Ông Địa là người mang lại cái Tết cho mọi người. Giữa tiếng
trống tiếng chiêng nhộn nhịp, ông nhảy múa với khuôn mặt không bao giờ tắt nụ
cười. Tôi chưa bao giờ thấy ông Địa không cười. Nụ cười của ông không chỉ là nụ
cười cứng ngắc trên mặt nạ mà còn hiển hiện trong bộ quần áo xanh đỏ lộn xộn,
cái bụng phệ cố hữu và, nhất là điệu nhảy tung tăng với chiếc quạt bên những
chú lân và những tràng pháo đang nhoáng lửa nổ vang lừng.
Tuổi thơ của thế hệ chúng tôi ngoài Bắc hình như không có ông
Địa. Ngoài Bắc chỉ có múa sư tử chứ không có múa lân. Mà chỉ múa vào dịp tết
Trung Thu chứ không múa vào Tết Nguyên Đán. Sư tử không có sừng như lân và ít
nhảy nhót như lân. Thời chúng tôi, đầu sư tử rất giản dị do một em bé đội lên
múa nhì nhằng sơ sơ. Phía sau là cái đuôi bằng vải đỏ do một em khác nắm, dùng
hai tay phất phất lên chứ không phải một người chui vào trong như múa lân. Cái
trống cũng nhỏ xíu được một em đeo bằng cái giây tròng lên cổ, vừa đi vừa gõ,
chiêng là cặp chũm chọe do một em khác đập vào nhau. Múa sư tử như một niềm vui
giản dị ngày rằm tháng tám chứ không rực rỡ và nhộn nhịp như múa lân.
Coi ông Địa phe phẩy chiếc quạt giỡn với lân không phải là
chuyện giỡn chơi khơi khơi mà có ngọn ngành đàng hoàng. Theo truyện cổ dân gian
thì lân là một con quái thú từ dưới biển lên quấy nhiễu dân lành. Ông Địa đã chế
ngự được con lân quái vật này và biến nó thành một con vật ăn chay, hiền lành,
tu tâm dưỡng tính. Từ đó mỗi năm ông Địa đều dẫn lân đi chúc tết mọi người. Dân
chúng khắp nơi đã chào đón và thưởng cho lân bằng cách treo rau xanh, giấy đỏ
khi lân tới nhà. Từ ngày di cư vào Nam, tôi đã qua nhiều cái Tết. Ngày nhỏ, chạy
theo coi múa lân một cách thích thú. Khi có con, chất hai bé lên chiếc xe vespa,
chạy khắp Sài Gòn Chợ Lớn, tai nghe thấy tiếng trống ở phía nào là vội ào tới
coi. Lân của ngày xưa ăn rau xanh nhưng lân sau này hình như chán ăn chay. Người
ta vẫn treo cây rau theo tập tục để thưởng cho lân nhưng trong rau có tiền. Khi
lân chộp được cây rau xanh đã nhảy cẫng lên vui mừng nhưng lại xé nát rau, vứt
xuống đất, tiền thì ngậm vào miệng. Chẳng lẽ lân lại sa đọa? Mà nếu lân có sa đọa
thì cũng phải thôi. Vì chúng bắt chước theo con người!
Ông Địa chỉ dẫn lân đi chúc tết mọi người vào dịp Tết, hết Tết
ông về ngồi nơi bàn thờ. Vì ông là một vị thần. Khi đi ăn uống hay mua sắm,
chúng ta thường gặp bàn thờ ông Địa nơi các cơ sở thương mại. Bàn thờ là nơi
tôn nghiêm, thường được đặt trên cao nhưng bàn thờ ông Địa lại ngồi bệt dưới đất.
Vì ông là thần đất. Chuyện ông ngồi trên bàn thờ không phải dễ dàng, cũng phải
kiện cáo mới đặt được cái bàn tọa nơi ngồi mát ăn bát vàng này. Ngày xưa, bàn
thờ này dành cho ông Tà chứ không phải ông Địa. Theo chuyện “Ông Tà Kiện Ông Địa”
của tác giả Nguyễn Hữu Hiếu trong cuốn “Truyện Kể Dân Gian Nam Bộ” thì ngày xưa
dân Nam Kỳ lục tỉnh thờ ông Tà chứ không phải ông Địa. Nhưng ông Tà là dân
thích đi du lịch nên bỏ dân đi hoài, chẳng được việc chi. Dân gian tức khí nên
chuyển bàn thờ ông Tà ra bờ mương, ruộng vườn hay mé sông lạnh giá. Họ thay thế
ông Tà bằng ông Địa nơi bàn thờ trong nhà. Khi trở về, ông Tà tức tối mang vụ
truất phế này ra đình làng, kiện lên Thành Hoàng. Thành Hoàng đã nắm được hồ sơ
nên xử vụ này dễ ợt. Thành Hoàng phán là “hùm bắt được hùm ăn, sấu bắt được sấu
ăn”, ông Địa có công theo sát dân tình nên được thờ ở trong nhà, còn ông Tà vốn
thích ngao du sơn thủy nên thờ ở ngoài ruộng rẫy. Nghe phán quyết, ông Địa
khoái chí tay xoa bụng, tay phe phẩy quạt, vỗ vai ông Tà nói: “Tà cũng đừng buồn.
