Tuy cùng một gốc nhưng nước Việt ta, Bắc-Nam-Trung, vẫn thưởng
Tết không đâu giống với đâu: Tết trong nam mộc mạc sơ sài, không như tết miền
Trung và ngoài Bắc, trước đây giữ nhiều lễ phép và kiêng cử. Tuy không lạnh lẽo
đến có tuyết rơi giá phủ, nhưng Trung và Bắc, có đủ xuân-hạ-thu-đông bốn mùa
phân biệt: Các thi ông ngoài nớ hơn chúng tôi ở trong Nam vì được thưởng Xuân
trọn vẹn, khi chén rượu ấm lòng, khi câu thơ phấn khởi, khi nhắp chén trà hương
đượm... và ngoài ấy mới thấy chiếc áo ngự hàn bằng dạ bằng nhung có mãnh lực
làm tăng giá trị con người và cũng làm khổ con người bằng cách bắt buộc mọi người
phải tùy theo túi tiền, săn sóc và chạy theo từ cái “ăn no mặc ấm.” Nhưng
đã là “ăn Tết” đúng theo ý nghĩa tục lệ ông bà để lại, thì đâu
đâu cũng như nhau, dùng dịp Tết nhứt để mừng đoàn-tụ gia-đình, tưởng niệm cúng
vái tổ tiên đã khuất, há đợi gì: “Xuân từ trong ấy mới ban ra?”
Mấy chục năm nay, chiến tranh không dứt, nhơn tâm suy bại, khiến nên cái tết đã thay đổi rất nhiều và trở nên tạm bợ, ai ai cũng có ý nghĩ “chờ hết giặc sẽ ăn tết lớn...” Chớ trước kia, trước năm đảo chánh Nhật 1945, miền Nam sống thái bình, tiền rừng bạc biển, ngày Xuân đối với con dân làm ruộng, quả là những ngày xả hơi và phải thừa dịp ấy, ăn chơi cho thỏa phỉ chí. Thời tiết trong Nam luôn luôn có tiếng là khoan hậu: nóng đều đều, tuy không cho phép nhà giàu mượn dịp tra mãi bộ đồ dạ ấm đắt tiền, nhưng sức nóng mặt trời trong Nam không bao giờ đến cháy da phỏng trán, và ấm áp dễ chịu quanh năm. Tự cổ chí kim, chưa nghe có nạn chết rét vì thiếu y phục, hoặc chết đói vì thiếu cơm. Bẻ cây cần trúc tạm, ra ruộng đứng nhắp chơi cũng có cá tươi kho đầy mẻ, đến ăn không hết. Còn nói chi làm siêng ra đồng quơ bậy bạ cũng đủ nấu nồi canh rau nhẹ lòng.
Thiết tưởng miền Nam từ Đồng Nai đến vùng Cà Mau, trước đây,
trước khi bị nạn tranh giành cấu xé như nay, quả là một Phật địa, cảnh thiên đường,
cảnh cực lạc giữa chốn trần gian. Thuở ấy trong Nam lúa thóc đầy đồng, cá tôm đầy
dẫy, có đâu như ngày nay tuy đồng sống chung trên ruộng vườn mầu mỡ, mà phải ăn
gạo viện trợ và ăn thịt heo ướp lạnh chở từ phương xa đem lại. Còn đâu cái cảnh
cũ, tôm tép ăn không hết đến phải phơi làm “phân tôm” xa xí để dành bón trái
dưa hấu ngọt lịm của bãi biển Bạc Liêu hay dưa đất giồng Xoài-Cả-Nả (Sóc-Trăng)
? Ngày xưa dân Miền Nam không bao giờ thiếu ăn, không cần nhờ nhỏi nước ngoài
và hưởng nhiều Tết thú vị. Ngày nay Tết không cánh đã bay về đâu mất dạng và mỗi
lần gió xuân phất mặt, dường như đã làm cho mình thêm tê tái cõi lòng.
