đồng Giúp Người Bất Hạnh. Để gây quỹ hoạt động, ông đã đi khắp nơi
trên thế giới để vận động sự tài trợ của những tổ chức thiện nguyện, từ New
York đến California, từ Pháp qua tới Singapore, từ Hong Kong đến Tokyo. Riêng tại
Tây Đức, Caritasverband đã hứa giúp Tổ Chức Một Đồng một ngân khoản là
$1,000,000 Mỹ kim với điều kiện duy nhất là chữ ký chấp thuận của vị Nguyên Thủ
Quốc Gia: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Bố tôi về nước, tức tốc vào Dinh Độc Lập
loan báo tin vui và đệ trình Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cơ cấu tổ chức của Tổ
Chức Một Đồng và chấp nhận ký thác số ngân khoản trên vào Ngân Hàng Quốc Gia,
và hoàn toàn chịu dưới quyền kiểm soát của Tổng Trưởng Tài Chánh Nguyễn Bích Huệ.
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nghe xong nói với bố tôi: “Anh để tôi xem”. Thiếu
chữ ký của ông Thiệu, Tổ Chức Một Đồng không có ngân qũy để hoạt động. Trong
khi đó, sơ đồ, dự án xây cất cô nhi viện, nhà thương, bảo sanh viện, viện dưỡng
lão, nhà tiền chế, cầu cống thôn quê, v.v. đều đã sẵn sàng.
Cũng trong thời gian này, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ngỏ ý
muốn bố tôi làm Chủ Tịch Hạ Nghị Viện để thay thế cho cụ Nguyễn Bá Lương gần đến
tuổi về hưu. Hơn nữa vì sau hai lần vận động Lưỡng Viện phá vỡ âm mưu ép liên
hiệp do người Mỹ chủ trương, ông đạt sự tín nhiệm của đa số đồng viện.
Theo đề nghị này, bố tôi sẽ về một đơn vị nhỏ để có thì giờ
lo cho Hạ Nghị Viện. Đơn vị nhỏ này là tỉnh Quảng Đức. Quảng Đức là một tỉnh được
thành lập năm 1959 và nằm trên cao nguyên Mơ Nông thuộc Tây Nguyên – miền Trung
Việt Nam. Tính đến năm 1971, dân số tỉnh Quảng Đức là 38.305 người, đa số là
người Thượng, bao gồm Ê-đê, Xtiêng, Cơ ho và M’Nông. Được sự hậu thuẫn của Phủ
Tổng Thống, Đại Úy “Hai Ưu Tiên” (bí danh của cựu Đại Úy Khổng Trung Lưu) lên
đường tranh cử với mẹ tôi và một người anh em kết nghĩa (ông Lý Tạc, sau này
chúng tôi mới biết ông là thành viên của Trung Hoa Quốc Dân Đảng) với sự yểm trợ
đắc lực của Quân Đội. Ông đi đến đâu, dân chúng, quân nhân nhiệt tình ủng hộ đến
đó. Có những chỗ ông không đến kịp mẹ tôi phải đi thay, ngỏ lời với cử tri.
Không ngờ người Mỹ quyết định bỏ Việt Nam Cộng Hòa để thay
vào đó lá bài Trung Cộng.
Đức Giám Mục Lê Văn Ấn, kiêm nhiệm đặc trách Tổng Tuyên úy
Công giáo Quân đội Việt Nam Cộng Hòa được tin mật, ngài gởi điện thơ cho các
linh mục với nội dung: “Tìm xem Lưu nó đang ở đâu, bảo nó về. Nó đứng đầu danh
sách phải loại do Henry Kissinger gởi sang thì làm sao mà thắng được!” Quả
nhiên sau đó tình hình thay đổi trong một sớm một chiều. Lần đó bố tôi thất cử!
Vị dân biểu đại diện cho Tỉnh Quảng Đức của Hạ Nghị Viện chế độ Việt Nam Cộng
Hòa nhiệm kỳ cuối cùng trước 30-04-1975 là ông Vương Sơn Thông, một khuôn mặt
hoàn toàn xa lạ với chính giới Việt Nam Cộng Hòa thời bấy giờ.
***
Gần 40 năm sau khi miền Nam Việt Nam, tiền đồn chống cộng của
Đông Nam Á thất thủ, chúng ta hãy nghe ông Huy Đức, tác giả cuốn sách Bên Thắng
Cuộc trình bày trong lời giới thiệu: “Cuốn sách bắt đầu từ ngày 30-4-1975, ngày
nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn
lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại
là miền Bắc. Hãy để cho các nhà kinh tế chính trị học và các nhà xã hội học
nghiên cứu kỹ hơn hiện tượng lịch sử này. Cuốn sách của tôi đơn giản chỉ bắt đầu
kể những gì đã xảy ra ở Sài Gòn, ở Việt Nam sau ngày 30-4: cải tạo; đánh tư sản;
đổi tiền… Cuốn sách của tôi cũng nói về hai cuộc chiến tranh cuối thập niên
1970, một với Khmer Đỏ và một với người Trung Quốc. Cuốn sách của tôi cũng nói
về làn sóng vượt biên sau năm 1975, nói về sự “đồng khởi” của nông dân, của các
tiểu chủ, tiểu thương để giành lấy cái quyền được tự lo lấy cơm ăn áo mặc.
