Bùi Diễm 1923-2021
Trích trong Hồi Ký của cụ Bùi Diễm, nguyên Đại Sứ VNCH
tại Hoa Kỳ.
Một giọng nói yếu ớt, giục dã xuyên qua những tiếng ồ ồ ở đầu
giây điện đàm: "Ông Diễm, Bob Shaplen đây, Bob Shaplen. Tôi đang gọi từ Hồng
Kông." Giọng nói lập đi lập lại tên người gọi, nhưng cơn ngủ say vùi vừa
xong và những viên thuốc cho cơn cảm cúm khốc liệt vẫn làm tôi mù mờ về người
đang gọi.
"Bob Shaplen đây, ông Diễm. Tôi vừa mới từ Sài Gòn về. Bạn bè ông đang cần
gặp ông gấp. Họ rất hoang mang và đang muốn biết rõ tin tức của phía Hoa Kỳ.
Chính phủ Sài Gòn đã cắt hẳn mọi liên lạc với dư luận bên ngoài. Chẳng ai biết
ông Thiệu hoặc đại sứ Graham Martin suy nghĩ thế nào. Mọi người đều hoang mang.
Chỉ còn ông. Ông phải về Sài Gòn cho mọi người biết rõ sự thật. Ông phải về
ngay!"
Đầu óc tôi bắt đầu tỉnh táo hơn. Giọng nói đầy vẻ thúc giục của người gọi đã
khiến tôi tập trung được tư tưởng phần nào. Đây là lần đầu tiên tôi nhận được
tin trực tiếp của Sài Gòn. Khi ký giả Shaplen gác điện thoại, tôi đã hoàn toàn
tỉnh táo. Tôi tin là nhận định của ông ta hoàn toàn chuẩn xác. Người ký giả lão
thành chuyên tường trình các mục Viễn Đông của báo New Yorker là người hiểu biết
và có nhận định chính xác. Ông không phải là người hấp tấp, hay bi thảm hóa vấn
đề. Nếu không phải vì tình trạng bắt buộc thì chắc chắn ông đã không gọi tôi.
Tôi vẫn còn nghe âm hưởng gấp gáp, giục dã trong giọng ông ta.
Tuy đã 2 giờ sáng ở Hoa Thịnh Đốn mà khi trở về giường tôi vẫn không tài nào chợp
được mắt. Thật ra thì trong suốt tuần vừa qua, tôi đã suy nghĩ rất nhiều về vấn
đề cần phải trở về Việt Nam. Tôi còn đang phân vân không biết có nên về hay
không thì đột nhiên bị cúm nặng. Trong khi đó thì ở Sài Gòn những cơn hoảng hốt
lại bùng ra thật bất ngờ. Những cơn hoảng hốt đó đã khiến quân đội Việt Nam mất
tinh thần và trở thành hỗn loạn. Vào giờ phút này thì chẳng ai có thể đoán được
liệu Sài Gòn còn có thể đứng vững được bao lâu nữa. Đầu óc tôi lại miên man
nghĩ về vấn đề cần phải trở về Việt Nam. Tôi tự hỏi phải chăng trở về lúc này
không còn kịp nữa? Việt Cộng đã đến sát Sài Gòn và hẳn nhiên là tôi đã đoán trước
được số phận của mình nếu chẳng may bị lọt vào tay đối phương.
Ba tuần trước, ông Thiệu gửi tôi sang thủ đô Hoa Kỳ, nơi tôi đã trú ngụ suốt từ
năm 1967 tới năm 1972 khi phục vụ với chức vụ đại sứ Việt Nam. Kể từ năm 1973,
khi tôi bắt đầu làm Đại Sứ Lưu Động thì Hoa Thịnh Đốn cũng là một trong những
nơi tôi thường xuyên lui tới. Lần này chuyến đi của tôi nhằm mục đích thuyết phục
quốc hội Hoa Kỳ thông qua số tiền viện trợ khẩn cấp 700 triệu đô la đang bị trì
hoãn. Số tiền viện trợ đó sẽ được dùng vào việc mua thêm đạn dược và tiếp liệu
cho quân đội Việt Nam. Lúc này, trước cơn thác của những sư đoàn Bắc quân tràn
vào Miền Nam với tốc độ mỗi thành phố một ngày, quân đội Việt Nam đang hoang
mang vì thiếu thốn quân cụ.
Nhưng giờ là 14 tháng tư. Tôi chẳng còn gì để làm ở Hoa Thịnh Đốn. Ở vào giây
phút khẩn cấp, khi Việt Nam đang trong vòng hiểm họa gian nguy, những nỗ lực của
tôi từ trước đến nay gần như hoàn toàn vô dụng. Tôi đã kêu gọi đến gần như tất
cả bạn bè và đồng nghiệp cũ của tôi để nhờ họ giúp đỡ mà vẫn thất bại. Tuy tôi
đã phục vụ ở Hoa Kỳ trong suốt 7 năm mà những sự liên hệ của tôi với Hoa Kỳ
trong quá khứ vẫn chẳng giúp tôi thuyết phục được quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo
luật viện trợ khẩn cấp cho Việt Nam.
Vào lúc này, những biến chuyển ở Việt Nam đang dồn dập trong giai đoạn chót. Đã
đến lúc tôi phải về. Mẹ tôi, 90 tuổi vẫn ở Sài Gòn cùng người chị ruột. Tôi phải
cố đưa hai người cùng đi. Hơn nữa, ngoài việc phải trở về Việt Nam để gặp gia
đình, tôi cũng muốn về để còn được thấy Việt Nam lần cuối. Đã ba mươi năm qua,
cuộc sống của tôi cũng như cuộc sống của bao nhiêu người khác đã đi đôi với sự
thăng trầm của chính trường Việt Nam nói chung, hoặc của Sài Gòn nói riêng.