Mấy chục năm về trước, Miền nam gồm toàn người củi lụt làm
ăn, đầu tắt mặt tối, quanh năm chơn lấm tay bùn, lặn lội eo sèo trong sình lầy
nước thúi, chỉ có mỗi lần Tết đến mới có dịp nhớ đến ngôi nhà đang ở và ra công
quét tước dọn dẹp từ trên trang thờ đến bếp núc ông Táo ông Vôi, một năm chỉ có
một lần ấy mà thôi. Nhà nào có vườn có sân thì đốn tre trồng nêu để nhắc lại cổ
tục chầu xưa, nhà nào ở chợ búa phố xá hẹp hòi thì cũng treo cờ trước cửa cho
gió bay mấp máy thấy đủ vui mắt, nhưng nhà nhà bất luận sang hèn, dẫu ọp ẹp bằng
tre lợp lá chằm lá khíu, cũng có đôi liễn mới dán đỏ cột và trên bàn thờ tổ
tiên sao sao cũng có lộc bình, quả tử, nhứt là phải có bộ lư đồng và cặp chưn
đèn thau o bế chùi bóng nhoáng rất nên thơ. Nhớ đến phong tục chùi lư mà tiếc hối
buổi xuân thời: lúc nào còn bé thơ, mãi sợ nạn chùi lư vì mỏi tay thêm mất dịp
đi xin bánh và đi lượm pháo tịt ngòi. Nay đã khôn già thì người lớn đã khuất hết,
tiếc cho mình nay không còn cha mẹ để được bắt chùi lư! Phong tục dán liễn Tết
nay đã lui lần vào dĩ vãng.
Gẫm lại xưa các nhà làm ăn vừa phát, vẫn nhà gỗ cột tre cột
cây tạp nên ba bữa Xuân phải nhờ đôi liễn đỏ che cho cột gỗ bớt xấu xí và cũng
vừa để khoe trong nhà còn hiếm kẻ độc-thơ-nhân:
“Thiên tăng tuế nguyệt, nhơn tăng thọ,
Đức mãn càn khôn, phước mãn môn.”
Ngày nay tân tiến, mà tân tiến chỗ nào? Sợ dán liễn phết hồ
dơ cái mặt tiền và làm bẩn cột gạch, tường đá nhân tạo! Lại cũng còn đâu đủ tài
ăn học, đọc nổi câu Hán văn hòng thưởng thức ý nghĩa câu đối câu liễn? Nhắc đến
lư thờ mà tủi lòng. Nhiều nhà khá giả có đến ba giàn giường thờ, nay không còn
giữ được một. Lớp nào khi tản cư năm 1945-46 đào đất chôn giấu lư xưa, khi hồi
cư moi lên thì kẻ trộm nó đã moi trước lấy mất tự hồi nào, lớp lại thật thà tự
tay dâng cúng cho các đồng chí năm xưa trong “tuần lễ thau đồng ái quốc
(?)” lấy đó làm súng đạn chống giặc Tây (!?)... Nay nhớ ông bà muốn sắm
mua lại cũng không có thợ khéo, chỉ có lư hàng chế tạo dối trá, đồng xấu, kiểu
không đẹp.