Địa với Tà cùng màu da màu máu. Dù ở trong nhà hay ngoài ruộng rãy thì cũng
cùng ở trên mảnh đất này, chúng ta đều là anh em bè bạn. Tà hãy cùng tôi hòa
thuận, cùng hợp nhau giúp đỡ độ hộ dân chúng làm ăn, gìn giữ đất đai”. Ông Tà
nghe thấy chí lý nên đổi giận làm hòa. Từ đó mới có câu: “Ông Địa giữ nhà, ông
Tà giữ ruộng”.
Từ khi được ngồi trong nhà, không biết có phải sợ ông Tà
dành lại bàn thờ không mà ông Địa ngồi miết, không chịu đứng dậy tập thể dục thể
thao nên cái bụng bự ra. Tôi suy bụng ta ra bụng…ông Địa nói vậy nhưng thực ra
cái bụng ông Địa chàng ràng ra như vậy không dính dáng chi tới thể dục thể thao
cả. Trong cuốn “Văn Học Dân Gian Bạc Liêu”, tác giả Nguyễn văn Thanh cho biết
cái bụng trống của ông Địa có sự tích đàng hoàng. Ngày xưa có một bà góa tính
tình chua ngoa, cay nghiệt nhưng có cô con gái đẹp đẽ, hiền dịu. Mỗi khi cô gái
này làm chuyện chi không vừa ý bà, bà luôn mắng: “Hà Bá đ. mày!”. Ông Địa biết
chuyện, đi kiếm Hà Bá chọc: “Nè Hà Bá, anh tốt phước quá! Ở đây ngày nào cũng
có người muốn hiến con gái cho anh đó. Mà lại con gái đẹp đẽ nết na chớ!”. Hà
Bá nghe thấy khoái quá, bắt ông Địa đưa tới nhà cô gái. Tới nơi, trời còn sớm.
cô gái ngủ chưa dậy, chỉ có bà mẹ đang quét sân. Giữa sân có con chó nằm ỳ cản
trở công việc của bà. Bà đuổi thế nào nó cũng không đi. Tức khí, bà trở cán chổi,
đập lia lịa con chó và luôn mồm mắng: “Hà Bá đ. mày!”. Nghe vậy, Hà Bá tức quá,
nhìn qua ông Địa. Ông Địa đang ôm bụng cười. Nghĩ ông Địa chơi mình nên Hà Bá
giơ chân đạp ông Địa té lăn cù xuống mương. Ông Địa không dứt được cơn cười dù
té xuống nước nên vẫn há miệng uống đầy một bụng nước khiến cái bụng chè bè ra
như vậy! Thiệt oan ơi ông Địa!
“Oan ơi ông Địa” là câu đầu môi chót lưỡi của dân gian miền
Nam. Nhưng chuyện oan ức của ông Địa không phải là chuyện trên mà là một chuyện
dân gian khác. Tại một làng kia có một bến sông. Dân làng thường tới đây gánh
nước, giặt giũ. Cạnh bến sông có một ngôi miếu thờ ông Địa. Một ngày kia, có một
cô gái thường ra bến sông bỗng bị to bụng. Luật lệ trong làng rất nghiêm khắc,
phạt nặng cha mẹ những cô gái chưa chồng mà chửa. Cha mẹ cô gái này tra hỏi cô
để tìm ra tác giả của cái bụng hầu bắt cưới cho khỏi nhục gia phong. Cô gái
khai đêm đêm cô ra gánh nước bị ông Địa dụ dỗ nên có thai. Ông Địa tức quá, ai
ăn ốc cho ông phải đổ vỏ. Để phòng thân nên từ đó về sau, chuyện trai gái dù giấu
kín đến đâu cũng bị con mắt thần của ông soi ra và bá cáo cho cả bàn dân thiên
hạ biết hầu tránh bị oan ức. Câu “oan ơi ông Địa” từ đó mà ra.