Trong suốt ba mươi năm đó, có lẽ không lúc nào là lúc tôi không tham gia vào
các hoạt động chính trị. Trong tất cả mọi giai đoạn, nếu tôi không trực tiếp
tham gia cộng tác với chính phủ thì cũng là tham gia vào những đoàn thể đối lập
chống lại chính phủ. Lúc này tuy Sài Gòn đang lúc nguy kịch, nhưng tôi cho rằng
Sài Gòn vẫn là chỗ của tôi. Nào ai biết trước được, có thể tôi vẫn còn cứu gỡ
được phần nào như lời Shaplen. Và dù rằng chẳng giúp đỡ gì được thì về vẫn hơn
là ở đây làm một ông đại sứ lạc loài của một quốc gia đang hấp hối, nằm bẹp dí ở
Hoa Thịnh Đốn xem tin tức về giai đoạn kết thúc ở nước mình.
Hôm sau tôi vẫn giữ hẹn ăn trưa ở quán Empress với ông Ted Shackley, Trưởng
phòng Tình Báo Viễn Đông của CIA. Shackley vừa mới từ Việt Nam trở về sau một sứ
vụ đặc biệt dưới chỉ thị của Tổng Thống Ford. Vì nghĩ rằng Trưởng Phòng
Shackley có nhiều tin tức nên tôi muốn gặp ông để tìm hiểu thêm về tình hình Việt
Nam trước khi về. Lời Shackley đầy vẻ ảm đạm. Sài Gòn đang nguy và ngày càng
nguy hơn. Ông Thiệu hoàn toàn cô thế, và chẳng còn đủ sáng suốt để đối phó với
tình hình. Trong cuộc gặp gỡ vừa qua với Trưởng Phòng Shackley và ông Federick
Weyand, Tư lệnh quân lực Hoa Kỳ ở Việt Nam, ông Thiệu không còn đủ tâm trí để
phân tích hoặc đàm luận nữa. Ông Thiệu đang chới với vì tầm mức lớn lao của sự
đổ vỡ.
Sáng hôm sau, tôi chuẩn bị về Sài Gòn và định rằng trên đường đi sẽ ghé Hồng
Kông để nói chuyện với ký giả Shaplen. Tôi chia tay nhà tôi và ba con ở phi trường
Washington 's National. Các con tôi lúc đó vẫn còn nhỏ: Lưu, 24; Giao, 20; và
Hân, mới tám tuổi, hãy còn quá bé chưa hiểu rõ được sự tình nhưng có lẽ đã đủ
khôn để cảm thấy những sự khác biệt trong lần đưa tiễn này. Nhà tôi tuy lo
nhưng cũng như mọi lần, cố gắng trấn tĩnh để chồng khỏi bận tâm. Mặc dù nhà tôi
biết rằng chuyến về Việt Nam của tôi vô cùng nguy hiểm, nhưng nhà tôi cũng hiểu
nếu không trở lại Việt Nam lần này thì tôi sẽ phải hối hận suốt đời.
Chuyến bay phản lực Pan Am tiến dần về hướng Tây trong khi tôi chập chờn, kiệt
lực cả về tinh thần lẫn thể xác, chỉ nhớ lờ mờ rằng chuyến bay có ghé San
Francisco và Honolulu. Hai mươi bốn giờ sau tôi xuống máy bay tại phi trường
Kai Tak ở Hồng Kông rồi lập tức đến thẳng nơi Shaplen cư ngụ. Khi tôi đến nơi
thì trời đã về chiều. Đêm đó, tôi ngồi đến khuya nghe kể chuyện hỗn mang ở Việt
Nam. "Ở Sài Gòn chẳng ai biết rõ tình hình, nhất là về ý định của Hoa Kỳ.
Tình trạng thật là khẩn trương. Tuy vậy mọi người vẫn cố bám vào những ảo tưởng
về việc Hoa Kỳ sẽ viện trợ hoặc sẽ có một Giải Pháp Dung Hòa nào đó."
Theo lời ký giả Shaplen thì có đến cả hàng triệu tin đồn. Người ta tin rằng Hoa
Kỳ không thể khoanh tay đứng nhìn một đồng minh trong suốt hai mươi năm gục ngã
trước mũi dùi của Cộng quân đang được tập đoàn Sô Viết đứng sau làm hậu thuẫn.
Có lẽ Hoa Kỳ sẽ có cách gỡ rối. Các đội B-52 đang được lịnh bay đến đập tan các
sư đoàn Bắc Quân đang hành quân vào Nam một cách lộ liễu. Thủy Quân Lục Chiến
Hoa Kỳ đang sửa soạn đổ bộ vào vùng đồng bằng Cửu Long để bảo vệ những khu vực
sản xuất lúa gạo chính cần thiết cho nền kinh tế của Việt Nam. Ngoại Trưởng
Kissinger đang đàm phán về việc phân chia lãnh thổ, cố thuyết phục cộng sản nhượng
những tỉnh chính để đổi lại những viện trợ kinh tế khổng lồ. Đây mới chỉ là một
trong vài câu chuyện đồn đãi, những tin đồn không những đã làm mất tinh thần dân
chúng mà còn làm lung lạc cả tinh thần chính phủ trong lúc chính quyền đã trở
nên mù quáng, tê liệt và bám víu vào ảo ảnh. Shaplen kết luận: "Họ cần phải
biết sự thật, vì thế ông phải về."
Tôi trả lời: "Sự thật là: Đối với Hoa Kỳ, trận chiến này coi như đã kết liễu."
Shaplen nhìn tôi chăm chăm, buông giọng: "Nếu vậy thì ông phải nói rõ cho
họ biết."