Lối năm 1920, bộ lư đồng năm tấc bề cao, giá độ năm chục đồng
bạc lớn, nhưng năm chục đồng bạc ấy lớn thật, có bao nhiêu ấy mua sắm lung tung
và giá trị năm chục đồng bạc 1920 còn lớn hơn năm ngàn bạc ngày nay xa lắc! Có
thứ lư thau trơn dễ chùi, ở trên chóp đỉnh có đặt con lân giỡn trái châu, đứng
nhe răng cười “cầu phúc,” có thứ lư gồ ghề rất khó chùi cho
bóng, vì lư làm theo kiểu “lư mắt tre,” lư “trúc hóa
lân…” Lư trơn láng thì phải lựa thứ kiểu thật rôm, xứng trái xứng bề
cao. Lư mắt tre thì phải lựa cho được thật hùng vĩ, bặm trợn, cân xứng y gốc
tre già cỗi đã biến hình thành con thú, con lân. Muốn chùi lư cho bóng, lọ là
phải có dầu bóng hiệu Tây-u cho thêm tốn nhiều tiền. Miễn có khế chua đập giập
lấy nước chua chấm với tro bếp thật mặn, chấm với “cặt bần” cọ xát thật mạnh
thì bao nhiêu ten rỉ cũng sạch. Lư khéo chùi là đến khi nào bóng sáng đến ngó
thấy mặt tỏ rõ, nhưng bóng lộn không chưa đủ, thuở ấy con mắt mỹ thuật còn kén
thi nhau khoe khéo khoe tài. Giỏi chùi và biết “trau lư” là
nhà nào lư bóng như kiếng soi thêm toàn trên da đồng, tìm không thấy lằn gạch lằn
trầy, lằn rễ tre vằn sọc.
Như đã nói, nhà cửa lớp xưa, mỗi năm chỉ đổi bộ mặt mới có một
lần và phải đợi năm sau mới có dịp quét dọn lau mò hóng, quơ váng nhện lại lần
nữa. May sắm “hà rầm” và muốn có áo mới; mặc tình đến tiệm, lựa hàng đặt may. Xưa
muốn cắt áo phải tra lịch lựa ngày, và trẻ nít phải đợi đến Tết mới có dịp cha
mẹ may cho cái quần lãnh Bắc Thảo hay cái áo lá liễu bằng “củng-xá” hay hàng lụa
Tứ Xuyên bền chắc.
Ngày nay đâu còn cái hạnh phúc mừng xuân đến “không nhắm mắt
được” và tục chờ mau đến Tết để được bận đồ mới! Tượng trưng “ăn Tết” đối với
trẻ con buổi ấy là mỗi lần cận Tết, đêm nào cũng nghe cô bác đổ "Tam
Hường” tiếng hột lúc lắc ngà nhảy bồng trong tô da kiểu, tiếng xu bạc
khua khi chung tiền, tiếng cười giòn khi đổ được Trạng Nguyên, Bảng Nhãn hoặc
khiêm tốn chỉ đỗ “Ngũ tử phò tứ,” tức là sáu hột có năm mặt chữ “Ngũ” và
một mặt tứ màu hồng.
Chiều ba mươi cúng “vào Khem” trong Nam
cũng giản dị đơn sơ, không quá kiêng cữ như ngoài nớ, và “vào khem” đối
với dân “lục tỉnh” mấy mươi năm về trước thì thâu gọn lại như
nhà mấy ông mấy thầy tức nhà quan quyền thì rước ông bà nội ngày ba mươi hoặc
trưa hoặc chiều đều được, còn như nhà thường dân, dân dã, thì vẫn rước vào đầu
hôm một lượt như nhau. Cứ từ chạng vạng tối bắt đầu phải giữ gìn cho trong nhà
bình tịnh, không nên cười lớn và khi nói phải lựa lời, cử chỉ phải thanh bai lễ
giáo vì hiểu rằng “vào khem” trong nhà có rước vong ông bà quá vãng về sống
chung ba ngày xuân nhựt với con cái, nên phải thủ lễ.
Lại nữa cũng tin tưởng, tin rằng đêm ba mươi rạng mồng một Tết,
có “ông Hành” cũ và mới đến nên trong nhà nhỏ lớn đều kiêng
không “động đất.” Cái cổ tục “hai nhà bàn giao việc đã qua và sắp đến, ông Hành
giao việc” đã phai mờ trong trí óc mộc mạc dân Nam, có họa chăng độ mấy mươi năm
trước nhớ có một tờ báo Xuân nào đó, ngạo mạn dám vẽ hình bìa ông Táo quân cũ
quần áo rách nát và khói đóng đen xì, Táo cũ chưn bước ra cửa tránh chỗ nhà
trong cho vị Táo quân mới áo mão xúng xính đỏ loe loét, tuy vẽ chơi làm vậy mà
đã đụng chạm vào cổ tục, và phàm đã bất kính thì lần hồi những tục xưa lệ tốt
cũng khó được bảo tồn. May sao, tuy vậy, nhiều gia giáo ngày nay còn giữ được lệ
cấm nói tục tĩu ba ngày Tết và bớt rầy la con cháu khi lâm lỗi buổi đầu xuân, ý
tốt muốn giữ là mong năm mới và suốt năm ăn nói thanh bai thì sẽ trọn năm không
xúi quảy.