Hay gần đây nữa, chúng ta hãy nghe LS Nguyễn Văn Đài, một
nhân vật bất đồng chính kiến ở Việt Nam thố lộ:
Giờ đây, mọi người lại hỏi tôi “anh nghĩ và có cảm xúc như
thế nào về ngày 30-4?”
Tôi trả lời: Một chế độ dân chủ và văn minh đã thua một chế
độ độc đảng toàn trị và lạc hậu. Cái ác đã chiến thắng. Còn cảm xúc thì buồn và
nuối tiếc cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa, bởi tôi và rất nhiều người đều cho rằng
nếu ngày 30-4-1975, bên chiến thắng là Việt Nam Cộng Hòa thì giờ đây trong khu
vực châu Á, Việt Nam có thể chỉ thua duy nhất Nhật Bản về kinh tế, còn chắc chắn
sẽ ngang bằng hoặc hơn Hàn Quốc về cả kinh tế và quân sự.
Một chế độ dân chủ và văn minh mà theo Tiến sĩ Nguyễn Thanh
Giang:
“Chế độ VNCH ngày xưa có nhiều điểm ưu việt hơn chế độ chính
trị của miền Bắc. Khi giải phóng vào thì tôi thấy là nền giáo dục của họ rất tốt,
họ giáo dục cho trẻ em cái Lễ, chứ không phải là đấu tranh giai cấp. Con người ở
miền Nam họ sống với nhau cũng có nghĩa hơn, chứ không phải như những con người
giả dối, trong hội trường thì tung hô một nẻo, về nhà thì nói một nẻo. Rồi còn
có báo chí, nhân quyền được tôn trọng hơn, có tự do ngôn luận hơn chứ không như
ở miền Bắc là bưng bít, phải nói theo đảng làm theo đảng, không được phê bình đảng,
không nói được nguyện vọng của nhân dân, của quần chúng.”
Thật là điều đáng buồn khi những người Cộng Sản phải mất hơn
30 năm để nhìn ra được: những “ngụy quân”, “ngụy quyền”, người dân của chế độ
VNCH thật ra chỉ là những người có trái tim yêu trọng Chân, Thiện, Mỹ. Vì những
giá trị cao thượng này mà ở Sài Gòn sau ngày 30/4/1975, 443.360 người phải ra
trình diện, trong đó có 28 viên tướng, 362 đại tá, 1.806 trung tá, 3.978 thiếu
tá, 39.304 sỹ quan cấp uý, 35.564 cảnh sát, 1.932 nhân viên tình báo các loại,
1.469 viên chức cao cấp trong chính quyền, 9.306 người trong các đảng phái được
cách mạng coi là “phản động”. Chỉ có 4.162 người phải truy bắt trong đó có một
viên tướng và 281 sỹ quan cấp tá.
Theo tài liệu của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn,
trong khoảng thời gian 1975-1995 đã có 849.228 người vượt biên bằng đường biển
và đường bộ. Theo tài liệu của Indonesia, trong khoảng thời gian 1975-1996 đã
có 250.000 người Việt Nam và Campuchia tá túc trên đảo Galang. Một số thuyền
nhân được các tàu khác (trong số đó có Hải quân Mỹ) cứu vớt; một số khác đến được
các đảo trong biển Đông xung quanh Việt Nam; một số bị thiệt mạng trên biển, rất
nhiều người bị hải tặc cướp bóc, hãm hiếp trước khi được cứu. Cao ủy Tị nạn
Liên Hiệp Quốc đã thiết lập một số trại tị nạn ở những nước lân cận và đã nhận
được giải Nobel Hòa bình năm 1981, một phần là nhờ những hoạt động này. Hiện
nay chưa có một con số thống kê chính thức về con số thuyền nhân bỏ mình trên
biển cả hay trong rừng sâu. Không có con số chính thức về số thiếu nữ bị bắt
đi, tách khỏi thân nhân trên đường đi tìm tự do. Đã có những tượng đài được dựng
lên để tưởng nhớ đến những thuyền nhân bị thiệt mạng trong các cuộc vượt biên,
như ở Pulau Bidong (Malaysia), Pulau Galang (Indonesia).
Triết lý Nhân bản, Dân tộc, và Khai phóng này được trang báo
mạng Vietnamnet nhắc lại trong một bài báo vào cuối năm 2013. Phải chăng sự bế
tắc của nền giáo dục Việt nam hiện tại đã đánh thức nhiều người Việt hiện nay rằng
có một di sản giáo dục cần trân trọng?
***
Khổng Trung Linh