Hôm sau, 17 tháng 4-1975, tôi có mặt trên chuyến bay Air France về Sài Gòn. Máy
bay đáp xuống Tân Sơn Nhất vào khoảng bốn giờ trưa. Khung cảnh yên tĩnh nhất thời
của phi trường làm tôi ngạc nhiên. Khi nghe lời tường thuật của Shaplen tôi đã
chờ đón trước những khung cảnh hoàn toàn hỗn loạn. Tôi nhìn quanh và rồi bất chợt
nhìn thấy một đám đông đang xoay quanh chỗ khu vực cấm của phi đạo, chờ đợi những
chuyến bay đặc nghịt người sắp sửa ra đi. Khung cảnh bên ngoài phi trường còn
khác thường hơn. Đường rời phi trường thật vắng. Trong khi đó thì ở tất cả những
con đường dẫn đến phi trường xe cộ lại từng hàng ứ nghẽn. Dường như cả Sài Gòn
đang di tản ra sân bay. Xe cộ sắp hàng như thắt nút. Hàng đoàn xe nối đuôi theo
nhau chậm chạp nhích dần về hướng phi trường.
Ở Sài Gòn, triệu chứng độc nhất chứng tỏ dân chúng đã biết về những cơn sóng
gió sắp đến chỉ là những tiếng xì xào bàn tán ở các đám đông tụ họp trên đường
phố. Vẻ căng thẳng, âu lo hiện rõ trên từng khuôn mặt. Mọi sinh hoạt ồn ào hàng
ngày đã mất. Trên tất cả mọi khuôn mặt dường như chỉ có những nét cương quyết,
quả cảm của những người có quá nhiều việc cần làm trong một thời gian gấp rút.
Hôm đó, tin tức loan báo rằng Việt Cộng đã chiếm được Phan Rang và chỉ còn cách
Sài Gòn khoảng hơn 300 cây số.
Tôi trở về căn nhà thuê ở đường Nguyễn Huệ để gặp mẹ và chị tôi. Khi thấy tôi về,
mẹ và chị tôi hết sức vui mừng. Cơn khủng hoảng ngày càng tăng đã khiến cả hai
phải lo âu khắc khoải không biết phải làm gì.
Sau khi chào hỏi và trấn an gia đình rằng tôi sẽ có cách lo toan mọi chuyện,
tôi gọi điện thoại vào Phủ Tổng Thống để xin gặp ông Thiệu. Chánh văn phòng Phủ
Tổng Thống lúc bấy giờ là Đại Tá Võ Văn Cầm trả lời rằng ông sẽ lập tức cho tổng
thống biết tôi đã ở Sài Gòn và sẽ gọi lại cho tôi ngay. Vài phút sau, ông Cầm gọi
tôi để nhắn lại lời ông Thiệu: "Tổng Thống rất bận rộn và đang dao động vì
mất Phan Rang. Tổng thống nhắn rằng xin ông đại sứ gặp Thủ Tướng trước rồi Tổng
Thống sẽ tiếp ông đại sứ sau."
Lời nhắn tin cho thấy rõ ràng tình trạng đang khẩn trương đến độ nào. Chính ông
Thiệu đã gửi tôi làm đại diện ở Hoa Kỳ. Lúc này tôi vừa trở lại và đương nhiên
tôi là nguồn tin độc nhất mà ông Thiệu mong mỏi. Thường thường mỗi khi tôi đi
công du trở về thì ông Thiệu vẫn thường gặp tôi ngay. Vậy mà lần này, trong lúc
tình hình đang khẩn cấp thì thay vì gặp tôi, ông Thiệu lại muốn tôi gặp thủ tướng
Nguyễn Bá Cẩn, một người mà từ trước tới nay ông vẫn có ý xem thường. Tôi nhớ lại
lời Shackley và lời Shaplen: Ông Thiệu đang "chới với," đang "mất
hết sáng suốt". Ông Thiệu (Và luôn cả đại sứ Graham Martin) "đang cắt
đứt hết mọi liên lạc và không tiếp ai cả." Tôi tự hỏi: "Vậy thì ai,
là người đứng ra điều hành mọi chuyện?" Lần họp cuối giữa tôi với ông Thiệu
trước khi tôi lên đường sang Hoa Kỳ là vào khoảng trung tuần tháng ba. Kể từ
ngày đó cho tới nay thì thời gian mới chỉ ba tuần. Nếu so sánh khung cảnh của
Sài Gòn vào lúc tôi mới vừa trở về và khung cảnh của Sài Gòn ba tuần về trước
thì có lẽ chẳng ai có thể tin được mức độ dồn dập của các biến cố đã xảy ra ở
Sài Gòn.
* * * * *
Ngày 11 tháng 3 năm 1975 có lẽ chính là thời điểm khởi đầu của giai đoạn kết
thúc, tuy rằng biến cố đánh dấu giai đoạn này vẫn chưa lấy gì làm rõ ràng hoặc
đậm nét. Hôm đó, Ban Mê Thuật đã bất thần bị ba sư đoàn Bắc Quân đánh chiếm. Thật
ra Ban Mê Thuật chỉ được bảo vệ rất sơ sài. Tuy Việt Cộng đã chiếm được Ban Mê
Thuật rồi mà ở Sài Gòn vẫn chưa có cơn hoảng hốt nào rõ rệt. Ban Mê Thuật là một
tổn thất đáng kể nhưng không phải là một mất mát có tính cách sinh tử. Đã có lần
Việt Nam phản công tái chiếm những thành phố lớn hơn -như Huế hồi Tết Mậu Thân
năm 1968, Quảng Trị hồi mùa hè đỏ lửa 1972.