Nhưng ngày nay xem cho kỹ, cái thị hiếu và cái sở cầu hai thế-hệ
xưa và nay đã đổi khác, xưa quen thắp đèn dầu dĩa mỡ, nay toàn dùng điện
dùng "neon," cho đến thôn quê cũng một vài nơi có
máy điện viện trợ chạy nghe xành xạch, xưa kia ngày Tết là ngày tưởng niệm vong
linh ông bà, con cháu thừa dịp ấy qui tụ về nhà chung để giáp một năm thấy mặt
mừng nhau khỏe mạnh, nay đà đổi khác thừa dịp Tết người lớn tha hồ đi nghỉ mát,
cặp tay nhơn tình đưa nhau ra bãi biển giỡn sóng hay lên non hứng gió, ông bà tổ
tiên phú mặc cho vợ con hiu quạnh cúng quảy lấy lề.
Tết Bính Ngọ đã qua, Tết Đinh Mùi sắp đến, cũng như bao
nhiêu tết khác nếu còn được hưởng, đều là Tết điện sáng vàng, “neon” sáng xanh,
nhưng biết đâu chừng cái sáng sủa văn minh tân thời chỉ sáng bề ngoài để càng
thêm thấy rõ nạn chiến tranh dai dẳng không thôi, giết chóc kéo dài không dứt
và trong lòng coi rẻ mạng người và sặc mùi buôn danh trục lợi chợ đen chợ đỏ
hơn bao giờ cả, sao bì được những Tết cổ lỗ năm xưa tuy thắp mỡ dầu mà trong
lòng thơ thới sáng sủa hơn nay nhiều. Thậm chí tuy thắp đèn dầu mù u hay dầu
cá, có năm 1931-35 kinh tế khẩn bách, đến vùng Mỹ Thuận và Sa Đéc thắp đến dầu
mỡ chuột tanh rì, nhưng vậy mà dẫu sao cũng lúa gạo chứa đầy mái đầy thùng, cá
mắm cả lu, và tết đến lại có dịp vặn máy hát thức xem đèn dầu, tim bằng cỏ bấc
trổ bông báo điềm lành và nhờ đêm thanh tịnh không tiếng súng nổ mà cũng không
tiếng máy bay rầm rầm, nên cổ nhân canh chừng mới biết được “con thú gì
ra đời”: Gà gáy đem lại thanh bình hay chuột túc con bày điềm sang năm sung
túc.
Mỗi dịp tết đến, dẹp đèn chong leo lét, lấy trong tủ cây đèn
họng ba mươi Huê kỳ ra thắp, hy vọng sang năm mới trong nhà trong cửa sáng suốt
hơn năm rồi có đâu như ngày nay tuy đã vượt xa cái cảnh tối tăm cũ, nhưng dẫu
nhà sáng hơn thật nhưng nhiều gia đình vẫn nội tâm bê bối còn rối rắm hơn bao
giờ. Và mãi bao giờ còn ruồng xét ráp bố, bắt bớ, đánh qua càn lại, thì đâu có
yên ổn cho dân cư làm ăn vui Tết. Thà sống âm thầm như buổi trước mà nhẹ lòng đỡ
lo hơn.