Ông Địa là người hiền lành chân chất lại rất bình dân. Lúc
nào cũng cười hề hề rất sảng khoái. Ông Địa của miền Nam khác với ông Địa ở các
vùng miền khác. Dân Nam có hình tượng ông Địa quấn khăn rằn, tay cầm quạt mo,
tay cầm điếu thuốc coi rất bình dân. Ông lại là người dễ dãi nên muốn cúng tế
gì ông cũng gật đầu tất. Chén chè, ly cà phê, điếu thuốc, cái bánh bao hay nải
chuối đều được ông OK. Có điều muốn cúng ông thì phải nếm trước. Dân Nam thường
bẻ ăn một trái chuối trước khi cúng. Chuyện này cũng có sự tích. Có một lần ông
Địa bị ngộ độc nên sợ không dám dùng đồ dân cúng. Vậy nên phải ăn trước để chứng
minh là đồ cúng không có…hóa chất. Các nhà nghiên cứu có ý kiến khác. Sở dĩ dân
gian ăn đồ cúng trước để biểu thị tính dân dã của ông Địa. Đó là một cử chỉ
thân mật dành cho một ông thần luôn ngồi bệt dưới đất.
Chuyện cúng kiếng này, ông Địa cũng bị gạt vì bản tính xuề
xòa tin người. Có một anh lái buôn cầu ông Địa cho buôn may bán đắt sẽ cúng kiếng
trả công. Lần đầu anh hứa nếu chuyến buôn chót lọt sẽ cúng ông một “con hai
chân”. Ông Địa nghĩ rằng anh ta sẽ cúng con gà con vịt chi đó. Anh trúng chuyến
buôn nhưng không muốn mất tiền mua đồ cúng, hẹn chuyến sau. Chuyến buôn sau nếu
chót lọt anh sẽ cúng một “con bốn chân”. Ông Địa chắc mẩm sẽ được cúng con heo,
con bò chi đó. Nhưng anh ta lại lật kèo một lần nữa, hẹn chuyến sau chót lọt nữa
sẽ cúng một “con tám chân”. Lần này anh cúng thiệt. Đó là con cua rẻ òm! Thua
trí anh lái buôn nhưng ông Địa không giận. Bản tính ông như vậy. Hể hả, tươi cười,
bình dân. Vậy nên khi dân làng rượu chè, bài bạc quá lố, có ai chê trách thường
mang ông Địa ra bào chữa: “Chơi mát trời ông Địa luôn!”.
Một vị thần bình dân, tốt bụng như vậy, phải được dân gian
quý mến. Người ta đua nhau thờ cúng ông Địa để cầu mong mọi sự hanh thông.
Không chỉ những người làm ăn buôn bán lập bàn thờ ông Địa mà trong nhiều tư
gia, người ta cũng thờ ông thần quá gần gũi thân mật này. Trong tâm thức dân
gian, ông Địa được coi như một vị phúc thần. Ngoài việc bảo vệ đất đai, ruộng
vườn ông còn là vị thần dẫn dắt ông Thần Tài mang của cải, tiền tài tới cho gia
chủ. Vậy nên người ta thường thờ hai vị thần này chung một bàn thờ. Nhiều người
còn coi ông Địa như một vị thần độ trì cho mọi người lương thiện, ngay thẳng.
Các vị tu sĩ của các đạo giáo vốn khuyên người ta ăn ngay ở lành cũng khoái ông
Địa. Hiểu như vậy thì ông Địa còn có sứ mạng tâm linh.
Nhưng tôn giáo có công nhận ông Địa không? Được các Phật tử
hỏi về việc chúng sinh có được phép lập bàn thờ ông Địa hay không, thầy Thích
Phước Hải dẫn giải như sau: “Rải rác trong các kinh điển Phật giáo đôi
khi cũng có đề cập đến các vị Thần. Như Kinh Địa Tạng cũng có nêu ra rất nhiều
vị Thần. Tuy nhiên, theo Phật giáo, Quỷ Thần cũng là một trong nhiều loài chúng
sinh. Cho nên, Phật dạy người Phật tử không được quy y với các vị Quỷ Thần. Người
Phật tử, sau khi quy y Tam Bảo, trong nhà chỉ nên thiết lập một bàn thờ Phật và
nếu có thờ thêm, thì cũng chỉ thờ tổ tiên, ông bà, hay cha mẹ mà thôi. Ngoài
ra, không nên thờ bất cứ vị Thần nào khác. Vì thờ như thế, là trái với lời Phật
Tổ dạy. Đã chống trái lại, tất nhiên, là mình đã có lỗi rồi. Nếu là Phật tử,
thì chúng ta nên lưu tâm về vấn đề nầy. Có thế, thì chúng ta mới xứng danh mình
là người Phật tử chân chính tu học Phật vậy ».