Khi Ban Mê Thuật thất thủ thì tôi vừa từ Tân Đề Li trở về sau một chuyến công
du Ngoại Giao. Đây là một trong những chuyến công du nằm trong hành trình Đại sứ
Lưu Động của Việt Nam. Chức vụ đại sứ lưu động là một chức vụ ngoại giao nhằm mục
đích biểu dương hình ảnh Việt Nam, nối kết các mối bang giao và tìm viện trợ ở
Đông Nam Á, Ấn, Pháp hoặc bất kỳ nơi nào có thể ủng hộ cho Việt Nam.
Vào ngày 15 tháng 3 ông Thiệu đã ngỏ ý mời tôi vào để chuẩn bị cho một chuyến
công du Hoa Kỳ kế tiếp. Lần này thì chuyến công du của tôi khẩn thiết hơn vì
Ban Mê Thuật đã thất thủ và cuộc tấn công của Bắc Quân đang lan rộng khắp nơi.
Tôi được mời cộng tác với chính quyền ông Kỳ vào năm 1965, ngay sau khi làm Đổng
Lý Văn Phòng cho bác sĩ Phan Huy Quát, vị thủ tướng dân sự cuối cùng của Việt
Nam. Khi ông Kỳ ngỏ lời mời tôi tham gia chính phủ. Tôi đã suy nghĩ rất nhiều.
Chính bản thân tôi cũng rất nghi ngờ sự thực tâm của các tướng lãnh khi họ mời
tôi cộng tác. Kinh nghiệm chính trị của tôi là kinh nghiệm chính trị của một
người phục vụ trong một chính phủ dân sự có quan niệm chính trị khác hẳn với
quan niệm của một chánh phủ quân nhân. Và chính chánh phủ đó lại vừa mới sụp đổ.
Thực ra thì ngay sau khi chánh phủ dân sự của ông Quát sụp đổ tôi đã kết luận
ngay rằng: Đã đến lúc tôi nên cho sự nghiệp chính trị của tôi lùi vào quá khứ.
Lúc đó, tôi không hề nghĩ gì về việc tham gia hoặc cộng tác với chính quyền mới.
Ngược lại, tôi chỉ mong được trở lại để sống mộc cuộc sống bình thường và làm
chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ Saigon Post. Nhưng chính bác sĩ Quát là người thúc dục
tôi nhận lời. Hơn nữa, tôi cũng biết rằng đối với một chánh phủ quân nhân thì vấn
đề cần phải giữ một đại biểu dân sự trong chính quyền là một việc tối cần, nhất
là khi Việt Nam đang phải giao dịch với Hoa Kỳ. Trong sự giao dịch đó, tôi cho
rằng chính phủ Việt Nam cần có sự đóng góp của tất cả các thành phần quốc gia.
Trước đây, khi còn phục vụ trong chánh phủ của bác sĩ Quát, vì là nhân viên đứng
giữa liên lạc nội các của bác sĩ Quát và Hoa Kỳ nên dầu muốn, dầu không tôi đã
phải giữ mối giao hảo với các nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ, chẳng hạn như đại sứ
Maxwell Taylor và phó đại sứ Alexis Johnson. Bởi vậy các tướng lãnh thấy rằng
kinh nghiệm giao dịch của tôi có thể giúp họ phần nào khi họ phải hợp tác với
Hoa Kỳ.
Việc các tướng lãnh quyết định mời tôi tham gia cộng tác với chính phủ là một bằng
chứng cho thấy rằng tôi thật sự có dịp để phát biểu ý kiến trong chính quyền mới.
Vả lại, tôi có thể từ chức bất cứ lúc nào. Tôi nhận lời một phần vì tin tưởng rằng
cho dù có tham gia chính phủ, tôi vẫn có quyền phát biểu ý kiến của tôi một cách
tự do hoặc từ chức bất kỳ lúc nào tôi muốn. Hơn nữa, nếu không ra cộng tác, tôi
khó thể tránh tiếng rằng tôi đã đặt quyền lợi và tiếng tăm của cá nhân lên trên
quyền lợi của đất nước.
Nói cho cùng thì tuy tôi đã nhận lời cộng tác với chính phủ Thiệu-Kỳ, nhưng những
liên hệ giữa tôi, ông Thiệu và ông Kỳ vẫn chưa bao giờ vượt quá những khuôn khổ
giao thiệp bình thường để trở thành thân mật. Khi nhìn lại sự liên hệ giữa tôi
và ông Thiệu trong quá khứ tôi vẫn nhiều lần thắc mắc chẳng hiểu tại sao sự
liên hệ khác thường giữa tôi và ông Thiệu lại có thể tiếp tục lâu dài đến thế?
Đã nhiều năm qua tôi liên tục chỉ trích chánh quyền ông Thiệu và riêng ông Thiệu
thì đã có tiếng là người không thích nghe chỉ trích, nhất là khi những chỉ
trích của tôi lại toàn nhằm vào những vấn đề ông Thiệu không hề nhượng bộ ai
bao giờ. Chẳng hạn như những chỉ trích về vấn đề đoàn kết các tầng lớp quốc
dân. Trong các cuộc bàn luận với ông Thiệu tôi vẫn thường nói rằng ông Thiệu cần
phải cải tổ chính phủ để loại trừ bớt những nhân viên bất tài và thiếu khả
năng. Tôi đưa ý kiến rằng ông Thiệu cần phải mời những đại biểu từ khắp cả các
tầng lớp quốc dân, kể cả những đại biểu của các nhóm đối lập thì mới có thể
phát huy được hết tiềm năng của quốc gia và đối chọi hữu hiệu được với cộng sản.
Thật sự thì ông Thiệu cũng không hẳn hoàn toàn mù quáng về những nhược điểm của
chánh phủ. Sau những buổi họp vô vị và dai dẳng của chính phủ mà ông tham dự, nỗi
thất vọng của ông thường bùng ra. Mỗi khi những cuộc họp đó kết thúc, ông Thiệu
vẫn thường cau có: "Anh coi đó! Thật chẳng ra làm sao cả!"