Ngày xưa trông mau đến Tết đặng về quê thăm nhà. Ngày nay đường
xá bế tắc thêm bị lụt bị đào, thôn xã bất an, còn đâu cảnh từ hai mươi lăm hai
sáu Tết, nôn nao nhộn nhịp băng đường, kẻ ở Lục Tỉnh trồi đầu về Sài Gòn, kẻ ở
Kinh thành lại hơ hãi lội về quê ăn Tết! Ngày xưa bên Trung quốc tải qua đây
hoa quả đặc biệt: Trái hồng khô hai xu, trái hồng tươi và trái cam Tàu (cam Quảng
Đông dính vỏ, cam Triều Châu tróc lóc), mỗi trăm trái chỉ có sáu bảy đồng bạc
mà ông bà thuở ấy đã le lưỡi than mắc không dám mua ăn, nay Tàu đã nhuộm đỏ,
dân Nam không được phép chơi với mầy và tao ăn quả nho tươi Âu Mỹ, mỗi ký giá bạc
trăm bạc ngàn và trái lê trái táo ngoại bang tuy lạ miệng nhưng vẫn nhớ cam Tàu
có cái hậu thanh thanh mát đóc giọng.
Bởi xưa ham uống rượu Trung hoa, hiệu “Ngũ gia bì” nên
khiến dân ta say ngủ li bì, và thích uống “Mai quế lộ” nên thường
túy lúy nằm đo đường té lộ. Khách tân thời đua đòi theo Âu Mỹ, có độ uống “sâm-banh,”
“cổ-nhác,” nay quay qua chai ba góc hay chai vuông “huýt-ky.” Sao
cho bằng uống mỹ tửu quốc hồn: Rượu đế lậu đặt tại Thủ Đức với nếp đầu mùa, do
các chị đàn bà Bắc tải xuống chợ Bà Chiểu và để đánh lạc mắt nhà đoan, giả bụng
chữa, độn bụng thè lè, chớ kỳ thật chị mang bong bóng trâu phơi khô, trong chứa
hai ba chục lít rượu nếp chánh hiệu có bọt. Xứ Cai Lậy (Mỹ-Tho) nay đánh lung
tung – trước đây có đặt rượu đậu nành nước trắng trong khe, mùi thơm ngon ngọt
có thua gì rượu Tây, rượu lục vị, Pháp gọi là Anisette.
Ngày nay tiếng súng nổ quanh đêm suốt năm lấn át mất tiếng
chày giòn quen tai cận Tết giã gạo làm bánh phồng dịp dầu Xuân và khói lửa chiến
chinh đã dập tắt lửa cuối năm nấu bánh tét bánh chưng. Ngày nay muốn ăn những
bánh khiêu gợi Tết, đã phải nhờ quán khách làm sẵn, chớ còn đâu lửa reo vui mắt
bữa chưng bánh chung quanh gia đình đoàn tụ, ông kỹ sư tóc hoa râm, đứng chờ
bánh nói chuyện với nhà học giả quá mùa, xúm xít gần bà mẹ tuy lụm cụm nhưng
không khứng bỏ tục cổ truyền. Hai ông tân nhơn vật tuy bụng chứa đầy văn minh
Âu Mỹ, nhưng trong lòng thỉnh thoảng vẫn thèm vẫn nhớ miếng bánh phồng nướng bằng
lửa rơm thơm ngát, hay miếng bánh nhưn đậu giữa có cục mỡ béo bùi của đòn bánh
tét gói và nấu tại gia, bánh ấy tuy xấu mặt nhưng Hương vị đặc biệt đã đánh lui
các bánh tây bánh ngoại quốc dồn vào kẹt tủ buổi Tân Xuân.