Bên Thiên Chúa Giáo dĩ nhiên cũng bác bỏ việc thờ cúng thần
linh. Linh Mục Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn trả lời như sau: “Chính vì mục
đích tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất mà người Công Giáo không được phép tôn phục
bất cứ thần linh nào khác ngoài Thiên Chúa ra. Nói rõ hơn, không được phép
trưng ảnh tượng bất cứ thần linh nào dù là của tôn giáo khác hay theo truyền thống
dân gian như ông thần tài, ông công, ông táo, ông địa v.v…trong nhà hay nơi
buôn bán, dịch vụ thương mại. Vì trưng bày như vậy có nghĩa là tin tưởng vào
quyền năng của một ai ngoài Thiên Chúa là nguồn duy nhất của mọi ơn phúc và uy
quyền trên mọi tạo vật và vũ trụ. Nói khác đi, trưng các ảnh tượng kia là vô
tình hay cố ý xúc phạm đến Thiên Chúa là Chủ Tể của mọi loài, mọi vật mà ta phải
thờ lạy theo đúng niềm tin Công Giáo.”
Ngày xưa, khi chưa có khoa học, người ta chưa giải thích được
những hiện tượng thiên nhiên như sấm chớp, động đất, bão tố…, người ta phải đặt
ra các vị thần để con người có chỗ dựa vào, cảm thấy an toàn hơn. Nhưng khi
khoa học tiến bộ, con người vững tin hơn, các vị thần rơi rớt dần. Nhưng tín
ngưỡng dân gian vẫn dung dưỡng một vài vị phúc thần mà họ tin là mang điềm lành
tới cho họ. Ông Địa là vị thần ở lại với con người lâu nhất. Có lẽ vì ông gần
gũi với con người nhất. Nhưng ít ai có lòng với ông Địa bằng ông Nguyễn văn Hai,
người có biệt danh “Ông Hai thờ ông Địa”.
Tới khu vực chợ Thủ Đức, hỏi nhà “ông Hai thờ ông Địa” là
dân địa phương sẽ tận tình chỉ dẫn liền. Năm nay đã 87 tuổi nhưng ông vẫn còn
minh mẫn kể lại cơ duyên đưa ông tới với tượng các vị thần: “Trước đây Thủ Đức
chỉ là một huyện xa thành phố nên xung quanh nhà tôi toàn cánh đồng hoang vắng
Tới năm 1997, sau khi quy hoạch, nhà tôi nằm trên mặt đường vị trí đẹp. Gần đây
có người trả giá lô đất hơn trăm tỷ nhưng tôi không bán mà để dành làm nơi thờ
cúng các bức tượng bị bỏ”. Khoảng ba chục năm trước, ông Hai làm nghề chạy xe
ba gác. Tình cờ vào một buổi chiều, khi chạy xe về nhà, ông thấy một tượng Bà
Chúa Xứ bị sứt mẻ đặt ở trước cửa nhà nên ông mang vào, lấy xi-măng sửa lại để
thờ. Sau đó, mỗi sáng, ông thấy trước cửa nhà đầy những tượng cũ kỹ hoặc sứt mẻ
người ta mang đến, ông đều mang vào sửa sang lại, đặt lên bàn thờ. Hiện ông đã
có trên một ngàn tượng, phần lớn là tượng ông Địa. Khu đất rộng hai ngàn thước
vuông của ông Hai là một gia tài nhiều người mơ ước. Ông cương quyết: “Mảnh đất
này người ta đã từng trả 110 tỷ đồng (4 triệu 730 ngàn đô Mỹ) nhưng tôi không
bao giờ bán. Sau này nếu tôi mất, tôi sẽ để lại cho các con và chúng sẽ tiếp tục
thu nhặt, thờ cúng các tượng Phật và ông Địa này”.
Ông Hai chạy xe ba gác này thật đáng nể. Coi tiền bạc như
pha. Một lòng với ông Địa. Thiệt là dân chơi “mát trời ông Địa” luôn!