Những lúc đó là những lúc tôi đưa lời chỉ trích: "Như tôi đã nói với tổng
thống, tổng thống cần thay đổi chánh phủ." Nhưng khi cuộc bàn cãi tiến tới
chỗ găng hơn thì phản ứng cố hữu của ông Thiệu lại y như cũ. "Để coi, tôi
sẽ suy nghĩ lại." Kết cục sự trì hoãn và bản tính lưỡng lự cố hữu của ông
vẫn thắng. Mặc dù hiểu tường tận tầm mức cấp thiết của việc phải cải tổ, ông
Thiệu vẫn rơi vào tình trạng mãi mãi đợi chờ, mãi mãi nghi ngờ để rồi chẳng bao
giờ có hành động nào thiết thực cả.
Ngày 15-3, ông Thiệu lâm vào tình thế chính trị nan giải. Vào lúc này, khi Bắc
quân đang phát động tấn công gia tăng ngày càng ráo riết thì vấn đề viện trợ
cho quân đội Việt Nam trở thành vô cùng cấp thiết. Lúc ông Thiệu cho vời tôi
cũng chính là lúc tôi dự định sẽ dùng tất cả quyền lực để làm áp lực với ông
Thiệu. Vào ngày 15-3-74, trước khi đến gặp ông Thiệu, tôi nói rằng: Chắc chắn
tôi sẽ đến gặp tổng thống, nhưng tôi yêu cầu được phép mang hai người nữa đi
cùng: Cựu Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ, nguyên là một trong những bạn thân của tôi
và ông Trần Quốc Bửu, Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Lao Công. Cả hai đều là những
chính trị gia tháo vát và đều không phải là nhân viên của chánh phủ Việt Nam
lúc đó. Khi yêu cầu được mang hai người này đi cùng, ý kiến của tôi về vấn đề cần
phải đoàn kết tất cả các thành phần quốc gia trong mọi tầng lớp quốc dân đã trở
nên quá rõ.
Lúc Chánh văn phòng Phủ Tổng Thống gọi tôi nhắn rằng tổng thống vui lòng gặp cả
ba, tôi biết mình đang đứng ở vị thế phải làm áp lực hết sức. Tôi dự định hết sức
nhấn mạnh sự quan trọng của ý kiến dư luận Hoa Kỳ. Tôi muốn nói rõ ảnh hưởng của
dư luận đối với quốc hội Hoa Kỳ về vấn đề viện trợ cho Việt Nam.
Qua những buổi thuyết trình của tôi và nhiều nhân viên khác, ông Thiệu đã biết
từ nhiều năm trước rằng ở Hoa Kỳ ông bị coi là một lãnh tụ quân phiệt và độc
tài. Thật sự thì một trong những thất vọng lớn nhất của tôi là việc tôi chẳng
thể giải thích cho ông Thiệu hiểu rõ nổi những bất lợi do ấn tượng xấu xa này
gây ra. Trong các cuộc thuyết trình, lúc nào ông Thiệu cũng coi thường những dư
luận của Hoa Kỳ. Lúc nào ông cũng quyết đoán rằng những lời chỉ trích của dư luận
Hoa Kỳ chẳng qua chỉ là những vấn đề "bị thổi phồng" và "hoàn
toàn vô căn cứ." Những lúc đó tôi thường cực lực lên tiếng rằng: "Nếu
tổng thống còn cần viện trợ của họ thì tổng thống phải coi trọng ý kiến của họ.
Chỉ khi nào tổng thống không cần họ nữa thì lúc đó tổng thống mới có quyền xem
ý kiến của họ là đồ vứt đi."
Lúc này thì tất nhiên là chánh phủ Việt Nam đang cần viện trợ. Thất thủ Ban Mê
Thuật là một thúc đẩy cấp thiết. Có thêm hai người bạn là cụ Đỗ và ông Bửu tăng
cường bên cạnh, tôi đã dành gần hết 5 tiếng đồng hồ nhấn mạnh tầm mức cấp thiết
của việc phải lập một chánh phủ hoàn toàn có tính cách đại diện cho mọi tầng lớp
dân chúng. Ở ngay cả giờ phút đó, nếu ông Thiệu chịu cải tổ chính phủ thì sự
thay đổi này vẫn có thể khiến quốc hội Hoa Kỳ thay đổi ý kiến về vấn đề viện trợ
cho Việt Nam. Và cho dù sự cải tổ của ông Thiệu có không thay đổi được ý kiến của
quốc hội Hoa Kỳ thì ít ra thì sự thay đổi này cũng sẽ cổ võ được tinh thần quốc
dân trong việc chống lại Cộng sản. Cuộc bàn cãi của tôi với ông Thiệu căng thẳng
đến độ về sau có lời đồn đại (như lời tường thuật sau này của nhân viên CIA
Frank Snepp) là tôi đã yêu cầu ông Thiệu từ chức. Sự thật không đúng hẳn. Mặc
dù tôi chưa hề đòi hỏi ông Thiệu từ chức nhưng ngoài chuyện này ra có lẽ tôi đã
làm tất cả mọi việc có thể làm ở cương vị tôi.
Cho đến lúc đó mà ông Thiệu vẫn không chịu nghe tôi. Mặc dù ông đồng ý với
chúng tôi là cần có sự thay đổi trong guồng máy chính quyền. Mặc dù ông đã yêu
cầu chúng tôi đưa ra những "phương pháp cụ thể" để tiến hành. Tôi biết
ông vẫn ngấm ngầm tìm cách trì hoãn, hứa hẹn như những lần trước đây và vẫn chẳng
hề có chủ định nào rõ rệt. Ngay cả khi đã cùng đường ông Thiệu vẫn chứng tỏ là
con người đã mù quáng vì quyền thế, không còn đủ khả năng để hiểu rõ nhu cầu
thiết yếu của quốc dân và những nhu cầu thiết yếu của đồng minh, mặc dù đây là
một đồng minh có liên quan đến sự sinh tồn của chính chánh quyền ông Thiệu.