Ngày nay miền Nam càng tiến hóa bao nhiêu càng đi xa lần và
lãng quên những phong tục cũ, độ nào phải chờ Tết đến mới có dịp cho trẻ con thấy
đồng xu đỏ au và bạc cắc phong gói trong tờ giấy làm gói “lì xì” tân niên. Được
vài ba gói trẻ đã mừng húm, nhờ vậy mà con nít chóng lớn và người lớn thấy vậy
cũng phấn khởi thấy đời thêm vui. Ngày nay đổi đời, trẻ con đi học đã có bạc
ngàn bỏ túi, và thử cho trẻ một tờ giấy bạc năm trăm, chưa thấy nó mừng bắng lớp
trước đây, được thưởng nửa đồng bạc đã cắp ca cắp củm để dành và đó là sưu tập
phẩm “cà-rô-bi” (roupie) hiếm có.
Mấy năm gần đây có tục lệ đầu năm đi xin xăm nơi miếu Tả
Quân trong Gia Định. Báo hại các bà di cư ham hái lộc như thuở nào ở ngoài kia;
báo hại kiểng cây kiểng gốc trong Lăng trụi lủi lá cành. Xin lộc là một phong tục
cổ kính của xứ có hoa đào, hoa hồng, hoa thủy tiên... Đất miền Nam và Trung ít
bông nhiều lá làm gì có lắm hoa để hái lộc?
Nhắc lại một phong tục nhỏ trong Nam. Ba ngày Tết trong nầy
ăn dồn thịt kho, thịt lạp xường và vịt phơi khô, nhiều ngày quá nên lợm giọng,
vì thế qua ngày mồng bốn Tết có lệ “cúng tất,” tết nhà tết cửa
– Ngày ấy nấu bữa cơm cúng đất đai ông bà, lễ tất, đại để có tục lệ cắt giấy
kim ngân ra hình vuông hình hồ lô để dán vào cột cửa tủ bàn và dâng lên bàn thờ
Tổ tiên “nồi cháo cá ám.” Cũng thì cháo cá nhưng cháo nấu kiểu
cá luộc chần thì vẫn cá luộc sơ và xắt khúc, không để nguyên con, còn trái lại
“cháo cá ám” là nấu nồi cháo rất kỹ, cá để nguyên con không chặt ra khúc và khi
nấu nồi cháo vẫn không đậy nắp vung (nấu ám). Theo tôi đây là món thuốc
vệ sanh trừ độc của ông bà lưu truyền lại, vì ba ngày tết ăn mỡ đã nhiều, qua mồng
bốn ăn tô cháo ám có rau ghém chát xắt nhỏ, chuối cây non và rau thơm, vừa nhẹ
lòng khoan khoái thêm ngon miệng, trở bữa, nghệ thuật bí quyết trường sanh là
đó!
Nay cũng thấy bớt đi cái tục “Cung chúc tân xuân.” Xưa
có lệ sáng mồng một thay nhau vái lạy ông bà lối xóm và chúc nhau bằng cánh thiệp
viết tay có để tên họ và câu chúc cổ truyền. Nay đã thôi đi “cung hỷ” và
quen nhờ nhà bưu điện đem thơ giùm, làm cái việc trả nợ quỉ thần, báo hại mỗi lần
Tết người đem thơ mỗi lần đổ quạu.
Người Việt ta vì quá đua đòi chạy theo cái mới lấy cái Tết
Dương lịch làm lớn và thuần phong cổ tục về Tết Âm lịch đã mất lần hồi. Tục thờ
kiếng ông bà đã xem nhẹ hơn xưa và cái lễ Tết là lễ nhớ người chết đã trở nên
ngày xả hơi vui chơi của người sống. Chúng ta có thể giản dị hóa phần nào những
gì phiền phức rườm rà, nhưng không nên để cho mất ý nghĩa của cái Tết cổ truyền
của một xứ lấy việc nông tang làm gốc, chớ nên quá duy vật mảng ăn chơi vui sướng
cho mình mà quên câu “Mộc bổn thủy nguyên” trước có ông bà sau mới có ta vậy.
Theo tôi, ngày Tết Nguyên Đán phải được bảo tồn với bao
nhiêu cổ tục của nó.
Vương Hồng Sển
Ngày 13 tháng 12 năm 1966