Ngày 22-3 tôi đến Hoa Thịnh Đốn vừa lúc thành phố bắt đầu rạng rỡ sinh động
trong buổi chớm xuân. Tuy vậy, những nụ Azalea, nụ Dogwood và nụ Anh Đào vẫn chẳng
làm giảm bớt được nỗi lo âu trĩu nặng tim tôi. Khi ghé qua Ba Lê tôi đã nghe về
cuộc triệt thoái cao nguyên. Thay vì cố gắng củng cố các đội quân ở Ban Mê Thuật
sau khi Ban Mê Thuật thất thủ thì ông Thiệu lại hạ lệnh rút lui về mé biển. Vì
những đại lộ chính đã bị cắt ngang, quân đội Việt Nam bị buộc phải dùng những
con lộ phụ hiểm hóc trong chuyến triệt thoái. Giữa rừng già cao nguyên, những
toán quân triệt thoái đã bị chia cắt và tiêu diệt. Lúc này quân đội Bắc Việt
đang tấn công cả đại lộ dọc theo bờ biển, cô lập những thành phố chính như Huế
và Đà Nẵng. Một chiến thắng xoàng xĩnh, địa phương bỗng nhiên lan rộng thành một
biến cố đủ sức gây hoảng hốt trong quân đội. Thảm kịch diễn ra ở Việt Nam đã
khiến 700 triệu đô la trợ cấp, nguyên là mục tiêu cho chuyến đi của tôi thành một
thứ viện trợ khẩn cấp liên hệ đến sự sinh tồn của Việt Nam.
Những tiến trình tuần tự về sau cho thấy màn đầu của tấn thảm kịch kết liễu Việt
Nam đang được vén dần lên trong các sảnh đường quốc hội Hoa Kỳ. Những kinh nghiệm
thâm niên trong ngành đã khiến tôi thuộc nằm lòng tất cả các phương thức vận động
quốc hội. Tôi biết rõ cả chi tiết trong từng giai đoạn. Đầu tiên thì tôi phải
theo dõi tất cả những cuộc họp ở Tòa Bạch Ốc, ở Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, ở Bộ
Ngoại Giao và ở Ngũ Giác Đài. Khi những cuộc họp đó kết thúc, tôi sẽ phải họp
riêng với ký giả về vấn đề Việt Nam và tìm cách để thuyết phục quốc hội. Cuối
cùng, khi đã biết rõ lập trường của các dân biểu và Thượng Nghị Sĩ tôi mới chuẩn
bị sẵn sàng để đối phó. Thường thì tôi cố vận động để nâng cao tinh thần những
người có cảm tình với mình và lên tiếng kêu gọi những người chỉ trích hãy suy
nghĩ lại.
Tôi đến Hoa Thịnh Đốn được một ngày thì Huế, kinh thành đại nội cổ kính đã bị cắt
đứt. Hàng trăm ngàn dân tản cư đổ xô về phía Nam dọc theo những con đường chạy
sát biển về Đà Nẵng cố trốn mũi dùi Bắc Việt. Ở Hoa Thịnh Đốn, quốc hội Hoa Kỳ
lúc đó đang nghỉ nhóm 10 ngày. Ngoại Trưởng Kissinger đã lên đường đàm phán ngoại
giao Trung Đông và tổng thống Gerald Ford đang nghỉ mát ở Vail, Colorado.
Cũng trong hôm đó tôi đến gặp ông Philip Habib, Phụ Tá Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Đặc
Trách Viễn Đông Sự Vụ. Tôi biết ông Philip đã ngót một thập niên, từ khi ông
còn là cố vấn Bộ Trưởng ở Sài Gòn năm 1965. Ông Habib vừa là một nhà ngoại giao
thẳng thắn, chuyên nghiệp lại vừa là người bộc trực, can đảm và thành thật đôi
khi đến tàn nhẫn. Vừa gặp tôi, ông Habib đã đi thẳng vào vấn đề: "Lúc này
Tổng Thống Ford đang bị Đạo Luật về Quyền Hạn Chiến Tranh trói chặt và hoàn
toàn bất lực... Tôi không biết Tổng Thống phải làm thế nào để có thể vượt ra khỏi
vòng kềm tỏa của quốc hội... Chúng ta phải ráng tìm cách trình bày để quốc hội
có thể thấy rõ tình trạng khẩn cấp của Việt Nam..."
Tuy ông Habib có vẻ bộc trực và bi quan, những nhận xét của ông vẫn chưa thấm
tháp vào đâu so với những nhận xét của nghị sĩ George Aiken. Ông George Aiken
là nghị sĩ của tiểu bang Vermont và cũng là đường giây liên lạc chặt chẽ giữa
tôi và quốc hội. Tuy là một nghị sĩ của đảng Cộng Hòa, nghị sĩ Aiken cũng là bạn
thân của lãnh tụ đa số Thượng Viện Mike Mansfield. Thượng Nghị Sĩ Mansfield vốn
nổi tiếng là một nghị sĩ phản chiến. Thông thường thì những nhận xét về thế đứng
quốc hội của nghị sĩ Aiken lúc nào cũng rất sắc bén. Khi tôi đến gặp ông ta ở
văn phòng riêng, ông đã nhận định rằng: "Tình thế rất là ảm đạm." Lúc
tìm đến các nghị sĩ khác tôi có cảm giác là ngay cả bạn bè cũng cố tránh gặp
tôi. Nếu bị buộc phải nhìn thẳng mặt tôi thì họ cũng chỉ nhìn với vẻ miễn cưỡng,
khó khăn.
Ngày 30-3, Đà Nẵng, một thị xã nằm khoảng non 200 cây số về phía Nam của Huế và
là một thành phố lớn hàng thứ hai của Miền Nam bị một lực lượng 35 ngàn quân Bắc
Việt tiến chiếm. Đêm đó màn ảnh truyền hình đầy những cảnh tượng hãi hùng: Phụ
nữ và trẻ em bị dày xéo trong đám đông hỗn loạn. Dân, quân đạp lên nhau cố vượt
ra khỏi vòng vây khổng lồ đang thắt dần lấy thành phố. Một triệu dân tản cư
tràn ngập đường phố dẫn về Nam.
Lúc này đường liên lạc giữa tòa đại sứ ở Hoa Thịnh Đốn và Sài Gòn đã bị cắt đứt
hoàn toàn. Chúng tôi không còn liên lạc được với ông Thiệu nữa. Mặc dù đã gửi
liên tiếp hàng loạt điện tín, chúng tôi vẫn không nhận được trả lời. Dường như
đã có một bức màn vô hình chụp xuống, cắt lìa Sài Gòn với thế giới bên ngoài, với
những người như chúng tôi. Hàng đêm chúng tôi ngồi lịm trước máy truyền hình
bàng hoàng nhìn những thành phố, quận lị theo nhau lần lượt bị xoá tên trên bản
đồ Việt Nam. Mỗi ngày ông Trần Kim Phượng, người đã thay thế tôi giữ chức vụ đại
sứ Việt Nam ở Hoa Kỳ từ năm 1972, và tôi đều phác họa thời khắc cho những cuộc
điện đàm, những buổi họp, làm đi làm lại những bước mà càng ngày cả hai càng tin
là hoàn toàn vô hiệu. Và khi ngày đã tắt, cả hai đều phờ phạc vì kiệt sức,
không nhớ nổi lấy một điều về những việc đã làm. Ở mười ngàn dặm xa, đất nước
đang chết dần và chúng tôi hoàn toàn bất lực.
Cuối tháng 3, một tia hy vọng bỗng loé lên khi tổng thống Ford thình lình gửi
đi một phái đoàn chuyên viên sang Việt Nam để lượng định tình hình. Những người
được gửi đi bao gồm Tư Lệnh quân sự Frederick Weyand, Trưởng Phòng Tình Báo Viễn
Đông Ted Shackley và Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng Đặc Trách Quân Nhu Erich von
Marbot. Những nhân viên này được phái sang Việt Nam để có thể đích thân thị sát
tình hình và chuyển lời đề nghị viện trợ nếu đây quả là vấn đề cấp thiết. Ngày
9-4 tôi đến gặp Tư Lệnh Weyand ngay khi ông vừa trở lại. Mặc dầu bi quan, tướng
Weyand vẫn cho rằng quân đội Việt Nam hãy còn cơ hội tập trung để chỉnh đốn, kết
hợp và chống đỡ. Nếu viện trợ hãy còn kịp thời, ông ta hoàn toàn đồng ý việc quốc
hội hỏa tốc chấp thuận viện trợ.
Vào lúc này tất cả các lực lượng Cộng Sản Bắc Việt được trang bị với khối lượng
chiến cụ khổng lồ của Nga và Tàu đang trải rộng dần ra, tiến theo đội hình hàng
dài dọc theo mọi ngã đường. Trong suốt cuộc chiến chưa lúc nào những toán quân
Cộng Sản lại hành quân lộ liễu và có thể dễ bị máy bay tiêu diệt bằng lúc này.
Tại Xuân Lộc, vòng đai tự vệ phía ngoài của Sài Gòn, sư đoàn 18 của Việt Nam
đang chống trả dữ dội các cuộc tấn công ngày càng tăng của cộng sản. Lúc này,
chỉ cần các lực lượng không quân Hoa Kỳ can thiệp - Một giải pháp can thiệp mà
cả tổng thống Nixon lẫn ông Kissinger đã cam đoan thi hành hồi năm 1973- cũng đủ
để phá tan các lực lượng Cộng Sản Bắc Việt đang công khai hành quân và làm giảm
hiệu năng của quân đội cộng sản trong nhiều năm kế tiếp. Rồi từ đó, nếu được tiếp
tế quân nhu và quân cụ đầy đủ và được ủy lạo tinh thần, quân đội Việt Nam sẽ có
thể tái chiếm những vùng đã mất.
Ngay cả khi tăm tối đã bao trùm, ông Phượng và tôi vẫn cảm thấy điều này. Cả
hai chúng tôi đều biết rằng thời cơ hoàn toàn tùy thuộc vào lần họp sắp tới.
Tuy thế, quốc hội Hoa Kỳ lúc này lại là một quốc hội đã chán chường với chiến
tranh, đã mệt mỏi vì viện trợ cho một đồng minh đang bị rất nhiều dân biểu xem
là một chánh phủ của những thành phần bất tài và tham nhũng. Sau nhiều năm Hoa
Kỳ đổ mồ hôi và nước mắt vào Việt Nam, giờ đây chính những Dân Biểu và Thượng
Nghị Sĩ của Hoa Kỳ sẽ phải đi đến quyết định cuối cùng. Kinh nghiệm thực tế nghề
nghiệp đã buộc tôi phải hiểu rằng quốc hội Mỹ nhất định sẽ phải quyết định bằng
quan niệm của người Mỹ. Trong quyết định sắp tới về việc liệu có nên viện trợ
cho Việt Nam lúc này hay không, quốc hội Hoa Kỳ sẽ phải quyết định một trường hợp
thật là khó khăn. Những dân biểu bị buộc phải cân đo những lỗ lã về uy tín cũng
như vị trí chiến lược của Hoa Kỳ để đánh đổi với tiền của và xương máu mà Hoa Kỳ
đã đổ vào Việt Nam trên hai mươi năm. Vào giờ phút đó thì quốc hội Hoa Kỳ lý luận
rằng, nếu họ có gia tăng viện trợ cho Việt Nam đi chăng nữa thì vấn đề vẫn chỉ
là tạm kéo dài cơn hấp hối, thống khổ của Việt Nam mà thôi. Các Dân Biểu, Thượng
Nghị Sĩ Hoa Kỳ quyết định rằng quốc hội cần phải đưa ra một giải pháp thiết thực
và rồi kết luận: Nếu cùng lắm thì cũng đành phải kết thúc một chương sử Hoa Kỳ.
Tất cả kinh nghiệm chính trường đã dạy tôi chẳng những phải chờ đón quyết định
sắp tới của quốc hội Hoa Kỳ mà còn phải hiểu rõ lý do của quyết định đó để nhận
thấy quan niệm của những người đã tạo ra luật pháp ở Hoa Kỳ. Bởi thế nên tôi đã
cố gắng để hiểu rõ những lý do ảnh hưởng đến quyết định sắp tới của họ. Nhưng
trong tận cùng tâm khảm tôi biết rằng câu hỏi quan trọng nhất liên quan đến vấn
đề viện trợ thật sự chẳng liên quan gì đến uy tín Hoa Kỳ hay sự xứng đáng của
các lãnh tụ Việt Nam. Câu hỏi quan trọng nhất là câu hỏi về cuộc sống của 20
triệu nhân dân Việt Nam. Sau khi quốc hội quyết định về vấn đề viện trợ thì cuộc
sống của 20 triệu người dân Việt Nam, của con họ và cháu họ rồi sẽ ra sao? Đây
mới là câu hỏi quan trọng nhất. Nhưng câu hỏi này không phải là một trong những
yếu tố chính đưa đến quyết định cuối cùng của quốc hội Mỹ. Vì lẽ đó tôi không
thể chịu đựng được những nỗi uất ức đè nén khi Việt Nam phải chấp nhận một bản
án bất công như bản án mà quốc hội Hoa Kỳ đã quyết định. Ở căn nhà riêng tại
Hoa Thịnh Đốn tôi đã không thể cầm được nước mắt.
Tia hy vọng phù du về vấn đề Hoa Kỳ sẽ viện trợ cho Việt Nam tắt phụt sau khi
chuyến công du do Tư Lệnh quân sự Weyand dẫn đầu kết thúc vào ngày 11-4. Hai
ngày sau khi Tư Lệnh Weyand trở lại Hoa Kỳ thì đạo luật chấp thuận viện trợ đã
bị phủ quyết. Những người thực tế đã nhận định rằng đến lúc đó thì dù có phủ
quyết hay không việc cũng đã quá trễ. Nhưng đối với ông Phượng và tôi thì quyết
định phủ quyết chính là một con dấu phũ phàng công khai chấp nhận việc Hoa Kỳ bỏ
rơi đồng minh. Những người đang chiến đấu anh dũng ở Xuân Lộc và hàng triệu người
tản cư vào Miền Nam vẫn không hề hay biết Quốc Hội Hoa Kỳ đã tuyên bố bản án
khai tử Việt Nam ở Capitol Hill vào ngày 11-4-1975.
Kể từ khi tổng thống Johnson còn đương nhiệm tôi đã giữ chức vụ đại sứ. Tôi
cũng là người liên lạc chính giữa chánh quyền Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn. Sau 5
năm trải qua các hội nghị thượng đỉnh, qua Tết Mậu Thân, qua các trận đánh phối
hợp quân đội của Hoa Kỳ và Việt Nam ở Cam Bốt, qua trận tập kích mùa xuân cho tới
tháng 4- 1975, công việc của tôi lúc nào cũng đi đôi với những công tác có liên
quan đến quốc gia. Nhưng sau đạo luật khai tử Việt Nam cuối cùng ở Hoa Thịnh Đốn
thì vai trò của tôi kể như đã chấm dứt. Chẳng còn liên lạc được với chánh phủ,
chẳng còn việc gì để làm trong các sảnh đường quyền lực Hoa Kỳ, tôi trở lại với
gia đình ở căn nhà ngoại ô Hoa Thịnh Đốn để cùng nhà tôi và các con dán mắt vào
máy truyền hình, trước những tấn thảm kịch thôi miên trên màn ảnh.
Bỗng nhiên tôi nhớ lại một mùa nghỉ ngắn ngủi khoảng một năm về trước, khi cả
gia đình tôi có dịp quây quần ở bãi biển Nha Trang bên con nước trong xanh màu
lục biếc và những bờ cát mịn long lanh. Lần đó, khi nhìn bãi biển dịu dàng phơi
mình trên nắng tôi đã nghĩ rằng bất kể vì lý do gì nếu mảnh giang sơn gấm vóc
này mất đi thì niềm đau quả vô cùng tận. Những ký ức xa xăm khác tự dưng ồ ạt
ùa về như một cuốn phim quay chậm. Tôi thấy mình đứng trong ruộng lúa gần căn
nhà lúc ấu thời ở Miền Bắc vào những năm đầu của thập niên 1940, chăm chú nhìn
theo chiếc máy bay P-38 hai đuôi của Hoa Kỳ dội bom vào những vùng Nhật chiếm
đóng gần Hà Nội. Lần đó có lẽ là lần đầu tiên tôi mục kích Hoa Kỳ can thiệp vào
Việt Nam. Lúc này, tôi lại là chứng nhân đứng ngoài mục kích màn kết liễu của sự
can thiệp tôi đã mục kích lần đầu. Dầu muốn dầu không, cuộc đời tôi cũng đã nối
liền vào với những chuỗi biến cố chập chồng đã chuyển hướng quê hương từ điểm
ban đầu đến điểm hiện tại.
Bùi Diễm
